Nghiên cứu quá trình ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội - Pdf 41

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống và hoạt động của con
người. Trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con người thuộc mọi lĩnh vực, nhận
thức, cảm xúc và hành động. Vì vậy trí nhớ là một đặc trưng quan trọng nhất,
có tính chất quyết định của đời sống tâm lí con người, nhân cách của họ. Nó
đảm bảo cho sự thống nhất và toàn vẹn nhân cách con người. Ngày nay người
ta xem trí nhớ không chỉ nằm trong giới hạn của hoạt động nhân cách mỗi
người, về đặc trưng tâm lí của mỗi người được hình thành trên cơ sở kinh
nghiệm cá thể về mọi mặt của họ, mà kinh nghiệm cá thể đó do trí nhớ đem
lại.
Trên đây chúng ta đã khẳng định vai trò quan trọng của trí nhớ với đời
sống con người nói chung. Còn với học sinh, trí nhớ là điều kiện quan trọng
để thực hiện hoạt động thực tập và các hoạt động khác. Bởi vì, không có trí
nhớ hoặc trí nhớ kém, học sinh sẽ không tái hiện được tri thức cũ để vận dụng
cũng như tiếp thu tri thức mới để giải bài tập.
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học được xác định: “Giáo dục Tiểu học nhằm
giúp học sinh hình thành những cở sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài về đạo đức, trí tuệ thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục
học trung học cơ sở” [6, tr.21]. Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học
sinh tiểu học, được hình thành trong quá trình các em lĩnh hội tri thức và kĩ
năng của các môn học. Hoạt động học tập tạo ra sự phát triển tâm lí học sinh.
Đó là sự phát triển của quá trình tâm lí và nhân cách học sinh. Những kết quả
nghiên cứu về hoạt động học của học sinh tiểu học đã phân chia học sinh tiểu
học thành hai giai đoạn phát triển: Giai đoạn đầu Tiểu học (từ lớp 1 đến lớp
3), hoạt động học bắt đầu được hình thành ở học sinh lớp 1 và được hình
1


Ket-noi.com

được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu những vấn đề lí luận về trí nhớ
- Khái niệm về trí nhớ
2


- Các quan điểm về sự hình thành trí nhớ
- Các loại ghi nhớ
- Đặc điểm hoạt động học tập và một số đặc điểm tâm lí của học sinh
Tiểu học.
5.2. Tìm hiểu thực trạng quá tình ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 3
5.3. Tìm hiểu các biện pháp ghi nhớ và khả năng vận dụng tri thức đã
ghi nhớ của học sinh lớp 3, các nguyên nhân chủ quan và khách quan có
ảnh hưởng đến quá trình ghi nhớ của học sinh.
5.4. Thử nghiệm tác động và đề xuất các biện pháp ghi nhớ nhằm nâng
cao hiệu quả ghi nhớ cho học sinh lớp 3
6. Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu ghi nhớ ý nghĩa
của học sinh lớp 3.
- Về khách thể nghiên cứu: Do điều kiện có hạn đề tài chỉ tập trung vào
hai lớp 3D và 3H trường Tiểu học Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Tìm hiểu các vấn đề lí luận về ghi nhớ.
- Tìm hiểu các vấn đề lí luận về ghi nhớ của học sinh tiểu học
7.2. Phương pháp quan sát
Quan sát giờ học, giờ kiểm tra nhằm tìm hiểu thái độ tích cực của học
sinh trong giờ học, sự ghi nhớ tài liệu của học sinh.
7.3. Phương pháp thực nghiệm phát hiện

Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng sử dụng các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa của học
sinh lớp 3
Chương 3: Thử nghiệm tác động và phát triển ghi nhớ ý nghĩa cho học
sinh lớp 3
Kết luận và kiến nghị.
Tài liệu tham khảo.
Phụ lục.

4


NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.

