MỞ ĐẦU
Trong thế kỉ 20 bước sang thế kỉ 21, thế giới đã chứng kiến nhiều sự bùng
nổ, vươn lên của các nền kinh tế, đưa con người bước sang một kỉ nguyên mới -
kỉ nguyên của sự hợp tác và phát triển. Liên minh tiền tệ châu Âu EMU và sự ra
đời của đồng tiền chung EURO là một trong những bước tiến quan trọng trong
quá trình hợp tác phát triển của các quốc gia ở châu Âu. Sự thành công và bài
học kinh nghiện của các nước Châu Âu là rất quý giá đối với bất kì một khu vực
, một nền kinh tế nào muốn tạo lập một liên minh tiền tệ của riêng mình. Các
nước trong khu vực Đông Nam Á cũng năm trong số đó. Đặc biệt sau cuộc
khủng hoảng tài chính xảy ra vào năm 1997, lãnh đạo các nước và các nhà kinh
tế học đã thực sự quan tâm tới vấn đề thống nhất tiền tệ ở khu vực này. Asean hi
vọng đồng tiền chung sẽ thúc đẩy nền kinh tế khu vực tăng trưởng ổn định, bền
vững, giảm bớt nguy cơ khủng hoảng và giúp Asean khẳng định được vị trí của
mình trong nền kinh tế thế giới.
Chính vì vậy đề tài “ Khả năng thống nhất tiền tệ khu vực Đông Nam Á
thông qua việc nghiên cứu quá trình thống nhất tiền tệ của Châu Âu “ là một
đề tài mang tính thực tiễn sâu sắc và cũng được nhiều nước trong khu vực Đông
Nam Á cũng như các nhà kinh tế học trên thế giới quan tâm nghiên cứu . Thông
qua việc nghiên cứu quá trình thống nhất tiền tệ các nước Châu Âu, điều kiện
lợi ích cũng như những khó khăn để từ đó xem xét khả năng thống nhất tiền tệ
của khu vực Đông Nam Á, đưa ra lộ trình phù hợp để thực hiện mục tiêu này.
I. Lý thuyết "Khu vực tiền tệ tối ưu"- cơ sở lý luận hình thành liên minh
tiền tệ.
1
Lý thuyết "Khu vực tiền tệ tối ưu" ra đời vào đầu những năm 1960.
Nghiên cứu đầu tiên mang tính tiên phong về lĩnh vực này do các nhà kinh tế
Mỹ R.Mundell (1961) và R.Mc Kinnon (1963) (cùng Ingram 1962) đưa ra,
trong đó nêu lên những đặc tính cơ bản nhất để xác định một "Khu vực tiền tệ
tối ưu". Những nghiên cứu sau này của các nhà kinh tế khác như Grubel (1970),
Corden (1972), Ishiyama (1975) và Tower và Willet (1976) đã chuyển sang tập
trung đánh giá chi phí và lợi ích của việc tham gia một khu vực tiền tệ.Lý thuyết
Khi giá cả và tiền lương không linh hoạt thì sự điều chỉnh về vị trí cân
bằng có thể gây ra thất nghiệp ở một vùng và/hoặc lạm phát ở một vùng khác.
2
Sự linh hoạt tuyệt đối của giá cả và tiền lương sẽ làm cho thị trường luôn
cân bằng.
2.2 Sự hội nhập thị trường tài chính:
Nghiên cứu của Ingram (1962) đã nói lên rằng một khu vực tiền tệ thành
công phải hội nhập chặt chẽ trong lĩnh vực tài chính, nghĩa là dỡ bỏ mọi rào cản
đối với việc luân chuyển vốn.
Sự hộinhập thị trường tài chính làm giảm nhu cầu thay đổi điều kiện thương mại
giữa các vùng khi có sự biến động của tỷ giá hối đoái, ít nhất là trong ngắn hạn.
2.3 Sự hội nhập thị trường các yếu tố
Theo Mundell (1961), một khu vực tiền tệ tối ưu được xác định bởi sự tự
do di chuyển các yếu tố bên trong (cả giữa các khu vực và giữa các ngành) và
sự tự do di chuyển các yếu tố bên ngoài.
Sự tự do di chuyển các yếu tố của sản xuất (đặc biệt là lao động)
sẽ làm giảm nhẹ áp lực thay đổi giá cả thực tế của các yếu tố để đối phó với các
cú sốc về cung và cầu. Do đó nhu cầu điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm điều
chỉnh giá cả thực tế của các yếu tố cũng được giảm nhẹ. Điều này cho thấy sự tự
do di chuyển các yếu tố phần nào đóng vai trò là một sự thay thế cho tính linh
hoạt của giá cả-tiền lương. Do thường thấp trong ngắn hạn nên sự tự do di
chuyển các yếu tố giúp giải quyết sự mất cân bằng cán cân thanh toán thường
xuyên trong dài hạn tốt hơn là giải quyết sự mất cân đối cán cân thanh toán tạm
thời.
