BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
--------------
PHAN MINH THÔNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
---------------
PHAN MINH THÔNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Đinh Phi Hổ
1.5. Ý NGHĨA LUẬN VĂN.....................................................................................................3
1.6. KẾT CẤU LUẬN VĂN ....................................................................................................3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT .............................................................................. 5
2.1. KHÁI NIỆM NÔNG NGHIỆP........................................................................................5
2.2. ĐẶC ĐIỂM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ....................................................................5
2.2.1 Nền nông nghiệp nhiệt đới ...................................................................................... 5
2.2.2 Phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa song song với nông
nghiệp cổ truyền ..............................................................................................................6
2.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ........................6
2.3.1. Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên.......................................................................6
2.3.2. Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế xã hội .............................................................. 7
2.4. TÓM LƯỢC MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ NÔNG NGHIỆP .10
2.4.1. Lý thuyết về vai trò của nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế ......................... 10
2.4.2 Tóm lược một số nghiên cứu trên thế giới về quá trình phát triển của nông
nghiệp ............................................................................................................................ 13
2.5. LÝ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ................ 18
2.5.1. Nghiên cứu của Solow (1956) .............................................................................. 18
iii
2.5.2. Nghiên cứu của Harrod-Domar (1940) ................................................................. 21
2.5.3. Nghiên cứu của Kaldor (1957) ............................................................................. 23
2.5.4. Hàm sản xuất Cobb-Douglas (1928)..................................................................... 24
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .................................................................. 26
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................................26
3.2. ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN CỦA MÔ HÌNH COBB-DOUGLAS..............................26
3.3. QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHO MÔ HÌNH ..............................................................27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................... 36
4.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ TỈNH ĐỒNG NAI ....................................................................36
GAP
Thực hành nông nghiệp tốt
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GNP
Tổng sản phẩm quốc gia
Vùng KTTĐPN
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
CNH – HĐH
Công nghiêp hóa – Hiện đại hóa
HTX
Hợp tác xã
v
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong mục tiêu đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia, xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Nông nghiệp có vai trò quan
trọng trong ổn định kinh tế xã hội tại Việt Nam thông qua tạo việc làm cho 70% dân
số, tạo nguồn cung lương thực thực phẩm đầy đủ, ổn định giá cả. Nông nghiệp cũng là
ngành mũi nhọn của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu vì đây là
ngành có xuất siêu. Đồng thời, nông nghiệp Việt Nam đã cung cấp những điều kiện
cần thiết như thực phẩm và nguồn nguyên liệu giá rẻ để thúc đẩy đầu tư tư nhân vào
lĩnh vực phi nông nghiệp ở Việt Nam. Trong những giai đoạn suy thoái kinh tế xảy ra,
ngành nông nghiệp được cho là khu vực an toàn giúp nền kinh tế Việt Nam giảm bớt
những bất ổn. Ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, từ
một nước thường xuyên thiếu lương thực thì đến năm 2013, ngành lúa gạo Việt Nam
đã đạt sản lượng gạo xuất khẩu 6,681 triệu tấn, đứng thứ 3 trên thế giới chỉ sau Ấn Độ
và Thái Lan, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện về mọi mặt (Hiệp hội lương thực
Việt Nam, 2014). Theo Tổng cục thống kê (2013) thì trong năm 2013, giá trị sản xuất
nông nghiệp (theo giá so sánh 2010) phân theo ngành hoạt động tăng so cùng kỳ năm
trước. Trong đó, trồng trọt tăng 2,26%; chăn nuôi tăng 2,14%; dịch vụ tăng 3,33%.
Tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt khoảng 2,66%.
Đồng Nai nằm ở khu vực cửa ngõ thông ra phía Bắc của Vùng Kinh tế trọng
điểm Phía Nam, kết nối Miền Đông Nam Bộ với Duyên Hải Miền Trung và Nam Tây
Nguyên, có vị trí, vai trò chiến lược về giao lưu kinh tế, thương mại và quốc phòng,
an ninh ở Đông Nam Bộ và Vùng Kinh tế trọng điểm Phía Nam. Đồng Nai là một
trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát huy tích cực vai trò
một đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đồng Nai là một trong 5 tỉnh, thành
phố có giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất trong cả nước. Tuy đạt được những thành
tựu to lớn trong những năm qua, nhưng bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ công
2
3
Phạm vi không gian và thời gian: Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 1990 đến
năm 2014.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn và định lượng.