Tổng quan các công trình nghiên cứu về trí nhớ của học sinh tiểu
học
Các nhà tâm lí học Liên Xô đã có những công trình nghiên cứu vấn đề

liên quan giữa tâm lí và hoạt động trong lĩnh vực các quá trình ghi nhớ.
Trong các công trình nghiên cứu của V.P.Dintreko đã xác định sự phụ
thuộc của hiệu quả ghi nhớ vào đối tượng của hoạt động. Tất cả những gì là
hành động cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ một cách chính xác và chắc
chắn. Có những cái tuy được tri thức rõ ràng, nhưng không cần cho nhiệm vụ
của hành động thì về sau hầu như không nhớ được. Các tác giả đặc biệt quan
tâm tới các quá trình tư duy tham gia vào ghi nhớ.
Công trình nghiên cứu về trí nhớ: Phương pháp ghi nhớ theo điểm tựa
của Phạm Minh Hạc, Trương Anh Tuấn đề cập đến các việc giảng dạy cho
học sinh hiểu ý chính trong bài khóa, giảng kỹ những từ mang nhiều lượng

1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm trí nhớ
Trí nhớ là một quá trình tâm lí phản ảnh những kinh nghiệm đã có của
cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo lại
sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm hành động
hay suy nghĩ trước đây” [11, tr106].
Cũng như cảm giác và tri giác, trí nhớ cũng là một quá trình tâm lí,
song cảm giác và tri giác phản ánh những sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác
động vào các giác quan của ta, còn trí nhớ là sự phản ánh những sự vật, hiện
tượng đã tác động vào ta trước đây mà không cần có sự tác động của bản thân
chúng trong hiện tại. Nói cách khác, trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con
người. Kinh nghiệm này có thể là những hình ảnh cụ thể, có thể là những trải
nghiệm hay rung động, những cảm xúc, ý nghĩ, tư tưởng.
Sản phẩm được tạo ra trong quá trình ghi nhớ là các biểu tượng.
Biểu tượng của trí nhớ là hình ảnh của sự vật hiện tượng nảy sinh trong óc
ta khi không có sự vật, hiện tượng tác động trực tiếp vào các giác quan của ta.
Biểu tượng khác với hình tượng của tri giác ở chỗ: biểu tượng phản ánh
sự vật một cách khái quát hơn. Nó phản ánh những dấu hiệu đặc trưng trực
quan của sự vật, hiện tượng. Như vậy biểu tượng vừa mang tính chất trực
6


quan, vừa mang tính chất khái quát. Nó giống như hình ảnh của cảm giác và
tri giác ở tính trực quan, nhưng nó cao hơn ở tính khái quát.
Mức độ đúng đắn, sâu sắc và bền vững của trí nhớ một phần phụ thuộc
vào nội dung, tính chất của sự vật, hiện tượng, tài liệu cần ghi nhớ. Mặt khác
còn phụ thuộc vào chủ thể của hoạt động nhớ. Những sự vật hiện tượng, tài
liệu có liên quan nhiều đến nhu cầu, hứng thú, tình cảm…của con người,
được ghi lại, gìn giữ và nhớ lại sâu sắc, đầy đủ hơn.
Trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của cá nhân. Những kinh nghiệm: hình

sở của sự phát triển tâm lí”, “nếu không có trí nhớ thì con người mãi mãi ở
tình trạng của một đứa trẻ sơ sinh”.
Đối với hoạt động nhận thức của con người, trí nhớ có vai trò đặc biệt to
lớn. Nó là công cụ để lưu giữ lại kết quả của các quá trình cảm giác và tri
giác, nhờ đó nhận thức phân biệt được cái mới tác động lần đầu tiên và cái cũ
đã tác động trước đây để có thể ứng xử thích hợp tức thì với hoàn cảnh sống.
trí nhớ là một điều kiện quan trọng để diễn ra quá trình nhận thức lí tính (tư
duy và tưởng tượng) và làm cho quá trình này đạt kết quả hợp lí. Ở đây trí
nhớ đã cung cấp các tài liệu do nhận thức cảm tính thu nhận cho nhận thức lí
tính một cách trung thành và đầy đủ.
Như vậy trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con người trong mọi lĩnh
vực: nhận thức, tình cảm và hành vi, do đó trí nhớ có tính chất quyết định đời
sống tâm lí con người, quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con
người. Ở những người bị bệnh hỏng trí nhớ, ta thấy cuộc sống hàng ngày của
họ bị rối loạn, không bình thường, họ không có khả năng suy nghĩ, sáng tạo
hay dự kiến tương lai trên cơ sở những hiểu biết và kinh nghiệm đã có.
1.4. Các loại ghi nhớ
Ghi nhớ là giai đoạn đầu tiên của quá trình trí nhớ. Đó là quá trình tạo
nên dấu vết của đối tượng trên vỏ não, đồng thời cũng là quá trình gắn đối
tượng đó với những kiến thức đã có, làm cở sở cho quá trình gìn giữ về sau
đó. Quá trình ghi nhớ rất cần thiết để tiếp thu tri thức, tích lũy kinh nghiệm.
Hiệu quả của ghi nhớ không chỉ phụ thuộc vào một nội dung, tính chất
của tài liệu nhớ mà còn phụ thuộc chủ yếu vào động cơ, mục đích, phương
thức hành động của cá nhân. Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ
giữ sự ghi nhớ và hoạt động đã khẳng định rằng: “sự ghi nhớ một tài liệu nào
đó là kết quả của hành động với tài liệu đó, đồng thời nó là điều kiện, phương
tiện để thực hiện các hành động tiếp theo của hoạt động” [11, tr 113].
8



Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

hơn, sâu sắc hơn. Nhờ đó đường liên hệ thần kinh tạm thời được hình thành
vững chắc hơn.
Ghi nhớ có chủ định là một hoạt động trí tuệ phức tạp. Trong quá trình
học tập, học sinh có nhiệm vụ phải học thuộc một tài liệu học tập, chẳng hạn
phải học thuộc để kể lại một câu chuyện, một đoạn văn, một bài thơ hay
những phần ghi nhớ là các định nghĩa, công thức, ý nghĩa của bài học, hoặc
các sự kiện lịch sử, địa lí,…Đó là hình thức ghi nhớ có chủ định ở học sinh.
Trong khi xác định nhiệm vụ ghi nhớ, trước hết ta cần nói rõ nội dung
cần ghi nhớ cho từng trường hợp nhất định. Có trường hợp chỉ cần ghi nhớ
những điểm cơ bản, chủ yếu, những sự kiện bản chất nhất. Có khi phải ghi
nhớ từng câu, từng lời, thậm chí có lúc phải ghi nhớ thứ tự của các sự
kiện,…Sự quy định cụ thể như vậy có ảnh hưởng lớn đến sự ghi nhớ và nhớ
và nhớ lại sau này. Tùy theo nhiệm vụ cụ thể mà đề ra từng biện pháp ghi nhớ
phù hợp, cần lựa chọn và quy định những tài liệu phải nhớ lâu dài. Thí
nghiệm đã chứng minh rằng, nếu ta giao cho học sinh một tài liệu với nhiệm
vụ phải ghi nhớ trong một thời gian ngắn và tài liệu khác với nhiệm vụ phải
ghi nhớ trong thời gian dài, sau một thời gian kiểm tra đột xuất kết quả thấy
rằng, thời gian ngắn thì kết quả nhớ tài liệu của học sinh rất kém so với yêu
cầu nhớ lâu dài. Vì vậy, điều quan trọng là không những chỉ cho học sinh biết
phải ghi nhớ những tài liệu gì mà còn phải yêu cầu học sinh nhớ đầy đủ và lâu
bền đến mức nào. Bởi vì, học sinh thường cố gắng ghi nhớ tất cả những cái
thầy dặn như nhau chứ không biết tách cái nào ra là chủ yếu, quan trọng. Điều

nhiều thời gian, khi quên khó có thể hồi tưởng được. Tuy nhiên, trong cuộc
sống ghi nhớ máy móc có lúc lại cần thiết, nhất là khi ta ghi nhớ tài liệu
không có nội dung khái quát như số nhà, số điện thoại, ngày tháng năm
sinh,…
b. Ghi nhớ ý nghĩa
11


