ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ HÀ
LÝ THUYẾT TRƢỜNG NGHĨA VÀ VIỆC PHÂN TÍCH VĂN BẢN THƠ
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 601410
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ VIỆT HÙNG
HÀ NỘI-2010
1
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo trong tổ Lý luận và phương pháp giảng dạy Khoa Ngữ Văn
Trung học phổ thông
THCS:
Trung học cơ sở
SGK:
Sách giáo khoa
PPDH:
Phương pháp dạy học
Nxb:
Nhà xuất bản
ĐHSP:
Đại học sư phạm
H:
Hà Nội
TC:
Tạp chí
1
2. Lịch sử nghiên cứu………………………………………….…....
4
3. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………...…
8
4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………
9
5. Mẫu khảo sát……………………………………………….…..…
9
6. Vấn đề nghiên cứu…………………………………………..……
9
7. Giả thuyết nghiên cứu………………………………………….....
9
8. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………
9
27
1.2. Cơ sở tâm lý và giáo dục học…………………………………
35
1.2.1. Cơ sở tâm lý tiếp nhận của học sinh THPT…………………
36
1.2.2. Phương pháp tiếp cận văn bản thơ của học sinh THPT……
45
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁCH DẠY VĂN
BẢN THƠ ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRƢỜNG NGHĨA……
57
2.1. Thực trạng việc phân tích văn bản thơ ở nhà trường THPT và
việc ứng dụng trường nghĩa vào việc phân tích văn bản thơ……
4
57
2.1.1. Thực trạng về việc phân tích văn bản thơ ở nhà trường THPT
57
87
3.1. Mục đích thực nghiệm………………………………………….
87
3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.....
87
3.3. Tổ chức thực nghiệm……………………………………......…
104
3.3.1. Địa bàn thực nghiệm ..………………………………………..
104
3.3.2. Cách thức tiến hành thực nghiệm…………………………….
105
3.3.3. Dạy thực nghiệm……………………………………………..
106
3.3.4. Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm……………………..
106
nội dung dạy học, giữa nhu cầu của người hoc và yêu cầu của người dạy
Dạy học văn cũng không nằm ngoài quỹ đạo ấy. Một trong những biểu
hiện của sự tích hợp trong bộ môn Ngữ văn là việc dạy phân môn Tiếng Việt
phải gắn kiến thức về ngôn ngữ với việc phân tích văn học và việc hình thành
các kiến thức, kỹ năng tạo lập văn bản. Phân môn tiếng việt giúp học sinh rèn
luyện việc phân tích, thẩm nhận từ ngữ, lựa chọn, trau dồi từ ngữ, phát triển
các kỹ năng đặt câu. Thực chất là những kiến thức, kỹ năng hữu ích cho việc
tiếp nhận văn bản( tăng cường kỹ năng đọc - hiểu văn bản) cũng như cho việc
tạo lập văn bản (tăng cường kỹ năng làm văn). Ngược lại, ở những giờ đọc –
hiểu về tác phẩm lại có giá trị cung cấp những từ ngữ mang giá trị biểu cảm
đặc sắc, có tác dụng rèn và phát triển ngôn ngữ. Vì vậy, mang lai cho người
học những lợi ích to lớn; mở rộng những kiến thức và kỹ năng phong phú, đa
dạng thích hợp với cuộc sống.
Dạy học theo tinh thần tích hợp ở nhà trường phổ thông đã trở nên thực
sự cần thiết nhằm tăng hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian. Dạy học tích
hợp gắn nội dung dạy kiến thức với nội dung rèn luyện kỹ năng, nội dung các
môn học hỗ trợ lẫn nhau, đơn vị kiến thức sau bao hàm những kiến thức kỹ
1
năng đã học trước nhưng ở mức cao hơn và sâu hơn theo nguyên tắc đồng tâm
và phát triển.
