Header Page 1 of 161.
Mục lục
1. Đặt vấn đề
2. Tổng quan
Footer Page 1 of 161.
0
Header Page 2 of 161.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày càng phát triển càng mang lại nhiều lợi ích cho con người,
nhưng sự phát triển luôn là con dao hai lưỡi ngoài những nguồn lợi nó mang lại
thì có rất nhiều hệ quả xấu tác động ngược lại lên chính xã hội loài người, một
trong số đó là tệ nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy. Đây không chỉ là con đường
chinh lây truyền HIV/AIDS tại Việt Nam mà nó còn tác động sâu sắc lên kinh
tế, xã hội và đặc biệt chính bản thân và gia đình người mắc tệ nạn này. Tính đến
tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người sử dụng ma tuý, trong đó 85% tiêm
chích các loại ma tuý như heroin (Tiếng Chuông, 2014). Những người tiêm
chích ma tuý chiếm ưu thế trong nhóm nhiễm HIV tại Việt Nam, chiếm 45% số
người nhiễm HIV (Uỷ Ban Quốc Gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ
nạn ma túy, mại dâm, 2012). Tiêm chích ma tuý tại Việt Nam có liên quan đến tỉ
lệ gia tăng tội phạm (lên đến 30%; Tiếng Chuông, 2014), mâu thuẫn gia đình,
thất nghiệp và giảm đáng kể thu nhập hộ gia đình. Chính vì thế nhiều phương
pháp cai nghiện đã được nghiên cứu trong đó điều trị bằng Methadone có tác
dụng vượt trội hơn cả. Với phương pháp cai nghiện cắt cơn thông thường tại
trung tâm cai nghiện thì có khoảng 70- 90% bị tái nghiện sau cai, nhưng điều trị
bằng Methadone tỉ lệ đó là rất thấp. Methadone là thuốc hướng thần, có tác dụng
2.
Tìm hiểu việc triển khai, kết quả và khó khăn của chương trình
điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methandone tại Thái Bình.
Footer Page 3 of 161.
2
Header Page 4 of 161.
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Một số thông tin về thuốc Methadone.
1.1.1. Khái niệm Methadone.
- Methadone là một loại thuốc hướng thần nằm trong nhóm các chất dạng
thuốc phiện. Tác động chủ yếu trên các thụ thể muy (μ) ở não, có tác dụng giảm
đau, giảm ho, yên dịu, có thể gây nghiện nhưng gây khoái cảm yếu. Các nghiên
cứu khoa học đã khẳng định thuốc methadone có thể thay thế được Heroin trong
việc giúp người nghiện thoả mãn cơn đói thuốc, giải quyết được tình trạng lệ
thuộc vào heroin của não bộ nhưng methadone có những lợi thế tuyệt vời mà
heroin không thể có được.
- Methadone được dùng bằng đường uống, tác dụng khoảng 30 phút sau khi
uống và đạt nồng độ tối đa trong máu sau khoảng 3 đến 4 giờ. Thời gian bán hủy
trung bình của Methadone là 24 giờ. Thời gian đạt được nồng độ ổn định
khoảng 3 - 10 ngày.
- Methadone có thể tan trong mỡ và gắn vào các mô trong cơ thể bao gồm
phổi, gan, thận, lách, do đó, nồng độ Methadone tại các mô này cao hơn hẳn
nồng độ Methadone trong máu. Vì vậy, Methadone sau đó được vận chuyển
Giảm các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV.
Cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng.
Dừng các hành vi phạm pháp để kiến tiền mua heroin ( giảm tội phạm ).
Giúp ổn định cuộc sống, có cơ hội tái hòa nhập với gia đình và cộng
đồng.
1.1.2. Hiệu quả khi sử dụng methadone
- Về mặt sức khoẻ: Dự phòng lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường
máu như HIV, viêm gan B, C…Người bệnh nhanh chóng ổn định tâm lý, nhân
cách hồi phục sức khoẻ và ổn định cuộc sống, có cơ hội tái hoà nhập với gia
đình và cộng đồng.
- Về mặt xã hội: Do người nghiện không còn nhu cầu kiếm tiền mua ma tuý
nên tình hình an ninh trật tự được cải thiện rõ rệt. Sự kỳ thị phân biệt đối xử với
Footer Page 5 of 161.
4
Header Page 6 of 161.
người nghiện giảm, cơ hội kiếm việc làm của người nghiện sẽ tăng lên giúp tăng
sức sản xuất cho gia đình, xã hội.