Thứ nhất, phương pháp nghiên cứu tại bàn: sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, thống kê và so sánh các thông tin thứ cấp được thu
thập từ tài liệu chuyên ngành, sách báo, Internet, v.v để làm cơ sở lý luận phân tích
thực trạng các yếu tố và đưa ra giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành nông
nghiệp Tỉnh Đồng Nai.
Thứ hai, phương pháp định lượng: áp dụng mô hình Cobb-Douglas và số liệu
thu thập trong giai đoạn 1990 đến 2014, tác giả sử dụng phần mềm Stata để phân tích
sự tác động của nguồn lực, vốn và lao động đến sự tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Nai.
Đồng thời tác giả cũng kiểm tra độ tin cậy của số liệu thu thập thông qua việc kiểm tra
tính dừng của số liệu, hiện tượng đa cộng tuyến và kiểm tra phương sai thay đổi.
1.5. Ý NGHĨA LUẬN VĂN.
Đề tài nghiên cứu giúp nhận diện được tầm quan trọng của nông nghiệp đối với
tăng trưởng công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa trên cơ sở mô
hình nghiên cứu định lượng, từ đó giúp cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định có
thể tập trung các chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp góp phần hỗ trợ
cho sự tăng trưởng công nghiệp để hướng đến mục tiêu năm 2020 Việt Nam cơ bản
trở thành nước công nghiệp.
1.6. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nghiên cứu gồm 3 chương được trình bày
như sau:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Sự phân hóa các điều kiện địa hình và đất trồng → phải áp dụng các hệ thống
canh tác khác nhau giữa các vùng.
Tính chất nhiệt đới gió mùa của thiên nhiên nước ta làm tăng thêm tính chất
bấp bênh vốn có của nông nghiệp. Việc phòng chống thiên tai, sâu bệnh hại cây trồng,
dịch bệnh đối với vật nuôi luôn là nhiệm vụ quan trọng.
2.2.1.2 Nước ta đang khai thác ngày càng có hiệu quả đặc điểm của nền nông
nghiệp nhiệt đới.
•
Các tập đoàn cây, con được phân bố phù hợp hơn với các vùng sinh thái nông
nghiệp.
•
Cơ cấu mùa vụ có những thay đổi quan trọng, với các giống ngắn ngày, chống
chịu sâu bệnh và có thể thu hoạch trước mùa bão, lụt hay hạn hán.
•
Tính mùa vụ được khai thác tốt hơn. Việc trao đổi nông sản giữa các vùng,
nhất là giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam ngày càng mở rộng có hiệu
quả.
6
•
Đẩy mạnh sản xuất nông sản xuất khẩu (gạo, cà phê, cao su, hoa quả…) là một
phương hướng quan trọng để phát huy thế mạnh của nông nghiệp nhiệt đới.
7
Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi.
Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất
và sự phân bố cây trồng, vật nuôi. Đất nào, cây ấy. Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai
trò của đất đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp. Nguồn tài nguyên đất nông
nghiệp trên thế giới rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên, trong khi số dân
vẫn không ngừng tăng lên. Tuy diện tích đất hoang hoá còn nhiều, nhưng việc khai
hoang, mở rộng diện tích đất nông nghiệp rất khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức và tiền
của. Đó là chưa kể đến việc mất đất do nhiều nguyên nhân như xói mòn, rửa trôi,
nhiễm mặn và chuyển đổi mục đích sử dụng. Vì vậy, con người cần phải sử dụng hợp
lí diện tích đất nông nghiệp hiện có và bảo vệ độ phì của đất.