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Là loại ghi nhớ dựa trên sự thông hiểu nội dung tài liệu, trên sự nhận
thức được mối liên hệ logic giữa các bộ phận của tài liệu đó. Tức là ghi nhớ
tài liệu dựa trên cơ sở hiểu biết bản chất của nó. Ở đây quá trình ghi nhớ gắn
liền với quá trình tư duy và tưởng tượng nhằm lấy logic nội tại (bản chất) của
tài liệu. Do vậy, người ta gọi ghi nhớ ý nghĩa là ghi nhớ logic.
Ghi nhớ ý nghĩa là loại ghi nhớ chủ yếu trong hoạt động nhận thức, nó
đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, bền vững. Nó tốn ít thời
gian hơn ghi nhớ máy móc, nhưng lại tiêu hao lượng thần kinh hơn.
Sở dĩ ghi nhớ ý nghĩa có hiệu quả cao vì trong quá trình ghi nhớ ý
nghĩa học sinh phải tích cực tư duy để tìm ra những mối quan hệ giữa các
thành phần, các ý của tài liệu. Học sinh phải dùng ngôn ngữ để khái quát và
đưa chúng vào cùng một loại, một nhóm gắn liền với kiến thức cũ. Tuy nhiên,
trong học tập học sinh không phải chỉ ghi nhớ những ý chính mà còn phải ghi
nhớ các công thức, quy tắc, sự kiện lịch sử,… Vì vậy, giáo viên phải chú ý

- Xác định những mối liên hệ trong mối nhóm.
- Xác định những mối liên hệ giữa các nhóm.
Ôn tập cũng là một biện pháp quan trọng để ghi nhớ một cách vững
chắc lâu dài. Biện pháp này cũng dùng sau khi đã làm những việc ở trên. Ở
đây không nên lặp lại y nguyên tài liệu đã ghi nhớ. Cách ôn tập tốt nhất là gắn
tài liệu dưới hình thức và vật liệu khác, tức là cần luyện tập tài liệu đã ghi
nhớ. Mỗi khi học bài mới giáo viên nên hỏi học sinh những kiến thức có liên
quan đến bài học cũ. Đối với trẻ ở những lớp trên phải kích thích tính tự giác
bằng cách nêu ra nhiệm vụ ghi nhớ và động viên cùng hoàn thành nhiệm cụ
để ghi nhớ. Ghi nhớ là một quá trình không ngừng củng cố số lần lặp lại càng
nhiều, thời gian ghi nhớ càng lâu. Càng có những kích thích mới mẻ thì có thể
khơi dậy được hứng thú, ghi nhớ sẽ có thể càng mạnh, cho nên phải khơi dậy
những hứng thú của kí ức trẻ, lặp đi lặp lại nhiều lần, tuần tự tiến dần, liên hệ
13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

trước sau mới có thể tăng cường sức ghi nhớ của trẻ. Tác dụng của ôn tập là
làm mạnh hóa mối liên hệ đã hình thành, củng cố ghi nhớ, làm hiểu sâu hơn,
nâng cao có hiệu quả hiệu suất ghi nhớ. Cần bồi dưỡng cho trẻ có thói quen
kịp thời ôn tập, thường xuyên ôn tập và phối hợp một cách khoa học thời gian
ôn tập.
Việc ôn tập cần phải xen kẽ, không nên ôn tập liên tục một môn học,

cơ bản của các môn học thường gắn với các sự vật hiên tượng cụ thể; với sự
trợ giúp đúng mức của các đồ dùng trực quan. Học sinh chủ yếu chỉ nhận biết
được “cái toàn thể”, “cái riêng lẻ”, chưa nhận ra được các mối quan hệ, các
tính chất quan trọng của sự vật, hiện tượng. Hầu hết các tri thức và kỹ năng
được sắp xếp theo kiểu “đồng tâm mở rộng”, từ đơn giản và cụ thể đến phức
tạp hơn, trừu tượng và khái quát hơn.
1.5.2. Một số đặc điểm tâm lí của học sinh đầu Tiểu học
Tri giác của học sinh đầu tiểu học vẫn mang tính không chủ định, mang
tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết. Quá trình tri giác chỉ dừng lại ở việc nhận
biết và gọi tên đối tượng.
Tư duy của học sinh đầu tiểu học chủ yếu là tư duy cụ thể, khả năng tư
duy logic còn thấp. Thực chất tư duy của học sinh đầu tiểu học là sự “xếp kề”
các hình ảnh tri giác hay biểu tượng để đi đến kết luận. Học sinh đã biết thực
hiện các thao tác so sánh, đối chiếu bằng hình ảnh nhưng vẫn dễ dàng bị ấn
tượng tổng thể chi phối và còn phụ thuộc vào nhiều mức độ phức tạp, nội
dung của tài liệu.
Khả năng suy luận của học sinh phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm.
Nhìn chung học sinh đã có thao tác suy luận logic đối với các biểu tượng cụ
thể, quen thuộc. Nhưng các biểu tượng xa lạ, trừu tượng đòi hỏi các thao tác
tư duy khác nhau lại gây khó khăn cho trẻ.
15