Như vậy, sự hội nhập thị trường các yếu tố sẽ tạo điều kiện để các nước
không phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm duy trì tình hình cán cân thanh toán
ổn định giữa các vùng trong khu vực.
2.4 Sự hội nhập thị trường hàng hoá
Một khu vực tiền tệ thành công phải có "độ mở" bên trong cao, có nghĩa
là phải buôn bán rộng rãi trong nội bộ khu vực. "Độ mở của một nền kinh tế
đến năm 1990 EU mới có những bước thực hiện cụ thể cho việc ra đời đồng tiền
chung của khối. Quá trình hình thành và đưa vào sử dụng đồng EURO đã trải
qua 3 giai đoạn:
1.1giai đoạn 1: 1990 – 1993:
Bắt đầu từ 1/7/1990 và kết thúc ngày 31/12/1993.
Nội dung:
- Dỡ bỏ các rào cản còn lại đối với sự di chuyển vốn tự do giữa các nước
trong Cộng đồng châu Âu và giữa Cộng đồng và các nước thứ ba.
- Thực hiện hiệp ước Maastricht: Hiệp ước Liên hiệp Châu Âu, hay còn gọi
là Hiệp ước Maastricht, ký ngày 7 tháng 12 năm 1991 tại Maastricht Hà
Lan , nhằm mục đích:
Thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với
một đơn vị tiền tệ chung và một ngân hàng trung ương độc lập.
Thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính
sách đối ngoại và an ninh chung.
=>Sau giai đoạn này,việc lưu chuyển vốn được tự do hóa giữa các nước
trong Liên minh châu Âu.
1.2Giai đoạn 2 (1994-1999)
Bắt đầu ngày 1/1/1994 và kéo dài đến ngày 31/12/1998.
4
Nội dung: tiếp tục chuẩn bị cho các nước thành viên áp dụng đồng tiền
chung.
Trong giai đoạn này đã thành lập tiền thân của ngân hàng trung ương
châu Âu là Viện Tiền tệ châu Âu (EMI).
Nhiệm vụ chính của EMI là:
- cụ thể hoá các khuôn khổ pháp lý, thực hiện các công việc tổ chức và hậu
cần cần thiết khác để ECB thực hiện nhiệm vụ của mình kể từ đầu giai
đoạn 3.
- chịu trách nhiệm củng cố sự phối hợp các chính sách tiền tệ trước khi
hình thành EMU và tư vấn cho các ngân hàng các quốc gia thành viên về
thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, giai đoạn hài hoà và
phối hợp chính sách kinh tế và cuối cùng là một liên minh kinh tế hoàn chỉnh
với một số chính sách kinh tế được hoạch định ở cấp độ khu vực. Hoàn thành ba
giai đoạn đầu chính là đã hình thành được một thị trường thống nhất về hàng
hoá, vốn và sức lao động.
- Với châu Âu, hai giai đoạn đầu: khu vực thương mại tự do và liên minh
thuế quan được hoàn thành 1 cách nhanh chóng cụ thể :
+ khoảng năm 1960,các nước cam kết cắt giảm, xóa bỏ hàng rào thuế
quan, phi thuế quan với nhau.
+ Tính đến ngày 1/7/1968, tất cả các hàng rào thuế quan về số lượng đối
với hàng hoá và dịch vụ xuất và nhập khẩu đã được dỡ bỏ, Việc xóa bỏ các
hàng rào phi thuế quan như các tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, an toàn, kỹ thuật thì
gặp nhiều khó khăn hơn do đó, dỡ bỏ các hàng rào này đòi hỏi phải phối hợp
nhiều chính sách và luật lệ chứ không chỉ đơn giản là cắt giảm thuế như trường
hợp các hàng rào thuế quan. Phải đến giữa những năm 1980, Cộng đồng châu
Âu mới đạt được những tiến bộ quan trọng trong lĩnh vực này.
- Giai đoạn "thị trường chung" (ngoài việc tự do hóa thương mại ,tự do hóa
dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử,liên minh thuế quan còn
cộng thêm các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, lao động)
giữa các nước thành viên) được coi là chính thức hoàn thành ngày
31/12/1992.Tuy nhiên, kể cả cho tới ngày hôm nay, vẫn còn nhiều lĩnh vực như
dịch vụ tài chính, năng lượng, viễn thông... cần được tiếp tục cải cách để thị
trường của Liên minh châu Âu thực sự là một thị trường chung.
2.2 điều chỉnh kinh tế của các nước thành viên để hội nhập theo tiêu chí
thống nhất:
Hiệp ước Masstricht năm 1991 đã đề ra thời gian biểu chi tiết và những điều
kiện để các nước tham gia vào giai đoạn cuối của quá trình hội nhập tiền tệ châu
Âu
6
- Mục đích của hiệp ước Masstricht : nhằm hạn chế sự biến động của tỷ giá hối
2.3 Thiết lập 1 cơ chế liên kết tỷ giá
7
Quá trình phát triển của cơ chế liên kết tỷ giá ở châu Âu đã trải qua ba
giai đoạn lớn như sau:
a/ Giai đoạn 1: bắt đầu từ khi thành lập Cộng đồng vào năm 1957 cho đến khi
thiết lập Hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1979.