2.3.1.2. Khí hậu và nguồn nước
Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xác định cơ cấu cây
trồng, thời vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở từng
địa phương. Sự phân chia các đới trồng trọt chính trên thế giới như nhiệt đới, cận
nhiệt, ôn đới và cận cực liên quan tới sự phân đới khí hậu. Sự phân mùa của khí hậu
quy định tính mùa vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Các điều kiện thời tiết có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát sinh và lan
tràn dịch bệnh cho vật nuôi, các sâu bệnh có hại cho cây trồng. Những tai biến thiên
nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão… gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp.
Chính điều này làm cho ngành nông nghiệp có tính bấp bênh, không ổn định.
2.3.1.3 Sinh vật
Sinh vật với các loài cây con, đồng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên là cơ sở để
thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng và vật nuôi, cơ sở thức ăn tự nhiên cho gia
súc và tạo điều kiện cho phát triển chăn nuôi.
2.3.2. Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế xã hội
2.3.2.1 Dân cư và nguồn lao động
Đất đai ít, ngành nghề và dịch vụ kém phát triển, lao động dư thừa và hàng năm
kinh tế cao (tôm sú, tôm he, cá tra, ba ba, cua, nhuyễn thể 2 vỏ...) đã tạo nên cuộc cách
mạng thực sự trong nuôi trồng thuỷ sản. Công nghệ mới cũng được áp dụng trong các
nghề khai thác như câu vàng cá ngừ, câu cá mực, điều chỉnh kích thước mắt lưới trong
khai thác để bảo vệ nguồn lợi; áp dụng công nghệ làm lạnh nước biển để bảo quản cá,
tôm và các sản phẩm khai thác sau thu hoạch...
Trong lâm nghiệp nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất là trong tuyển
chọn, tạo giống mới, nhân nhanh giống bằng công nghệ mô, hom được đưa vào sản
9
xuất, góp phần cải thiện năng suất, chất lượng rừng. Hiện nay, nhiều diện tích rừng
kinh tế được trồng bằng giống tiến bộ kỹ thuật. Tỷ lệ thành rừng đối với rừng trồng
tăng từ 50% bình quân vào những năm 1990 lên trên 80%, nhiều nơi năng suất rừng
trồng đã đạt 15 – 20m3/ha/năm.
Trong chế biến nông, lâm, thuỷ sản, ngoài việc chủ động đổi mới công nghệ,
thiết bị, đa dạng hoá sản phẩm, còn tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát vệ sinh an
toàn thực phẩm tại vùng nguyên liệu và các cơ sở sơ chế, bảo đảm chất lượng nguyên
liệu và sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
Trong thuỷ lợi, nhiều công nghệ mới được áp dụng trong xây dựng và quản lý,
như công nghệ bê tông đầm lăn, kè bản nhựa, van nhựa tổng hợp, đập xà lan di động,
đập cao su, bơm di động trên ray, công nghệ điều khiển từ xa trong quản lý, điều hành
các công trình thuỷ lợi...
2.3.2.3. 2 Cơ khí hoá nông nghiệp có bước tiến bộ
Đến năm 2013, nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp đạt tỷ lệ cơ giới hoá
cao, như: làm đất đạt 70%, tưới tiêu nước 85%, tuốt lúa 83,6%; xay xát lúa gạo đạt
95%; phát triển mạnh máy gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa ở đồng bằng sông
Cửu Long .Tổng công suất tàu, thuyền đánh bắt thuỷ sản năm 2006 đạt 5,8 triệu CV;
công suất trung bình máy tàu tăng từ 17,5 CV/tàu (năm 1990) lên 60,6 CV/tàu.
2.3.2.3.3 Thị trường
tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn
gốc của tăng trưởng. Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng
hai khu vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L
labor), yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực
kinh tế [Ricardo, 1817, 1821, 1978].
