ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU NHÓM TỪ BIỂU THỊ HỌAT ĐỘNG
THỊ GIÁC CỦA CON NGƯỜI
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU NHÓM TỪ BIỂU THỊ HỌAT ĐỘNG
THỊ GIÁC CỦA CON NGƯỜI
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2009
2
4
MỤC LỤC
Trang
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
3
1. Lí do chọn đề tài
4
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
6
3. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
7
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
8
4.1. Phƣơng pháp miêu tả
8
22
2.1. Trƣờng nghĩa biểu thị hoạt động thị giác của con
ngƣời trong tiếng Việt
22
2.1.1. Xác lập trƣờng nghĩa miêu tả hoạt động thị giác của
con ngƣời trong tiếng Việt
22
2.1.2. Miêu tả trƣờng nghĩa hoạt động thị giác của con
ngƣời trong tiếng Việt
25
a. Phân tích cấu trúc nghĩa của các nghĩa tố trong trƣờng nghĩa
25
5
b. Hiện tƣợng đồng nghĩa trong trƣờng nghĩa
35
2.2. Trƣờng từ vựng của trƣờng nghĩa hoạt động thị giác
49
3.3. Các nghĩa tố trong trƣờng nghĩa miêu tả các từ chỉ
hoạt động thị giác của con ngƣời trong tiếng Pháp
56
3.4. Trƣờng từ vựng của trƣờng nghĩa hoạt động thị giác
của con ngƣời trong tiếng Pháp
71
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
78
6
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhƣ các ngành khoa học khác, Ngôn ngữ học là một ngành tri thức vô
cùng rộng lớn và rất hữu ích cho bất cứ ai quan tâm đến lĩnh vực này. Chúng
ta đang sống trong thế giới của từ ngữ. Khó có giây phút nào qua đi mà lại
không có ai nói, viết hoặc đọc cái gì đó. Vì “Ngôn ngữ là một hệ thống tín
hiệu âm thanh đặc biệt, là phƣơng tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của
các thành viên trong một cộng đồng ngƣời; ngôn ngữ đồng thời cũng là
các giác quan, có lẽ thị giác đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong
khối lƣợng thông tin của thế giới bên ngoài, đƣợc hấp thụ vào trong kho tàng
kiến thức của mỗi cá nhân. Những cơ quan giúp chúng ta tích luỹ thông tin có
thể là mắt, mũi, tai, chân tay... và dĩ nhiên là khi chúng ta tƣờng thuật lại
những thông tin chúng ta có đƣợc, những thông tin đó đã trải qua một quá
trình lọc của nhận thức và điều đó mang theo tính chủ quan cảm nhận của
từng chủ thể riêng biệt. Những trải nghiệm mà chúng ta có đƣợc đều liên quan
đến cơ thể về mặt sinh học. Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể nói về những
thứ chúng ta nhận thức đƣợc, hiểu đƣợc. Và những thứ mà chúng ta nhận thức
đƣợc xuất phát từ những trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
Langacker cho rằng để hình thành nên giá trị khái niệm của nghĩa và
ngữ pháp, chúng ta cần quan tâm đến vai trò của những trải nghiệm về không
gian và thị giác trong việc hình thành nên những yếu tố khác nhận thức. Ông
nhấn mạnh vai trò của thị giác vừa mang tính chất bao phủ, nghĩa là sâu rộng,
ở đâu cũng tồn tại, vừa mang tính chất rất quan trọng. Hiện tƣợng bày tỏ việc
hiểu hoặc biết nghĩa của một câu hay một sự vật, hiện tƣợng thông qua thị
giác là hiện tƣợng điển hình. Chính điều này cho chúng ta thấy đƣợc cách
thức mà ngôn ngữ phản ánh mối quan hệ giữa những cảm nhận về mặt sinh
học và quá trình ý niệm hoá tinh thần.