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

chí sau:
Môn Toán:
- Học sinh điền được các số tiếp theo vào dãy số: ghi nhớ máy móc.
- Học sinh tìm ra được quy luật của dãy số: ghi nhớ ý nghĩa.
Môn Tiếng Việt:
Học sinh ghép đúng các âm đầu vào các vần nhưng không giải thích
được ý nghĩa của từ: ghi nhớ máy móc.
- Học sinh ghép từ đúng chính tả và giải thích được nghĩa của từ: ghi
nhớ ý nghĩa.

17


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Phiếu bài tập như sau:
1. Môn Toán: Em hãy điền tiếp các số còn thiếu vào dãy số sau sao cho thích
hợp và giải thích tại sao?
a. 36520; 36521; …; …; …; 36525; ….
b. 31654; …; …; 34654; …; …; 37654.
c. 79300; 79310; …; 79330; …; …; ….
2. Môn Tiếng Việt: Điền vào chỗ trống sau:
a. s hay x
- Cho …ách vào túi…ách.

72,34%

27,66%

(34 HS)

(13 HS)

74,47%

25,53%

(35 HS)

(12 HS)

70,22%

29,78%

(33 HS)

(14 HS)

65,96%

34,04%

(31 HS)


19


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Câu chuyện thứ nhất không đưa ra yêu cầu gì cả và kiểm tra ngay hôm sau,
câu chuyện thứ 2 yêu cầu học sinh học thật thuộc, tìm hiểu nội dung từng
đoạn, tập kể diễn cảm để cô giáo kiểm tra bất cứ lúc nào.
Sau 5 tuần chúng tôi tiến hành kiểm tra, yêu cầu học sinh 2 lớp kể lại
đồng thời cả hai câu chuyện đó.
Phiếu điều tra như sau:
1. Kể lại 2 câu chuyện: “Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử” và “Cuộc chạy
đua trong rừng”.
2. Nội dung của từng câu chuyện là gì?
Kết quả điều tra như sau:
Bảng 2: Kết quả sử dụng ghi nhớ ý nghĩa của học sinh lớp 3

Lớp

3D

3H

Mẫu


44,7%
21HS

21,28%
10HS

2,12%
1hs

10,64%
5HS

42,56%
20HS

38,29%
18HS

8,51%
4HS

29,79%
14HS

40,43%
19HS

23,4%
11HS

ý nghĩa của câu chuyện thông qua từng bước luyện đọc. Đặc biệt phần luyện
đọc hiểu, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài giáo viên chưa đưa ra hệ thống câu
hỏi gợi ý để hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá nội dung bài học nhằm
tạo cho học sinh hứng thú, động cơ học tập của học sinh. Hơn nữa, trong quá
trình học sinh phát biểu giáo viên chưa chú ý rèn cho học sinh kĩ năng diễn
đạt ý hiểu bằng ngôn ngữ của mình. Vì vậy khi học sinh kể lại câu chuyện có
những em chỉ biết học thuộc lòng toàn bộ một cách dập khuôn, máy móc mà
không có tính sáng tạo, hay diễn đạt từng chi tiết của câu chuyện rời rạc, thiếu
chính xác. Do đó mức độ nắm vững tri thức bài học của học sinh không cao.
Điều này chứng tỏ khi học sinh sử dụng biện pháp ghi nhớ ý nghĩa vào quá
trình tri giác tài liệu thì thời gian ghi nhớ sẽ lâu hơn so với những học sinh ghi
nhớ với cách máy móc. Ngoài ra mức độ ghi nhớ tài liệu phụ thuộc vào động
cơ và mục đích của sự ghi nhớ, phụ thuộc vào hình thức tổ chức ôn tập của
giáo viên.
2.2. Kết quả điều tra khả năng vận dụng những tri thức mà học sinh ghi
nhớ
Để điều tra mức độ ghi nhớ và khả năng vận dung tri thức vào việc giải
bài tập của học sinh lớp 3 chúng tôi đã xây dựng một bài tập kiểm tra.
Cách tiến hành như sau:
21