2.4.1.2. Nghiên cứu của Oshima (1955)
Khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động nhưng chỉ lúc thời vụ không căng
thẳng. Do đó đầu tư theo chiều sâu cho cả nông nghiệp và công nghiệp là không khả
thi vì nguồn lực và trình độ lao động có giới hạn của các nước đang phát triển. Vì vậy,
Oshima đề nghị:
Giai đoạn 1: Nhằm đa dạng hoá sản xuất, giải quyết nhu cầu lao động – việc
làm ngay tại khu vực nông nghiệp – nông thôn mà không cần dịch chuyển qua khu
vực công nghiệp Oshima cho rằng nên đầu tư phát triển cho nông nghiệp theo chiều
rộng. Đầu tư theo hướng này phù hợp với nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp, trình độ
11
kỹ thuật nông nghiệp tương đối và không đòi hỏi vốn đầu tư lớn như đầu tư cho khu
vực công nghiệp.
Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn phải đầu tư đồng thời theo bề rộng các ngành
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Đối với ngành nông nghiệp cần phải đa dạng
hóa sản xuất, ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất theo quy mô lớn (trang trại)
nhằm mở rộng quy mô sản lượng. Còn với ngành công nghiệp, phải phát triển công
nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành công
nghiệp thâm dụng lao động. Như vậy, phát triển nông nghiệp nghĩa là tạo điều kiện để
mở rộng thị trường công nghiệp, tăng thêm quy mô sản xuất từ đó mở rộng tối đa việc
làm.
Giai đoạn 3: Phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm nhu cầu lao
động. Sự phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của giai đoạn 2
1
RP
1 n n
Ra Pa
Từ mô hình này, theo Kuztnets (1966), Ghatak và Ingersent (1984), kinh
nghiệm một số nước đang phát triển cho thấy: trong quá trình công nghiệp hóa đã đẩy
nhanh tốc độ phát triển công nghiệp mà không có phát triển song song nông nghiệp sẽ
bị rơi vào cái bẫy (Trap) của việc xem nhẹ vai trò đóng góp của nông nghiệp. Đối với
các nước có khởi điểm từ một nền kinh tế mà nông nghiệp còn đóng góp quan trọng
trong GDP, việc làm cho xã hội, ngoại tệ còn khan hiếm, thì việc đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng công nghiệp sẽ dẫn đến dịch chuyển nhanh lao động từ khu vực nông
nghiệp sang khu vực công nghiệp. Bên cạnh đó nguồn lực tập trung đầu tư cho công
nghiệp, còn nông nghiệp bị bỏ qua hoặc xem nhẹ thì tổng sản phẩm của nông nghiệp
giảm tạo ra khan hiếm lương thực thực phẩm dẫn đến phải nhập khẩu lương thực.
Điều này sẽ làm trầm trọng thêm nguồn ngoại tệ vốn dĩ đã khan hiếm. Mặt khác thu
nhập của công nhân ở khu vực thành thị có cao hơn lao động nông nghiệp nhưng trong
giai đoạn đầu của quá trình phát triển, việc chi cho lương thực thực phẩm chiếm một
phần lớn trong thu nhập của họ và thường là cầu lương thực thực phẩm co dãn theo
thu nhập trong giai đoạn này. Hệ quả là khan hiếm lương thực thực phẩm sẽ trầm
trọng hơn. Từ đó dẫn tới sự tăng giá lương thực thực phẩm, lạm phát tăng, thu nhập
công nhân giảm , lại đòi hỏi nâng cao tiền lương của khu vực công nghiệp. Tuy nhiên
tiền lương tăng không tương ứng với năng suất lao động tăng, nên tích lũy của khu
vực công nghiệp và tái đầu tư mở rộng giảm. Một khi điều này xảy ra, tốc độ tăng
trưởng của công nghiệp sẽ sụt giảm. Như vậy cả công nghiệp và nông nghiệp đều bị
ảnh hưởng trong tăng trưởng, cuối cùng tăng trưởng chung của nền kinh tế cũng bị
hạn chế. Do đó để không vướng cái bẫy này, chiến lược phát triển thích hợp là thúc
13
14
Tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp được được giảm thiểu nhờ phát triển cơ
cấu cây trồng, con vật nuôi trên từng đơn vị diện tích đấtnông nghiệp, trên từng hộ
theo hướng hỗn hợp và đa dạng, để thay thế cho chế độ canh tác độc canh trong sản
xuất ở giai đoạn trước.