Thị giác không chỉ đóng vai trò quan trọng giúp chúng ta định vị
trong không gian mà còn giúp chúng ta xác lập những quan điểm cụ thể của
từng cá nhân và từ đó đƣa ra những nhận xét về sự vật, hiện tƣợng phản ánh
quan điểm của mình. Cùng một sự vật, hiện tƣợng trong thế giới khách quan,
nhƣng thông qua lăng kính tri nhận của ngƣời nói hoặc viết, chúng ta có thể
đƣa ra những phát biểu mô tả khác nhau về mặt ngôn ngữ. Điều này chứng tỏ
ngôn ngữ bị ảnh hƣởng lớn bởi cảm nhận tri giác, đặc biệt là cơ quan thị giác
của con ngƣời.
8
Nội, Từ điển Pháp - Pháp - Việt của Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, 2005,
9
Từ điển Le Petit Larousse, Imprimerie Carteman - Tournai, 1992. Qua việc
nghiên cứu này, chúng ta sẽ một phần nào đƣợc sáng tỏ thêm đặc điểm cấu
trúc của nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con ngƣời trong hai ngôn ngữ.
3. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Đề tài “Nghiên cứu nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con
người trong tiếng Việt và tiếng Pháp” nhằm mục đích sau:
Khảo sát cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị hoạt động của mắt
trong tiếng Việt và tiếng Pháp.
Rút ra những điểm giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ.
Thấy đƣợc những đặc trƣng về văn hoá của hai dân tộc thông qua
việc nghiên cứu nhóm từ vựng - ngữ nghĩa này.
Ngoài ra, đề tài còn có một ý nghĩa nhất định cả về mặt lí luận và
thực tiễn.
Về mặt lý luận: khảo sát, nghiên cứu và đối chiếu cấu trúc nghĩa của
một nhóm từ trong tiếng Việt và tiếng Pháp, góp phần bổ sung những lí thuyết
nghiên cứu về trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa; đồng thời đem đến một bức tranh
ngữ nghĩa với những điểm tƣơng đồng và dị biệt ở hai ngôn ngữ trong cùng
một trƣờng nghĩa. Việc khảo sát và nghiên cứu trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa
trong tiếng Việt và tiếng Pháp là tƣơng đối khó khăn vì hai ngôn ngữ hoàn
toàn không có quan hệ họ hàng với nhau, thuộc loại hình ngôn ngữ khác
nhau; hai nƣớc, hai dân tộc nói hai thứ tiếng này lại ở hai khu vực rất khác
nhau, có những đặc điểm văn hoá, lịch sử, phong tục khác nhau... Tuy nhiên,
việc nghiên cứu sẽ góp phần nhỏ bé trong việc làm sáng tỏ những khác biệt về
ngôn ngữ và văn hoá giữa tiếng Việt và tiếng Pháp, đồng thời bổ sung thêm lí
thuyết so sánh đối chiếu các ngôn ngữ.
Về mặt thực tiễn: Việc khảo sát cấu trúc nghĩa của nhóm từ biểu thị
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phƣơng pháp miêu tả
4.1.1. Thủ pháp phân tích nghĩa tố
Thủ pháp pháp phân tích nghĩa tố có vai trò quan trọng trong việc
xác định cấu trúc nghĩa của trƣờng nghĩa. Thủ pháp này giúp chúng ta phân
chia nội dung nghĩa của từ thành các nghĩa tố khác nhau. Mỗi từ đƣợc cấu
thành từ một số nghĩa tố nhất định theo những quan hệ xác định nào đó.