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi


Bảng 3: Kết quả điều tra mức độ ghi nhớ tri thức đồng thời có khả năng
vận dụng của học sinh lớp 3
Nhớ chính
Kết quả

Lớp

Nhớ chính

xác TLHT

xác TLHT

nhưng khả

đồng thời

năng vận

vận dụng tốt

dụng chưa
cao

3H

3D

Nhớ chính
xác TLHT


4,24%

6HS

21HS

18HS

2HS

Nhìn vào số liệu ở bảng 2 ta thấy số lượng hoc sinh nhớ chính xác tài
liệu học tập đồng thời có khả năng vận dụng để giải bài tập tốt (đạt 9 - 10
điểm) không cao: lớp 3D chỉ đạt 12,76%, lớp 3H đạt 14,89%. Tỷ lệ học sinh
nhớ được tri thức của bài học nhưng không biết vận dụng tri thức đó để giải
bài tập và tỷ lệ học sinh không nhớ chính xác tri thức bài học, cũng không
giải được bài tập còn chiếm tỷ lệ khá cao (lớp 3H chiếm 42,55%, lớp 3D
44.68%…). Trong khi đây là kết quả của bài kiểm tra kiến thức học sinh đã
được dặn học, ôn tập kỹ trước ở nhà. Trong quá trình chấm, đọc bài của học
sinh, tôi thấy đa số các em nhớ được tri thức dựa trên cách ghi nhớ máy móc
chứ các em chưa biết dựa vào logic ý nghĩa và các điểm tựa để ghi nhớ nên
các em nắm kiến thức của bài học không sâu. Do đó kỹ năng vận dụng tri
thức bài học để giải các bài tập không cao. Trong bài làm của học sinh nhiều
học sinh nêu được các bước và cách thực hiện việc so sánh các số có năm chữ
số nhưng khi vận dụng để thực hiện bài tập thì lại làm sai. Nghĩa là học sinh
23


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho

càng được nâng cao.
24


2.3.2. Nguyên nhân khách quan
Bên cạnh nguyên nhân chủ quan thì nguyên nhân khách quan cũng ảnh
hưởng lớn tới ghi nhớ của học sinh
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa chú ý hướng dẫn cho học sinh ghi
nhớ tài liệu học tập bằng biện pháp ghi nhớ ý nghĩa, khi dạy bài mới giáo viên
chưa đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý để hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá
nội dung bài học. Hơn nữa, trong quá trình học sinh phát biểu giáo viên chưa
chú ý rèn có học sinh kĩ năng diễn đạt theo ý hiểu của mình. Giáo viên chưa
biết cách tổ chức các hoạt động phù hợp nhằm phát triển khả năng ghi nhớ
cho học sinh. Đây cũng chính là nguyên nhân chính ảnh hưởng tới sự ghi nhớ
ý nghiã của học sinh.
-Môi trường các em sinh sống và học tập cũng ảnh hưởng tới sự ghi nhớ: Các
em ở khu vực thành phố, thị trấn sẽ có khả năng ghi nhớ tốt hơn so với các em
ở khu vực nông thôn.
-Do trẻ mắc một số bệnh liên quan đến não như chậm phát triển trí tuệ, tự kỷ
ở mức độ nhẹ hoặc do tai nạn chấn thương não.
-Tâm lí cũng ảnh hưởng tới chất lượng ghi nhớ của các em. Khi trẻ có tâm lí
tốt thì ghi nhớ sẽ tốt hơn so với lúc tâm lí bất ổn.
Qua kết quả điều tra và phân tích trên đây, tôi rút ra nhận xét:
- Ghi nhớ máy móc của học sinh lớp 3 chiếm ưu thế, ghi nhớ ý nghĩa còn
rất yếu lại chưa được chú ý rèn luyện. Học sinh chưa biết tách những tri thức
nào của bài học là quan trọng cần phải ghi nhớ và nhớ theo logic nào. Vì thế
phần lớn học sinh không hiểu sâu bài học, không nhớ và tái hiện lại được một
cách chính xác tài liệu, đồng thời khả năng vận dụng tri thức để giải bài tập
còn hạn chế.
- Học sinh không tự phận biệt được tri thức nào phải ghi nhớ lâu dài, tri


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status