Tuy nhiên, dạy học theo hướng tích hợp ở THPT còn nhiều bất cập do
việc biên soạn mảng ngôn ngữ còn trống và lặp lại chương trình cấp dưới,
chưa có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mảng ngôn ngữ và văn học
1.2. Hơn nữa, khoa học hiện đại ngày càng mang tính liên ngành. Văn học và
ngôn ngữ lại là hai ngành khoa học có quan hệ ngày càng gắn bó chặt chẽ do
đối tượng của ngôn ngữ được mở rộng. Ngôn ngữ không chỉ được nghiên cứu
trong sự tồn tại mang tính hệ thống dưới dạng tĩnh mà ngôn ngữ được đặt
trong hoạt động hành chức ở trạng thái động. Vì vậỵ, việc vận dụng những
tâm, việc nghiên cứu đã đạt được những thành tựu quan trọng trong đó lý
thuyết như lý thuyết về trường nghĩa( trường từ vựng ngữ nghĩa) là đối tượng
được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu. Nghiên cứu trường nghĩa
(trường từ vựng ngữ nghĩa) sẽ làm sáng tỏ các mối quan hệ ngữ nghĩa của hệ
thống từ vựng. Đặc biệt, nếu đặt các từ của trường nghĩa trong hoạt động,
người nghiên cứu sẽ có điều kiện phát hiện ra quy luật chuyển hóa từ trạng
thái tĩnh sang trạng thái động, qua đó phát hiện ra các đặc điểm sử dụng của
từ ngữ.
1.4. Phân tích văn bản thơ trong chương trình THPT đã có rất nhiều cách tiếp
cận như tiếp cận từ thể loại, từ hệ thống thi pháp. Cùng với việc tiếp cận văn
bản từ các yếu tố ngoài văn bản thì việc tiếp cận văn bản thơ từ chính hệ
thống ngôn ngữ ( yếu tố nội tại của văn bản) trong mối quan hệ với các yếu tố
ngoài văn bản là một công việc hết sức quan trọng. Vì khi phân tích văn bản
thơ, ngoài những yếu tố cần tìm hiểu như: xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, thể
loại thì việc phân tích chính ngôn bản như câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu…là
hết sức cần thiết, đặc biệt là tìm ra nội dung cái được biểu đạt, mạch ngầm
văn bản đằng sau những câu chữ cụ thể.
Ngôn ngữ thơ, đặc biệt là thơ trữ tình nghiêng về biểu hiện với việc tổ
chức kép các lượng ngữ nghĩa vừa là một thử thách với người đọc, vừa là vẻ
đẹp độc đáo, thú vị của thứ ngôn ngữ “ý tại ngôn ngoại”.
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học văn ở nhà trường THPT, do thói quen
của lối dạy học cũ (tách rời các phân môn) và đặc biệt là việc phân tích văn
bản thơ theo lối cảm tính, tách rời từng yếu tố ngôn ngữ riêng biệt mà không
3
đặt trong một hệ thống gắn với chủ đề, đề tài nên việc phân tích đi chệch khỏi
mạch ngầm văn bản, địa hạt nội dung cái được biểu đạt mà tác giả muốn
truyền tải tới người đọc.
1.5. Ứng dụng lí thuyết trường nghĩa vào phân tích văn bản thơ không chỉ
mien phi
phi
giống nhau (từ kí hiệu học, ngôn ngữ học, lí luận văn học…) nhưng các công
trình đều coi tổ chức ngôn ngữ là trung tâm của thi pháp thơ.
