ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------
NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
CHIẾN TRANH VÀ CON NGƯỜI TRONG
HAI TIỂU THUYẾT MÙA HÈ GIÁ BUỐT VÀ
PHƯỢNG HOÀNG CỦA VĂN LÊ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Tôn Phương Lan
Hà Nội - 2016
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................. Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 5
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 5
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 12
3.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 12
3.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 12
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 12
5. Đóng góp của luận văn .......................................................................... 12
6. Cấu trúc luận văn................................................................................... 14
Chương 1:VĂN LÊ VÀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONGTIỂU THUYẾT VIỆT
1.2.3.1. Sơ lược về tiểu thuyết Mùa hè giá buốt ... Error! Bookmark not
defined.
1.2.3.2. Sơ lược về tiểu thuyết Phượng hoàng: .... Error! Bookmark not
defined.
Chương 2:HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI
TRONG TIỂU THUYẾT MÙA HÈ GIÁ BUỐT VÀ PHƯỢN HOÀNG CỦA VĂN LÊ
.......................................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.1. Bức tranh hiện thực về cuộc chiến tranh tàn khốc trong tiểu thuyết
Mùa hè giá buốt và Phượng hoàng............... Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Bản anh hùng ca chiến trường ......... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Chiến trường khốc liệt và bi tráng.... Error! Bookmark not defined.
2.2. Người lính trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt và Phượng hoàng
.......................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Những gương mặt người lính trong cuộc chiến..... Error! Bookmark
not defined.
2.2.2. Những phẩm chất cao đẹp của người lính trong chiến tranh . Error!
Bookmark not defined.
2.2.2.1. Lòng dũng cảm ......................... Error! Bookmark not defined.
2.2.2.2. Sự thông minh và sáng tạo trong chiến đấu .. Error! Bookmark
not defined.
2.2.3. Tình yêu trong chiến tranh ............... Error! Bookmark not defined.
2.2.4. Những suy ngẫm sâu xa của con người về cuộc chiến tranh .. Error!
Bookmark not defined.
2.2.4.1. Người lính nghĩ về chiến tranh . Error! Bookmark not defined.
2.2.4.2. Nhân dân nghĩ về chiến tranh ... Error! Bookmark not defined.
Chương 3:NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BỨC TRANH CUỘC CHIẾN TRANH VÀ
CHÂN DUNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT MÙA HÈ GIÁ BUỐT VÀ
Thi với Vỡ bờ, Mặt trận trên cao, Anh Đức với Một chuyện chép ở bệnh viện, Hòn
Đất, Phan Tứ với Mẫn và tôi, Nguyễn Thi với Người mẹ cầm súng, Những đứa con
của đất, Nguyễn Minh Châu với Cửa sông, Dấu chân người lính, Cỏ lau, Nguyễn
Trọng Oánh với Đất trắng, Nguyên Ngọc với Đất nước đứng lên, Bảo Ninh với
Nỗi buồn chiến tranh, Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng, Khúc bi tráng cuối cùng,
Khuất Quang Thụy với Trong cơn gió lốc, Nguyễn Trí Huân với Chim én bay,…
Sáng tác của các nhà văn về đề tài chiến tranh đã làm phong phú, sinh động diện
mạo của nền văn học đương đại. Bốn mươi năm đã qua, giờ đây đề tài này vẫn
được tiếp tục cả ở những nhà văn thuộc thế hệ mới như Nguyễn Đình Tú với Xác
phàm, Nguyễn Xuân Thủy với Biển xanh màu lá… Trong số các thể loại văn học,
tiểu thuyết với khả năng chứa đựng, phản ánh phạm vi đời sống một cách rộng lớn
đã trở thành thể loại được các nhà văn lựa chọn nhiều. Các tiểu thuyết viết về chiến
tranh đã thực sự giúp bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về cuộc chiến tranh đã qua của dân
tộc như trong bài Tiểu thuyết về chiến tranh – nhìn từ hôm nay, nhà nghiên cứu
Phong Lê đã nhìn nhận “đề tài chiến tranh là một đề tài không bao giờ cũ. Và nếu
chú ý đến sự xuất hiện khá dồn dập của tiểu thuyết chỉ trong dăm năm, và với sự
tiếp tục của đội ngũ viết, ta có thể thấy cái kho kí ức về chiến tranh không bao giờ
vơi cạn và đang được chuyển dần cho thế hệ sau”.
5
Trong số các nhà văn trưởng thành sau chiến tranh, đội ngũ những nhà văn
lớn lên từ chiến hào có những đặc biệt. Họ là những nhà văn trực tiếp cầm súng và
có những trải nghiệm nhất định về cuộc sống, về chiến tranh. Mặt khác, đây cũng
là lớp nhà văn được đào tạo bài bản cả trong trường học lẫn trường đời; họ có điều
kiện để tiếp xúc với nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Đổi mới, sau chiến tranh, đã
trở thành một nhu cầu mạnh mẽ đối với mỗi người cầm bút, đặc biệt là những nhà
văn viết về chiến tranh. Sự nỗ lực tìm tòi trong ý thức đổi mới cách viết đã đóng
vai trò quan trọng trong việc hình thành nên các khuynh hướng văn học. Cuối
những năm bảy mươi, với cảm hứng sự thật, nhiều tác phẩm viết về chiến tranh đã
bố, chưa thể công khai kể lại, nhưng lãng quên nó lại là một tội lỗi” (Ngô Thảo).