11
Thủ pháp phân tích nghĩa tố còn cho phép chúng ta có thể miêu tả
một số lƣợng lớn các từ của ngôn ngữ tự nhiên bằng một số lƣợng hữu hạn
các nghĩa tố. Bởi vì từ vựng là sự kết hợp của các thành tố ngữ nghĩa, mọi
nghĩa đều có thể chia ra thành những yếu tố nghĩa nhỏ nhất không thể chia
nhỏ đƣợc hơn nữa. Ngƣời ta cho rằng, có thể miêu tả tất cả các từ của ngôn
ngữ bằng một số hữu hạn các nghĩa tố nhƣ vậy. Những tƣ tƣởng này có cả ở
Mĩ, Pháp, Nga và các nƣớc khác. Đối với ngữ vị học của Hjemslev, tất cả cái
hiểu biện và cái đƣợc biểu hiện của tín hiệu có thể phân tích thành các đơn vị
có tính chất yếu tố tạo thành của chúng. Những đơn vị nhƣ vậy L.Hjemslev
gọi là các cấu hình (figure). Phân tích thành tố ở Mĩ xuất phát từ nhân học
ngôn ngữ (linguistic anthropology). Theo cách phân tích này, các đơn vị đƣợc
phân tích ra thành một chuỗi các đặc trƣng ngữ nghĩa (semantic features), hay
các thành tố nghĩa (components). Đây chính là một quá trình phân tích nghĩa
của từ thành các nét khu biệt tối thiểu, tức là phân tích thành những yếu tố đối
lập với những yếu tố khác. GS.TS Nguyễn Thiện Giáp (Các phương pháp
nghiên cứu ngôn ngữ, Nhà in ĐHQGHN, 2009) đã cho chúng ta thấy đƣợc
những quan niệm khác nhau về đặc điểm của nghĩa tố nhƣ sau:
i) Nghĩa tố là yếu tố nhỏ nhất của khái niệm, nó có tính chất liên
ngữ.
Thủ pháp thống kê sẽ giúp chúng ta có đƣợc những thông tin định
lƣợng về cấu trúc nghĩa cũng nhƣ đặc trƣng của trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa
miêu tả hoạt động của mắt trong hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Pháp.
4.2. Phƣơng pháp so sánh - đối chiếu
Phƣơng pháp so sánh - đối chiếu là một hệ thống các thủ pháp phân
tích đƣợc sử dụng để phát hiện cái chung và cái riêng trong các ngôn ngữ
đƣợc so sánh. Phƣơng pháp so sánh - đối chiếu tạo ra khả năng phát hiện
những đặc điểm kết cấu của các ngôn ngữ khác nhau.
Nhiệm vụ của việc so sánh - đối chiếu trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa là
xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt
động và sự phát triển của chúng; phát hiện và vạch ra những đặc điểm của các
ngôn ngữ còn bị giấu kín khi nghiên cứu một ngôn ngữ. Phƣơng pháp so sánh
- đối chiếu cũng đƣợc sử dụng để phát hiện những quy luật và khuynh hƣớng
đặc trƣng tiêu biểu cho các ngôn ngữ, giúp chúng ta xác định các yếu tố tƣơng
đƣơng giữa các ngôn ngữ.
13
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG
14
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN
1.1. LÍ THUYẾT VỀ TRƢỜNG NGHĨA
Lí thuyết trƣờng nghĩa (theory of semantic fields) xuất phát từ những
tiền đề của trƣờng phái Humboldt mới và phần nào từ những tƣ tƣởng của F.
ra thành những trƣờng hoặc những phạm vi khái niệm một cách rõ ràng.
Những phạm vi đó tồn tại trong ý thức ngôn ngữ của một cộng đồng ngôn
ngữ nào đó. Tất cả thành phần từ vựng đƣợc phân bố theo những phạm vi
hoặc những trƣờng đó. J. Trier đã giả định sự song song giữa trƣờng khái
niệm và trƣờng từ vựng, tức là giữa bình diện nội dung và bình diện biểu
hiện. Theo ông, trƣờng từ vựng bao phủ lên trƣờng khái niệm nhƣ một cái
hình ghép, cái áo khoác hay tấm vải phủ. Một từ chỉ có ý nghĩa khi nằm ở
trong trƣờng, nhờ những quan hệ của nó với các từ khác cũng thuộc trƣờng
ấy. Ông viết: “Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận đƣợc ý nghĩa qua cái toàn thể.
Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào đó không phải là đại diện tách biệt của ý
nghĩa, ngƣợc lại, mỗi một từ có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ với
nó”. Rõ ràng, cơ sở lí luận của lí thuyết trƣờng nghĩa là duy tâm, nó thoát li
thực tế nhận thức thế giới, tách rời hẳn ngôn ngữ với chức năng tự nhiên của
nó là một phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời để sa vào một
lĩnh vực các tƣ tƣởng thuần tuý. Thực ra, ý nghĩa của từ không đồng nhất với
khái niệm. Cách quan niệm trƣờng nghĩa là cấu trúc của những khái niệm liên
quan lẫn nhau, nhƣ thế chƣa bao gồm các đơn vị ngôn ngữ là ý nghĩa. Các
trƣờng khái niệm đƣợc phân xuất trên cơ sở logic thuần tuý, không phải dựa
trên tài liệu ngôn ngữ.
Khuynh hƣớng thứ hai cố gắng xây dựng lí thuyết trƣờng nghĩa trên
cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học. Trƣờng nghĩa không phải là phạm vi các
khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ với nhau về
nghĩa. Những trƣờng nghĩa đƣợc xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ học cũng rất
phong phú và đa dạng. Trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học”, GS.TS
Nguyễn Thiện Giáp đã trình bày rất cụ thể về khuynh hƣớng này nhƣ sau:
Ipsen đã căn cứ vào hình thái và chức năng của các từ để xây dựng
trƣờng nghĩa. Theo ông, trƣờng nghĩa bao gồm các từ có quan hệ họ hàng
với nhau về tiêu chí hình thái và ý nghĩa. Ví dụ: những tên gọi kim loại
trong các ngôn ngữ Ấn - Âu đều có hình thái giống trung và hoạt động ngữ
Handeeule
“bàn chỉ tay”
Ở đây, các thành tố Nest, Augen đã nhập vào lĩnh vực những biểu
tƣợng gắn liền với chim chóc, còn các thành tố Keh, Hande lại thuộc về các
biểu tƣợng gắn liền với bàn chải.
Một kiểu trƣờng nghĩa khác gọi là “trƣờng từ vựng - cú pháp” do
Mỹller và Porzig xây dựng trƣờng nghĩa căn cứ vào các ý nghĩa ngữ pháp của
các quan hệ. Các ông cho rằng ý nghĩa của từ lệ thuộc vào những liên hệ cú
pháp. Vì vậy, trƣờng của các ông là những quan hệ đơn giản gồm động từ
hành động và danh từ chủ thể hành động hay danh từ bổ ngữ, tính từ và
danh từ...
Tuy nhiên, kiểu trƣờng nghĩa đƣợc xem là phổ biến nhất đƣợc gọi là
“nhóm từ vựng - ngữ nghĩa”. Theo quan điểm của Weisgerber, sự phân chia
ngữ nghĩa của một hệ thống ngôn ngữ đƣợc xác định không phải bởi những
mối quan hệ có thực trong thực tế khách quan, mà đƣợc xác định bởi những
nguyên tắc nằm trong bản thân ngôn ngữ, trong kết cấu ngữ nghĩa của nó.
Mỗi dân tộc có các nguyên tắc phân chia thế giới bên ngoài của mình, có quan
17
điểm của mình đối với thực tế xung quanh; do đó hệ thống ngữ nghĩa của các
dân tộc cũng khác nhau, đồng thời các trƣờng của chúng đƣợc xây dựng nên
cũng không trùng nhau. Vì vậy, Weisgerber thích dùng thuật ngữ “trƣờng từ
vựng”, “trƣờng ngôn ngữ” hơn.
Tiêu chuẩn để tập hợp các từ vào nhóm từ vựng - ngữ nghĩa này
thƣờng rất khác nhau. Ngƣời ta có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát,
chúng ta nghiên cứu từ vựng của một ngôn ngữ trong sự so sánh với các ngôn
ngữ khác (cùng hoặc không cùng nguồn gốc và loại hình). Hiện nay, ngƣời ta
đang cố gắng xây dựng những lí thuyết trƣờng nghĩa dựa trên các tiêu chí
ngôn ngữ học. Trƣờng nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa
mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa. Những trƣờng nghĩa
đƣợc xây dựng trên cơ sở các từ nhƣ thế cũng có nhiều kiểu khác nhau. Mặc
dù có nhiều quan điểm đa dạng về những vấn đề cá biệt nhƣng vẫn có thể
nhận thấy hai con đƣờng chủ yếu trong việc khảo sát các trƣờng nghĩa.
Theo thuật ngữ của GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, chúng ta có các loại
trƣờng nghĩa sau:
Các trường đối vị: Thuộc vào các trƣờng đối vị là những lớp hạng
các đơn vị từ vựng đa dạng, có chung một tiêu chí ngữ nghĩa nào đó: các
nhóm từ vựng - ngữ nghĩa của các từ, các từ đồng nghĩa, các từ trái nghĩa,
toàn bộ các ý nghĩa liên hệ lẫn nhau của từ đa nghĩa, hệ thống cấu tạo từ, các
từ loại và các phạm trù ngữ pháp của chúng.
Các tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ
nghĩa duy nhất có thể rất khác nhau. Weisgerber (1962) đã viết: “Trƣờng từ
vựng hoạt động với tƣ cách là cái toàn thể, do đó để nhận thức ý nghĩa của
các thành tố riêng biệt của nó cần phải trình bày tất cả các trƣờng và đi tìm vị
trí cảu thành tố này trong kết cấu của nó”. Theo quan điểm của ông, sự phân
chia ngữ nghĩa của hệ thống ngôn ngữ đƣợc xác định không phải bởi những
mối quan hệ có thực trong thực tế khách quan, mà đƣợc xác định bởi những
nguyên tắc nằm trong bản thân ngôn ngữ, trong kết cấu ngữ nghĩa của nó.
Mỗi dân tộc có các nguyên tắc phân chia thế giới bên ngoài của mình, có quan
điểm của mình đối với thực tế xung quanh, do đó các hệ thống ngữ nghĩa của
các ngôn ngữ cũng khác nhau, cũng nhƣ các trƣờng đƣợc xây dựng nên của
chúng không trùng nhau. Do đó, Weisgerber cho rằng cần phải rút ra những
nguyên tắc là cơ sở của sự phân chia từ vựng thành các trƣờng từ trong bản
19
iiii) Quan hệ nghịch đảo. Ví dụ: mua - bán...
20
Về nguyên tắc, mối quan hệ trái nghĩa là mối quan hệ đối xứng: một
trong hai từ trái nghĩa thuộc một cặp nào đó phức tạp hơn về mặt ngữ nghĩa
so với từ kia. Những từ có quan hệ tƣơng phản thể hiện sự đối lập về mức độ
của các thuộc tính, phẩm chất của sự vật, hiện tƣợng.
Đặc biệt, ngƣời ta cũng coi là trƣờng nghĩa cả những kết cấu ngữ nghĩa
của các từ nhiều nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ nhiều nghĩa
thƣờng có một yếu tố ngữ nghĩa chung tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa.
Toàn bộ các nghĩa khác nhau của một từ tạo ra một trƣờng nghĩa nhỏ nhất
[34 - 35].
Ngƣời ta còn xếp cả từ loại, tiểu loại vào những nhóm từ vựng - ngữ
nghĩa. Từ loại cũng thuộc trƣờng đối vị, tức là các lớp hạng ngữ nghĩa - ngữ
pháp của các từ, bởi vì các từ thuộc vào một từ loại hoặc một tiểu loại cũng có
cùng một ý nghĩa khái quát chung. Chẳng hạn, ý nghĩa sự vật ở danh từ, ý
nghĩa hành động ở động từ, ý nghĩa tính chất ở tính từ. Bởi vì các nghĩa tố cú
đoạn và các vị trí cú đoạn tƣơng ứng với chúng là cơ sở của sự đồng nhất của
các lớp từ này, cho nên có ngƣời gọi chúng là các lớp cú đoạn. Với tƣ cách là
các lớp ngữ nghĩa - cú đoạn của các từ, các từ loại có hai sự phân loại bên
trong. Một mặt, chúng đƣợc chia ra các tiểu loại của từ nhƣ danh từ động vật
và danh từ chỉ sự vật vô tri, các tính từ chỉ phẩm chất và quan hệ, các động ừt
chỉ hành động và trạng thái. Mặt khác, các từ loại đƣợc chia ra các lớp hình
thái từ, thống nhất bởi các ý nghĩa ngữ pháp bất biến về cách, số, giống,
thời, thể... [34 - 36].
Các trường cú đoạn: là những lớp từ có quan hệ chặt chẽ với nhau
về mặt sử dụng nhƣng không bao giờ gặp trong một ví dụ cú pháp. W. Pozig
là ngƣời đầu tiên nghiên cứu những trƣờng này. Ông cho rằng: ý nghĩa của từ
giác của con ngƣời.
1.2. PHÂN BIỆT TRƢỜNG NGHĨA VÀ TRƢỜNG TỪ VỰNG
Có ngƣời quan niệm trƣờng nghĩa là cả những kết cấu ngữ nghĩa của
các từ nhiều nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ nhiều nghĩa thƣờng
có một yếu tố ngữ nghĩa chung tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa. Nhƣng có lẽ
quan điểm này đã nhầm lẫn sang cái gọi là trƣờng từ vựng. Một điều cần thiết
khi nghiên cứu các trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa là phải phân biệt cho đƣợc
trƣờng nghĩa và trƣờng từ vựng.
Mặc dù trƣờng từ vựng đƣợc xác định thông qua một trƣờng nghĩa
cụ thể thì nó vẫn bao hàm nhiều đơn vị từ vựng thuộc các trƣờng nghĩa khác
22
và các trƣờng nghĩa này cũng tham gia xác định các trƣờng từ vựng khác. Do
vậy, một trƣờng từ vựng, vốn có phạm vi giới hạn mập mờ: một trƣờng từ
vựng nối với nhiều trƣờng từ vựng khác và đến lƣợt chúng, các trƣờng từ
vựng này cũng nối với nhiều trƣờng từ vựng khác nữa và kết quả là các
trƣờng từ vựng có thể tạo nên một mạng lƣới bao hàm tất cả kho từ vựng của
một ngôn ngữ.
Igor A Mel’cuk và một số nhà ngôn ngữ học khác phân biệt rõ
trƣờng nghĩa (champ sémantique) và trƣờng từ vựng (champ lexical). Các ông
định nghĩa về trƣờng nghĩa nhƣ sau:
“Trường nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố
nghĩa có giá trị nhận diện một trường nghĩa”.
Theo các ông, đơn vị từ vựng có thể là một từ vị (lexème) hay một
đơn vị thành ngữ (phrasème). Đến lƣợt mình, từ vị đƣợc định nghĩa là một từ
xét theo một nghĩa duy nhất đƣợc xác định rõ, đi kèm với tất cả các thông tin
về sự hoạt động của nó trong một văn bản; đơn vị thành ngữ đƣợc định nghĩa
là một ngữ (locution) xét theo một nghĩa duy nhất đƣợc xác định rõ, đi kèm
Editions Duculot, 1995.
8. Nguyễn Kim Thản. Động từ tiếng Việt, NXB KHXH, 1997.
9. Nguyễn Ngọc Trâm. Đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp của nhóm từ biểu
thị tâm lí - tình cảm trong tiếng Việt. Luận án Phó tiến sĩ khoa học ngữ văn,
1991.
10. Nguyễn Thiện Giáp. Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, NXB
ĐHQG Hà Nội, 2009.
11. Nguyễn Thiện Giáp. Giáo trình ngôn ngữ học, NXB ĐHQG Hà Nội,
2008.
12. Nguyễn Thiện Giáp. Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2003.
13. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục,
2003.
14. Nguyễn Thiện Giáp. Lược sử Việt ngữ học - Tập 1, NXB Giáo dục,
2004.
24
15. Nguyễn Văn Hiệp. Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, 2007.
16. Nguyễn Thuý Khanh. Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động
vật. Luận án Tiến sĩ, 1996.
17. Nguyễn Văn Tu. Các nhóm từ đồng nghĩa trong tiếng Việt, NXB Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, 1982.
18. Nguyễn Vân Phổ. Vị từ tri giác tiếng Việt.
19. Nguyễn Thị Quy. Vị từ hành động tiếng Việt.
20. Thông tin khoa học số 5 năm 2008, NXB ĐHQG Hà Nội.
21. Tạp chí ngôn ngữ số 9 năm 2008.
22. Tạp chí ngôn ngữ số 8 năm 2009.
23. Từ điển Pháp - Việt, NXB KHXH, 1992.
24. Từ điển Việt - Pháp, NXB KHXH, 1994.