Sự phối hợp trên lĩnh vực tỷ giá hối đoái ở giai đoạn này nhìn chung còn lỏng
lẻo.Sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ và cuộc khủng hoảng dầu lửa lần
thứ nhất nổ ra năm 1973, các nước đã không thể thống nhất được về một biện
pháp đối phó chung. Mỗi nước tự đưa ra chính sách tài khoá và tiền tệ riêng của
mình để đối phó và tỷ giá hối đoái càng trở nên bất ổn định. Cuối cùng, các
nước áp dụng chính sách kinh tế vĩ mô lỏng đã buộc phải thả nổi đồng tiền của
mình.
b/ Giai đoạn 2: đánh dấu bằng sự ra đời của Hệ thống tiền tệ châu Âu(ECU)
và kéo dài đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng cơ chế tỷ giá ERM vào năm
1992-1993.
Giai đoạn này, các nước châu Âu dần dần đã đạt được một mức độ phối hợp
đáng kể trong lĩnh vực chính sách tài chính, tiền tệ. Giai đoạn đầu của Hệ thống
tiền tệ châu Âu gặp phải những vấn đề khó khăn, các nước thành viên liên tục
phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Dần dần, với một ngân hàng trung ương độc lập
và chính sách tiền tệ theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả, đồng Mark Đức đã trở
thành nước neo giá danh nghĩa cho đồng tiền các nước trong hệ thống.
Thời kỳ cuối của giai đoạn này đã chứng kiến một cuộc khủng hoảng tỷ giá,
Italia và Anh rời bỏ cơ chế tỷ giá còn biên độ dao động của các nước còn lại
được mở rộng tới ±15%.
c/ Giai đoạn 3: bắt đầu từ năm 1993 và kéo dài cho tới nay.
Đây là giai đoạn phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô thành công với các mục tiêu
chung về các chính sách tài khoá, tiền tệ, và tỷ giá hối đoái theo Hiệp ước
Masstrict. Việc biên độ dao động được mở rộng tới ±15% vào tháng 8/1993 đã
cho phép các nước có được một sự linh hoạt nào đó trong vấn đề tỷ giá hối đoái,
khối lượng thương mại trong nội bộ EU từ đó đẩy mạnh phồn vinh kinh tế của
các nước thành viên.
Khi Đồng tiền chung ra đời, hạn chế chi phí giao dịch liên quan đến chuyển đổi
đồng tiền khác nhau (bao gồm chi phí thời gian và chi phí hoa hồng trả cho
Ngân Hàng). Theo như tính toán thì khoản tiết kiệm hàng năm từ các giao dịch
này vào khoảng 0,4% GDP của EU.
Tuy nhiên cũng phải lưu ý khi đồng tiền chung ra đời 1 phần còn làm giảm lợi
nhuận của Ngân Hàng.
3.2.Các yếu tố sản xuất được phân bổ hiệu quả.
9
Trong quá khứ giữa các nước EU do áp dụng các biện pháp kiểm soát chu
chuyển vốn và phân biệt đối xử vốn tài chính làm cho nguồn vốn trong nội bộ
EU không được phân bổ tối ưu.
Khi xóa bỏ hoàn toàn các biện pháp kiểm soát tỷ giá và không có sự biến động
của tỷ giá ( sử dụng đồng tiền chung) làm cho nguồn vốn được phân bổ hiệu
quả hơn nhiều trong nội bộ các nước EU. Khi lương và thu nhập được tính bằng
đồng tiền chung sẽ được phân bổ tốt hơn, người lao động sẽ tự do di chuyển từ
khu vực có năng suất lao động thấp đến khu vực có năng suất lao động cao hơn
3.3.Tiết kiệm dự trữ ngoại hối và lợi ích từ việc phát hành tiền:
Khi đồng tiền chung ra đời các nước EU giảm được ít nhất là số dự trữ
ngoại hối dùng để giao dịch trong nội bộ các nước EU. Hơn nữa so với các đồng
tiền riêng lẻ thì đồng tiền chung có xu hướng biến động ít hơn so với đồng tiền
của nước thứ 3. Điều này xảy ra là vì mức hoạt động trung bình của nền kinh tế
được tính chung bằng 1 đồng tiền thường ổn định hơn so với từng nền kinh tế
đơn lẻ đối với đồng tiền riêng của mình vì vậy nhu cầu dự trữ ngoại hối đối với
các nước sử dụng đồng tiền chung giảm xuống.
Hơn nữa đồng tiền chung của châu Âu chắc chắn sẽ trở thành 1 trong nhưng
đồng tiền chính yếu đồng nghĩa với đó là tăng thành phần EURO trong dự trữ
ngoại hối các quốc gia ngoài EU và Eu thu dc lợi từ việc phát hành EURO.
3.4. Tiết kiệm chi phí hành chính trong kinh doanh: