SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỈNH ĐĂK NÔNG
ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2014-2015
Môn: NGỮ VĂN (CHUYÊN 10)
Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian phát đề
Câu 1 (2,0 điểm).
Trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du miêu tả chân dung Thúy
Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Và trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều, Nguyễn Du miêu tả chân
dung Mã Giám Sinh:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẳn nhụi, áo quần bảnh bao.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
a) Theo em, nghệ thuật miêu tả Thúy Vân và Mã Giám Sinh của ngòi bút
Nguyễn Du khác nhau ở điểm nào?
b) Nghệ thuật được dùng miêu tả Thúy Vân có tác dụng gì?
c) Hãy liệt kê một số nhân vật trong Truyện Kiều được Nguyễn Du sử dụng
nghệ thuật đó để khắc họa.
Câu 2 (2,0 điểm).
Em hãy nêu hoàn cảnh ra đời bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
Hãy cho biết nguồn cảm hứng sáng tác trong bài thơ và nguồn cảm hứng ấy có ý
nghĩa gì trong việc xây dựng hình tượng?
Đáp án
a. Miêu tả Thúy Vân, Nguyễn Du sử dụng nghệ thuật
ước lệ tượng trưng; còn tả Mã Giám Sinh, Nguyễn
Du dùng nghệ thuật tả thực.
b. Dùng nghệ thuật ước lệ tượng trưng để xây dựng
nhân vật, nhà văn thể hiện tình cảm yêu mến và trân
trọng cho nhân vật ấy.
c. Một số nhân vật trong Truyện Kiều được Nguyễn
Du dùng nghệ thuật ước lệ tượng trưng để miêu tả:
Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải…
- Sau kháng chiến chống pháp, miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng và bước vào khôi phục lao động sản
xuất để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất
nước.
- Trong không khí lao động sôi nổi ấy, vào năm 1958,
Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở Quảng Ninh.
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là thành quả văn học
của ông trong chuyến đi ấy.
- Bài thơ bắt nguồn từ cảm hứng về thiên nhiên, đất
nước, vũ trụ và cảm hứng về lao động. Sự kết hợp của
hai nguồn cảm hứng này đã tạo nên những hình ảnh
tráng lệ, giàu màu sắc lãng mạn cho bài thơ.
Điểm
0,5
1,0
0,5
0,5
thể không tin. Ông bị ám ảnh, day dứt, mặc cảm là kẻ
phản bội.
+ Sống trong tâm trạng nơm nớp, lo sợ, xấu hổ và
nhục nhã. Ông tủi thân, thương con, thương dân làng
Chợ Dầu, thương thân mình phải mang tiếng là dân
Việt gian.
+ Ông bị đẩy vào tình huống thử thách, căng thẳng
khi nghe tin người ta không chứa người làng Chợ
Dầu, lo sợ vì tuyệt đường sinh sống.
+ Ông đau đớn phải lựa chọn theo cách sống của
ông: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi
thì phải thù. Ông chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình
vào lời tâm sự với đứa con
- Khi nghe tin làng được cải chính: Niềm vui, niềm tin
trở lại trong ông. Ông Hai trở lại là người vui tính,
yêu làng, yêu nước
- Nghệ thuật:
+ Tác giả đặt nhân vật vào tình huống thử thách để
bộc lộ chiều sâu tâm trạng.
+ Miêu tả diễn biến tâm lí nhận vật sâu sắc, tinh tế.
+ Ngôn ngữ sinh động, giàu tính khẩu ngữ và thể hiện
cá tính của nhân vật; cách trần thuật linh hoạt tự nhiên
2. Suy nghĩ của bản thân về tình yêu quê hương,
đất nước hiện nay
Yêu cầu thí sinh làm rõ được thế nào là tình yêu quê
hương, đất nước; vì sao cần phải thể hiện tình yêu quê
hương, đất nước hiện nay; làm thế nào đề thể hiện tình
yêu quê hương, đất nước. Liên hệ vấn đề độc lập chủ
quyền biển đảo hiện nay.
- Kết thúc vấn đề: Đánh giá nội dung và nghệ thuật.