Đặc biệt, là từ sự ra đời của chủ nghĩa cấu trúc ở những năm sáu mươi
của thế kỷ XX tại Pháp. Tư tưởng cấu trúc bắt đầu từ lý thuyết ngôn ngữ học
của F.de Saussure.Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học bắt nguồn từ chủ nghĩa
hình thức Nga, là sự vận dụng lý thuyết ngôn ngữ vào văn học với các đại
diện tiêu biểu như R.Jakobson,Iu.Tưnhanốp, Mucarốpxki. R.Jakobson đi tìm
các nguyên tắc tạo ra văn bản thơ làm nên “tính thơ”, “tính văn học” để phân
biệt văn bản văn học với phi văn học, mà tính văn học, tính thơ là do cách cấu
tạo chất liệu ngôn ngữ mà thành. Mục tiêu số một của thi pháp học cấu trúc là
tìm ra mô hình cấu trúc của văn bản, từ đó tìm cách để giaỉ mã văn bản. Lý
thuyết đọc của chủ nghĩa cấu trúc kết hợp với ký hiệu học nghệ thuật chú ý
thêm phần ngữ nghĩa học và dụng học, trong đó phương diện ý nghĩa, tạo
nghĩa đóng vai trò quan trọng. Mà nói đến ý nghĩa thì cấu trúc học phải mở ra,
biến đổi, chứ không khép kín, bất biến như trường phái hình thức Nga và phê
bình mới Anh, Mỹ quan niệm.
Chủ nghĩa cấu trúc ra đời có ảnh hưởng rất lớn tới việc nghiên cứu, giải
mã tác phẩm thơ. Mở ra nhiều hướng tiếp cận mới mang tính liên ngành cho
hai ngành khoa học ngôn ngữ và văn học.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay việc tiếp cận thơ ca từ góc độ ngôn ngữ
chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Ngoại trừ một số bài báo đăng rải rác
trên các tạp chí (“Ngôn ngữ thơ mới và ngôn ngữ thơ kháng chiến”-T.S Vũ
Duy Thông, Tạp chí ngôn ngữ số1/2001; “Một cách nói của ngôn ngữ thơ”Hồng Diệu, Tạp chí ngôn ngữ số3/2001, “Ngôn ngữ thơ hiểu thế nào cho
phải?”-Trần Nhuận Minh,Tạp chí ngôn ngữ số6/2001; “Ngôn ngữ và nhà thơ”
-Đào Duy Hiệpv.v..) Chỉ đi vào một số mặt về ngôn ngữ của mảng thơ kháng
5
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Đỗ Việt Hùng trong bài viết “Một số khía cạnh ứng dụng trường nghĩa
trong hoạt động giao tiếp (Tạp chí ngôn ngữ số 3 năm 2010) cũng đề cập đến
việc ứng dụng trường nghĩa trong quá trình tạo lập, sản sinh lời nói và quá
trình lĩnh hội, tiếp nhận lời nói, trong đó quá trình tiếp nhận và phân tích lời
nói nhất là cách diễn đạt chứa hiện tượng ngôn ngữ bất thường đặc biệt được
quan tâm. Tuy nhiên Đỗ Việt Hùng mới chỉ đề cập đến sự ứng dụng của lý
thuyết trường nghĩa trong hoạt động giao tiếp nói chung, đồng thời cũng chỉ
ra rằng: “Quan hệ trường nghĩa giữa các từ ngữ trong từ vựng không chỉ là
một bằng chứng về tính hệ thống của từ vựng mà việc sử dụng tốt các quan hệ
trường nghĩa còn có tính hành dụng cao trong cả hai quá trình giao tiếp là
tạo lập lời nói và lĩnh hội, phân tích các giá trị diễn đạt nhất là các giá trị
diễn đạt văn chương”[17, 13].