Những biện pháp làm tăng năng suất trong nông nghiệp như sử dụng giống mới
kết hợp với phân bón hóa học và nước tưới tiêu chủ động đã được áp dụng. Điều này
dẫn đến sản lượng lương thực tăng đồng thời tiết kiệm được diện tích đất sản xuất,
phát triển được nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác.
Nhờ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa mà trong giai
đoạn này sự gia tăng chủ yếu của sản lượng nông nghiệp là từ nâng cao sản lượng trên
một diện tích đất nông nghiệp và sản xuất hướng tới thị trường, thoát khỏi vòng lẩn
quẩn tự cung tự cấp.
Giai đoạn 3: Nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại. Được xem như là giai
đọan phát triển cao nhất của nông nghiệp thể hiện qua các điểm sau:
Thứ nhất, người sản xuất đặt mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận, ứng dụng chuyên
môn hóa trong sản xuất ở các trang trại và sản xuất được cung ứng hoàn toàn cho thị
trường.
Thứ hai, yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng nông nghiệp chính là
yếu tố vốn và công nghệ.
Thứ ba, đặc biệt ngành nông nghiệp lúc này đã phát hiện ra lợi thế về quy mô,
kết hợp áp dụng sự tiến bộ của công nghệ mới trong sản xuất, tiến đến sản xuất một
vài loại sản phẩm riêng biệt.
2.4.2.2 Nghiên cứu của Park (1992)
Theo Park nông nghiệp trải qua quá trình phát triển gồm 3 giai đoạn: sơ khai,
đang phát triển và phát triển. Sản lượng nông nghiệp ở mỗi giai đoạn phát triển phụ
thuộc vào các yếu tố khác nhau và được mô tả dưới dạng hàm sản xuất.
ngành nông nghiệp có một sự chuyển biến rõ rệt. Bên cạnh việc phụ thuộc các yếu tố
N,L ở giai đoạn trước sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào
được sản xuất từ khu vực công nghiệp (phân bón, thuốc hóa học). Hàm sản xuất lúc
này:
16
Y = F(N,L) + F(R)
R: Đầu vào do công nghiệp cung cấp
Có thể thấy trong giai đoạn đang phát triển, sản lượng trên 1 ha đất nông nghiệp
(còn gọi là năng suất đất) tăng lên tương ứng với lượng phân bón và thuốc hóa học sử
dụng tăng lên.
F2
Y/S
F1
O
R
Hình 2.2. Năng suất biên của lao động nông nghiệp
Đường biểu diễn F2 thể hiện sản lượng trên 1 ha ở giai đoạn đang phát triển. Ta
cũng thấy rằng đường F2 cao hơn nhiều so với đường F1, nghĩa là sản lượng trên 1 ha ở
giai đoạn đang phát triển cao hơn sản lượng trên 1 ha ở giai đoạn sơ khai. Trong giai
đoạn đang phát triển này, sử dụng phân bón hóa học nhiều hơn làm cho sản lượng
tăng nhanh, rồi sau đó giảm xuống theo quy luật năng suất biên giảm dần.
y2
I1
y1
F4
K1 K2
K
L2 L1
L
Hình 2.3. Năng suất lao động và thu nhập của một lao động nông nghiệp
Trong hình 2.3, Ở mức vốn K1, ta xác định được năng suất lao động (y1), thu
nhập là I1 và số lượng lao động tương ứng là L1. Khi vốn tăng lên K2, năng suất lao
động (y2), thu nhập là I2 và số lượng lao động tương ứng là L2. Do thay đổi vốn làm
cho năng suất lao động tăng, nâng cao thu nhập và tiết kiệm được lao động (L2- L1).
Trong các nước đang phát triển và phát triển thu nhập bình quân của người lao
động nông nghiệp có sự chênh lệch rất lớn vì khác nhau năng suất lao động. Theo