- Về mặt kinh tế: Bản thân người nghiện và gia đình không mất tiền mua
ma tuý khoảng 7 - 9 triệu/tháng, ngược lại có thể còn có việc làm tăng thu thập
cho gia đình. Đối với Nhà nước, Chính phủ theo báo cáo của tổ chức Y tế thế
giới đầu tư cho chương trình điều trị methadone sẽ tiết kiệm được từ 7 đến 10
lần các chi phí liên quan đến pháp lý, y tế, xã hội… chi phí vaanh hành một cơ
sở điều trị Methadone cho 250 người bệnh chỉ vào khoảng 1,4 tỷ đồng/ năm. Chi
phí điều trị tính bình quân cho một người bệnh là 15.435 đồng/ ngày, trong đó
tiền thuốc khoảng 7.000 đồng/ 1 ngày/ 1 người. Theo nghiên cứu của nhiều
nước trên thế giới với 1 USD Mỹ sẽ tiết kiệm được 7 USD cho các vấn đề phát
nay chương trình điều trị methadone trên thế giới đã được đa số các nước triển
khai do hiệu quả to lớn của chương trình mang lại.
1.2.2. Tại Việt Nam.
Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone được chính thức triển khai thí điểm tại Việt Nam từ tháng 4/2008 tại
thành phố Hài Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Với những thành công bước
đầu tại 2 thành phố, từ năm 2011 đến nay, chương trình liên tục được nhân rộng
ra nhiều địa phương trên cả nước. Tính đến 30/6/2014, chương trình đã được
triển khai tại 32 tỉnh/thành phố với 101 cơ sở, điều trị cho 18.157 bệnh nhân.
Một số địa phương có chương trình điều trị bằng Methadone đạt độ bao phủ cao
(tính trên số người nghiện chích ma túy được quản lý) như: Hải Phòng (43,2%),
Nam Định (42,6%), Quảng Ninh (30,5%), Cần Thơ (29,9%)... Tuy nhiên, vẫn
còn có 31 tỉnh chưa triển khai và 5 tỉnh đã triển khai nhưng đạt mức bao phủ
thấp dưới 5%. Thông tin tại hội nghị cho biết, từ nhiều năm qua, chương trình
điều trị Methadone luôn được Việt Nam quan tâm, bố trí nguồn lực. Ngày
31/10/2014, Thủ tướng Chính phủ ký Chỉ thị về Đẩy mạnh điều trị nghiện chất
các chất dạng thuốc thay thế bằng Methadone năm 2014 và 2015. Điều đó cho
Footer Page 7 of 161.
6
Header Page 8 of 161.
thấy Chính phủ rất quan tâm đến chương trình Methadone. Tuy nhiên, kết quả
công tác cai nghiện hiệu quả chưa cao.
Theo ông Nguyễn Hoàng Long, Cục trưởng Cục phòng, chống HIV/AIDS
Bộ Y tế, đến ngày 15/10/2014, mới có 38/63 tỉnh, thành phố triển khai điều trị
Methadone cho 21.613 người nghiện chất dạng thuốc phiện, đạt 27% so với mục
tiêu điều trị cho 80.000 người vào cuối năm 2015, chiếm 12% số người nghiện
Biểu đồ 1: phân bố số cơ sở điều trị Methadone toàn quốc qua các năm
Footer Page 8 of 161.
7
Header Page 9 of 161.
90000
80000
80000
70000
60000
50000
40000
30000
23160
20000
10000
0
6931
1735
2009
2011
197
200
146
150
145
125
88
100
50
0
thành phố
đông hưng
Vũ Thư
Hưng Hà
Tiền Hải
Thái Thụy
Biểu đồ 3: phân bố số lượng bệnh nhân tại các các cơ sở điều trị
Methadone của tỉnh Thái Bình.
1.3. Hiệu quả của chương trình điều tri Methadone
120.0%
100.0%
100.0%
86.9%
80.0%
60.0%
trước
sau
42.4%
41.0%
40.8%
40.0%
20.0%
15.9%
1.3%
1.0%
0.0%
nghiện ma túy
còn 3% ( 02BN).
• Về tình trạng vi phạm pháp luật
- Trên 75% bệnh nhân trước điều trị có hành vi vi phạm pháp luật, trộm cắp tài
sản trong gia đình để lấy tiền mua ma túy.
- Sau điều trị tỷ lệ phạm tội của bệnh nhân giảm nhiều, từ 75% xuống còn 5,1%
sau 01 tháng và sau 06 tháng không còn bệnh nhân nào vi phạm.
• Về việc làm của bệnh nhân: Trước điều trị có 35,6% bệnh nhân có việc
làm , sau 6 tháng điều trị tỷ lệ này tăng lên 60,3%.
• Hiệu quả kinh tế: Trước điều trị chi phí trung bình để bệnh nhân mua
heroin trong một ngày: 321,000đ. Khi được tham gia điều trị methadone
chi phí điều trị trung bình cho một bệnh nhân chỉ hết 27.000đ/ngày (giảm
gần 12 lần).
Footer Page 12 of 161.
11
Header Page 13 of 161.
120%
100%
80%
60%
sử dụng ma túy
Header Page 14 of 161.
thì lại vắng bệnh nhân, gây lãng phí. Theo Cục phòng, chống HIV/AIDS,
chương trình này gặp nhiều khó khăn về nhân lực, thiếu về số lượng y bác sỹ,
nhân viên y tế trong lĩnh vực này, trong khi họ phải làm việc quá tải, chưa có
chế độ đãi ngộ thỏa đáng và thiếu kinh phí.
Trong khi đó, bệnh nhận còn bị phân biệt, kì thị và tỷ lệ bệnh nhân bỏ điều
trị ngày càng gia tăng. Anh Trần Thanh Thắng, một người đang điều trị bằng
Methadone đề xuất, thủ tục để người nghiện được điều trị cần đơn giản hơn, thời
gian uống cũng cần bố trí phù hợp hơn, tránh giờ làm việc. Nhiều người nghiện
cũng mong muốn được tiếp cận điều trị theo cách tế nhị hơn, bởi họ sợ bị mất
việc làm nếu công khai tình trạng điều trị hoặc bị bắt đi trung tâm cai nghiện bắt
buộc
Hội nghị Cộng đồng với việc thực hiện chương trình Methadone cũng
khuyến cáo, việc nhà tài trợ nước ngoài ngừng cấp thuốc Methadone miễn phí
vào năm 2016, bệnh nhân phải thanh toán thêm tiền thuốc sẽ là một khó khăn
với các gia đình nghèo có người nghiện. Hiện tại, hoạt động của các cơ sở
Methadone dựa 100% vào tài trợ kinh phí và nguồn thuốc của các tổ chức nước
ngoài. Như vậy nếu chương trình điều trị bằng Methadone ngừng sau 2015,
không chỉ 65.000 người nghiện chưa được điều trị chưa biết “đi đâu về đâu” mà
15.000 người đang điều trị dở dang bằng Methadone cũng sẽ đứng trước nguy
cơ tái nghiện.
- Trình độ dân trí, nhận thức chưa cao nên quá trình truyền thông, tư vấn
của các cán bộ cơ sở điều trị Methadone cho người nghiện chích ma túy không
được thuận lợi. Bên cạnh đó, do địa bàn rộng lớn, địa hình miền núi giao thông
đi lại khó khăn cũng gây trở ngại cho những người nghiện chích ma túy trong
quá trình đến cơ sở điều trị. Tại Mường Lát, Quan Hóa có những địa bàn cách
xa trung tâm huyện từ 30 đến hơn 50km đường đồi núi. Do đó để duy trì việc
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tài liệu, thông tin trên các webside mô tả về thực trạng điều trị NCDTP
bằng Methadone.
-
Thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu tại các cơ sở điều trị
Methadone lớn như Hải Phòng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
- Tiêu chuẩn chọn lựa:
+ Nam bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên
+ Là người nghiện chích ma túy
+ Đăng ký chăm sóc tại các cơ sở điều trị methadone.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thuần tập hồi cứu được sử dụng để thu thập thông tin về đối tượng
nghiên cứu tại các cơ sở điều trị Methadone trên cả nước, đặc biệt các cơ sở lớn
như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh…
2.2.2.
Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.2.3.
Phương pháp nghiên cứu
liệu sẽ được biểu diễn bằng các bảng , biểu đồ và được tính thành tỷ lệ %, giá trị
trung bình.
2.4 Sai số và các biện pháp khống chế
•
Bộ công cụ được thiết kế rõ ràng, thống nhất có sự cố vấn của các thầy
•
Bộ công cụ được điều tra thử tại thực địa trước khi tiến hành điều tra.
•
Điều tra viên được tập huấn kỹ cách thu thập thông tin.
•
Theo dõi giám sát kỹ việc thu thập thông tin, 100% phiếu sau phỏng
cô.
vấn được giám sát viên kiểm lại.
•
Theo dõi giám sát chặt chẽ việc làm sạch số liệu. Sử dụng chương trình
kiểm tra lỗi để nhập liệu.
Footer Page 17 of 161.
Linda Weiss et al (2011). Integration of Buprenorphine/Naloxone treatment into HIV
clinical care: Lessons from the BHIVES Collaborative. J Acquir Immune Defic Syndr
2011;56:S68-S75. 6. Palepu et al (2006). Antiretroviral adherence and HIV treatment
outcomes among HIV/HCV coinfected injection drug users: The role of methadone
maintenance therapy. Drug and Alcohol Dependence, 2006;84(2):188-194.
10. Sasha
Uhlmann et al (2010). Methadone maintenance therapy promtes initiation of
antiretroviral therapy among injection drug users. Addiction. May 2010; 105(5):907-913.
Footer Page 18 of 161.
17
Header Page 19 of 161.
Footer Page 19 of 161.
18