Tác giả Phạm Minh Diện trong luận văn thạc sỹ “Tìm hiểu một số
phương pháp phân tích ngôn ngữ tác phẩm văn học( một thử nghiệm so sánh
các phương pháp qua việc phân tích một bài thơ)” (1985) đã phân tích bài thơ
“Từ ấy” của Tố Hữu theo một số hướng phân tích của các tác giả Hoàng Tuệ,
Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thái Hòa và theo trường từ vựng-ngữ nghĩa của Đỗ
Hữu Châu. Người viết luận văn này cũng đã nhận xét rằng: “Phương pháp
ngôn ngữ học thực thụ (như phương pháp ngữ nghĩa học của Đỗ Hữu Châu)
bao giờ cũng cho phép ta bắt đầu từ các từ ngữ với những ý nghĩa rõ ràng
của nó, trên cơ sở đó mới tuần tự chỉ ra các lớp nghĩa do phối hợp hay do đối
lập với ngữ cảnh. Bởi vậy những hình ảnh, cảm xúc bao giờ cũng hiện ra với
thơ. Từ đó tìm ra mạch ngầm văn bản, cái được biểu đạt của ngôn ngữ thơ
3.3. Chỉ ra hướng tiếp cận văn bản thơ từ lí thuyết trường nghĩa
8
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Xác định chủ đề, đề tài Xác lập các trường nghĩa giúp cho việc phân
tích ngôn ngữ thơ chính xác, rõ ràng, khoa học tránh tùy tiện chủ quan.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: đề tài giải quyết 3 mục tiêu ,nghiên cứu đề ra ở mục 3
- Giới hạn trong mục tiêu nghiên cứu; văn bản thơ ở chương trình THPT
gồm ca dao, thơ trung đại Việt Nam, thơ hiện đại Việt Nam, thơ nước ngoài
5. Mẫu khảo sát
Hoạt động dạy học văn học cụ thể là dạy học văn bản thơ ở nhà trường THPT.
6. Vấn đề nghiên cứu
Ứng dụng lý thuyết trường nghĩa như thế nào vào hoạt động phân tích
thơ ở nhà trường THPT ?.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Ứng dụng lí truyết trường nghĩa vào phân tích văn bản thơ cho học sinh
trong nhà trường THPT là phương pháp phân tích ngôn ngữ thơ đặt các đơn vị
ngôn ngữ trong tính hệ thống (trường từ vựng ngữ nghĩa) gắn với chủ đề đề tài
để lí giải các hiện tượng dùng từ và tìm mạch ngầm văn bản của ngôn ngữ thơ
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1. Khái niệm trường nghĩa
Để nghiên cứu về tính hệ thống và cấu trúc của ngôn ngữ, lý thuyết về
trường nghĩa đã ra đời .Trường nghĩa là một trong những lý thuyết hết sức
quan trọng của ngôn ngữ học và đã được các nhà nghiên cứu đề cập từ rất
sớm. Đồng thời, nó cũng mang lại những luồng sinh khí mới cho ngôn ngữ
học hiện đại trong hoạt động hành chức.
Những tư tưởng về mối quan hệ giữa các từ trong ngôn ngữ đã được nhà
bác học người nga M.Pokrovxki (1896) cho rằng: “Từ và ý nghĩa của chúng
không tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc
lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định. Cơ sở để tập hợp những
nhóm như vậy là sự đồng nhất hoặc trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý
nghĩa, chúng ta đó biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống
nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đối ý nghĩa và trong lịch sử của
chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta cũng biết rằng những từ này
được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” (dt 5: 243) làm tiền đề
cho sự ra đời của khái niệm trường nghĩa còn phải kể đến giả thuyết về “tính
tương đối ngôn ngữ” mà hai người được coi là có công lớn lao trong việc
của sự tồn tại; đồng thời của những yếu tố khác” (14, 222). Những luận điểm
nói trên đó giúp những người nghiên cứu ngôn ngữ sau này có cơ sở để xác lập
các trường nghĩa dựa trên sự khảo sát từ vựng một cách có hệ thống.
Lý thuyết về các trường từ vựng gắn với tên tuổi các nhà nghiên cứu như:
A Jolles (1943), G.Ipsen (1924), J Trier(1934), WPorizig (1934)…
Tư tưởng cơ bản của những lý thuyết này là sự khảo sát từ vựng một cách
có hệ thống. JTrier là tác giả đầu tiên đưa ra thuật ngữ và khái niệm trường
12
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
trong ngôn ngữ học. Nhưng JTrier không dùng khái niệm trường ngữ nghĩa
mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng. Trường khái niệm là một
hệ thống rộng gồm nhiều khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại
xung quanh một khái niệm trung tâm. Mỗi trường khái niệm được các từ phủ
lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm. Trường từ vựng là tập hợp các
từ phủ lên trên một trường khái niệm.
JTrier chia toàn bộ từ vựng thành các trường cấp cao, trường cấp cao
lại chia thành những trường cấp thấp hơn…cho đến những từ rời. Trong hệ
thống đó từ chỉ có vai trò phụ. Áp dụng nguyên tắc đó, JTrier kiên quyết
chống lại việc nghiên cứu từ vựng gắn liền với các sự vật riêng rẽ của thế giới
vật chất. Ông cho rằng trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường “giá
trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định”[dt 5, 248] ;
khác tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ. Ví dụ từ “ưỡn” gợi liên tưởng đến một
bộ phận trên cơ thể là ngực, điều đó có nghĩa xuất hiện cùng các tính từ, động
từ hành động, là các danh từ chủ thể tương ứng ( nếu không theo quy luật này
tức là dùng từ theo lối chuyển nghĩa, chuyển từ vựng từ trường nghĩa gốc
sang trường nghĩa mới) chẳng hạn cách diễn đạt của Hàn Mặc Tử “ Dòng
nước buồn thiu” ( Đây thôn Vĩ Dạ) hay của Nguyên Ngọc “Rừng xà nu ưỡn
tấm ngực lớn che chở cho dân làng” (truyện ngắn “Rừng xà nu”).
Với cách nhìn như vậy, Porzig xác định sự sắp xếp những từ có đặc
điểm ngữ pháp giống nhau (có khả năng kết hợp giống nhau với các từ khác)
tạo thành trường từ vựng- cú pháp. Dựa trên cơ sở này từ được chia ra thành “
các trường ngữ nghĩa cơ bản” mà hạt nhân của nó bao giờ cũng là động từ
hoặc tính từ.
Trường theo quan niệm của J.Trier là trường theo quan hệ dọc- trường
trực tuyến- trường hệ thống hay trường đẳng lập (Paratactic field).còn trường
14
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
theo quạn niệm của W.Porzig là trường theo quan hệ ngang- trường tuyến
tính- trường tập hợp hay trường từ vựng cú pháp (Syntactic Field ).
Lý thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào Việt Nam từ những năm
1970 của thế kỷ thứ XX. Đến nay nó vẫn được coi là mô hình nghiên cứu ưu
thắng của ngữ nghĩa học cấu trúc và miêu tả. Trên cơ sở tiếp thu thành tựu
với nhau về ý nghĩa và hình thức.
Hícking lại xây dựng trường nghĩa căn cứ vào từ ghép, trong đó các từ rời
là thành viên của trường.Trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là
trong các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu
tượng, những trường như thế gọi là trường cấu tạo từ.
Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng- ngữ nghĩa, phân lập từ
vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng ngữ nghĩa là để phát hiện ra
tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa và qua đó
tìm ra và giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và
hoạt động cuả chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ.
Theo Phạm Thị Kim Anh việc phân định và xác lập một trường nghĩa về
cơ bản được dựa trên các tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất: Do các trường nghĩa là những sự kiện thuộc phạm trù
ngôn ngữ cho nên việc phân lập chúng trước tiên là dựa theo tiêu chí ngôn
ngữ- những ý nghĩa ngôn ngữ. ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ, cơ
sở để tập hợp các từ thành trường .
Tiêu chí thứ hai: Phải tìm ra được các trường hợp điển hình – từ điển hình
(từ trung tâm). Trong mỗi trường nghĩa các từ được phân bổ thành các từ ngữ
trung tâm (hướng tâm) và các từ ngữ ngoại vi (hướng biên). Các từ ngữ trung
16
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
- Một trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu
vật, các từ cùng chỉ những sự vật thuộc một phạm vi sự vật nào đó, lập thành
một trường biểu vật. Từ điển hình của trường thường là các danh từ có tính
khái quát cao gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật. Mặt khác, một
trường biểu vật lại có thể chia thành các trường khác nhỏ hơn. Chẳng hạn,
trường biểu vật về thiên nhiên trong “ Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử có
thể chia thành các trường: trường nghĩa các từ chỉ khu vườn; trường nghĩa các
từ chỉ dòng sông, trường nghĩa các từ chỉ con đường. Vì từ có tính nhiều
nghĩa biểu vật nên một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau. Do đó
các trường có thể thẩm thấu, giao thoa nhau; chẳng hạn từ “mũi” thuộc TN
chỉ Người (bộ phận cơ thể người chuyển sang trường chỉ sự vật như: mũi dao,
mũi súng, mũi thuyền)
-TN biểu niệm: TN biểu niệm chính là tập hợp các từ có chung một cấu
trúc biểu niệm.
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể phân chia
thành các trường nhỏ và cũng có những miền, những mật độ khác nhau. Các
từ biểu niệm cũng giao thoa, thẩm thấu vào nhau cũng tâm có lõi trung tâm,
các từ điển hình và những từ lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi.
Để xác lập một trường biểu niệm, chúng ta chia vào cấu trúc nghĩa biểu
niệm làm gốc đống nhất nào đó trong nghĩa biểu niệm.
Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính).
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính chúng ta chọn một từ làm gốc rồi
tìm tất cả những từ các thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm
từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ. Các từ trong một trường tuyến tính
là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản. Phân
18
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người”- (V.I.Lê
nin). Mỗi ký hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng gồm hai mặt; âm và nghĩa. Hai mặt
19
này gắn kết với nhau chặt chẽ.Ý nghĩa của từ cùng với hình thức âm thanh
được hình thành và ổn định dần trong lịch sử phát triển ngôn ngữ và chúng
được từng cá nhân lĩnh hội, tích luỹ và huy động sử dụng trong hoạt động
giao tiếp. Tuy nhiên, mỗi từ chỉ có một nghĩa duy nhất, tức là ứng với mỗi
hình thứ âm thanh chỉ có một nghĩa duy nhất thì chúng ta sẽ phải tạo ra và
lĩnh hội một số lượng từ ngữ vô cùng lớn để có thể diễn đạt được hết cái
phong phú muôn mặt của đời sống. Thực tế ngôn ngữ có một quy luật tiết
kiệm vụ cùng kì diệu là dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn. Với cùng một
hình thức ngữ âm, người sử dụng có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau. Hiện
tượng từ có nhiều nghĩa như vậy phổ biến ở mọi ngôn ngữ trên thế giới. Lúc mới
xuất hiện các từ chỉ có một nghĩa biểu vật. Trong quá trình sử dụng, để phục vụ
mục đích giao tiếp của mình con người có thể cấp cho nó ý nghĩa biểu vật mới.
Bùi Minh Toán đã nhận xét: “Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều
thì nghĩa biểu niệm của nó có khả năng biến đổi [43, 146].
Trong quá trình chuyển nghĩa đó. Có những sự biến đổi ngữ nghĩa có tính
chất ổn định, được cả xã hội thừa nhận và sử dụng như tài sản chung. Song
cũng có nhiều biến đổi ngữ nghĩa mang tính lâm thời, tức là chỉ được sử dụng
một lần trong một bối cảnh giao tiếp nhất định: “Sự chuyển nghĩa này có thể
mãi mãi trong phạm vi lời nói cá nhân nhưng cũng có thể là khởi đầu cho việc
hình thành các nghĩa mới nếu được xã hội chấp nhận và dùng theo”[43, 102]
Mặc dù vậy, những biến đổi ngữ nghĩa luôn diễn ra theo những cách thức
và quy tắc chung.
Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt”(Nxb
ĐHSP.H,2004) đã chỉ ra một số cách thức chuyển nghĩa của từ.
Phần lớn các trường hợp của từ chuyển biến theo lối “tỏa ra” nghĩa là các