Theo dõi trên mạng, ngoài một số bài báo, đặc biệt là khu vực phía Bắc, công trình
chuyên sâu về Văn Lê hầu như chưa có. Chọn đề tài Chiến tranh và con người
trong hai tiểu thuyết Mùa hè giá buốt và Phượng hoàng của Văn Lê, chúng tôi
muốn tìm ra những đặc sắc và những đóng góp của ông, để làm rõ hơn sự đa dạng,
phong phú của tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh cũng như quy luật
vận động của văn học trong điều kiện thời bình.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài cho luận văn của
mình: “Chiến tranh và con người trong hai tiểu thuyết Mùa hè giá buốt và Phượng
hoàng của Văn Lê”. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu
những đóng góp của Văn Lê cho nền văn học nước nhà trên phương diện đề tài
chiến tranh, qua đó cho thấy được diện mạo đặc sắc của văn xuôi thời kỳ đổi mới.
2. Lịch sử vấn đề
Mặc dù Văn Lê được biết đến là nhà văn với nhiều các tác phẩm và có
những tác phẩm được đánh giá cao rất cao, được trao nhiều giải thưởng uy tín song
cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào tập trung đi sâu vào nghiên cứu từ các
phương diện nội dung cho đến những đặc điểm nghệ thuật trong những sáng tác
của ông. Trong quá trình tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn
7
Văn Lê, chúng tôi có thu được kết quả là những bài báo, bài nghiên cứu hay bài
viết giới thiệu về tác phẩm và sự nghiệp sáng tác của ông như sau:
Nhà báo Phan Hoàng trong bài Sức mạnh tình yêu chiến thắng tình yêu sức
mạnh đã đánh giá: “Mùa hè giá buốt, một tiểu thuyết đẹp và buồn, quyến rũ và đau
đớn, thăng hoa như một tứ thơ” [42]. Tác phẩm của Văn Lê có kết thúc buồn và
đau đớn bởi nó phản ánh chân thực sự thật lịch sử. Để có được những chiến công,
làm thay đổi cục diện cuộc chiến, nhiều người lính đã phải hy sinh, phải đánh đổi
xương máu của mình.
Trên website của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Trần Sáng
vừa mất con trong chiến trận vẫn tìm cách bảo vệ sự sống cho người bộ đội giải
phóng: “Người ta còn nhiều việc để làm hơn là báo thù. Chiến tranh là thảm họa
cho cả dân tộc. Cần phải cứu lấy mọi người” [111]. Tác giả bài viết đã cho thấy cái
nhìn của Văn Lê về chiến tranh là một cái nhìn mang tính nhân văn sâu sắc. Đó là một
cái nhìn mới của người dân về chiến tranh.
Trong bài báo Khích lệ lớn giới văn nghệ sĩ, nhân sự kiện trao Giải thưởng
Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 5 năm (2006 – 2011), Lê Quang
Trang – Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận xét tiểu thuyết
Mùa hè giá buốt của Văn Lê – tác phẩm đạt giải Nhất của lĩnh vực văn học: “bút
pháp hiện thực nghiêm nhặt pha chút hư ảo tâm linh trong Mùa hè giá buốt tạo
hiệu quả sâu về sự ám ảnh nơi người đọc” [97]. Có thể thấy, thành công của tác
phẩm chính là đã phản ánh chân thật hiện thực chiến tranh nhưng trong đó vẫn đan
xen những giá trị tâm linh được xem là biểu trưng của văn hóa dân gian. Và giải
thưởng này là nhằm: “tôn vinh những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ
thuật, phản ánh lịch sử dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng và công cuộc
đổi mới hiện nay” [97].
Cũng Lê Quang Trang, trong bài Phía sau hiện thực khắc nghiệt của Mùa hè
giá buốt, đăng trên tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, ông có nhận xét:
9
“Về nghệ thuật, có thể thấy tác phẩm nằm trong hệ hình của tiểu thuyết truyền
thống, không có những thể nghiệm cách tân hoa mỹ cầu kỳ. Tuy nhiên, cách viết
đằm thắm, gắn bó sâu sắc với đời sống hiện thực mà anh chứng kiến kết hợp cùng
tưởng tượng của nhà văn, đồng thời chứa đựng nhiều suy tưởng, chiêm nghiệm sâu
sắc, đa dạng có thể đáp ứng nhiều loại nhu cầu, khiến các tầng lớp bạn đọc khác
nhau đều có thể hào hứng theo dõi cốt truyện và số phận các nhân vật. Chính sự kỹ
lưỡng trong văn phong, sức tươi trẻ của chất liệt sống, sự mới mẻ và đa dạng trong
ý tưởng của tác phẩm đã chiếm được tình cảm của người đọc, sự đồng thuận tuyệt
đối của Hội đồng chung khảo, và cùng thời gian vẫn tiếp tục lan tỏa trong bạn
đây chỉ còn chờ đợi cái khoảnh khắc cuối cùng của cuộc sống”. Những riêng
chung hòa vào nhau đó đã làm thức dậy cả một mùa hè huyền thoại” [107]. Qua
nhận xét của Đậu Dung, có thể thấy vẫn là mảng đề tài chiến tranh quen thuộc mà
Văn Lê khai thác, nét khác của Văn Lê ở tiểu thuyết Phượng hoàng chính là việc
nhà văn đi sâu vào khai thác, khám phá và lí giải vì sao, vì lí do gì ta có thể chiến
thắng được kẻ thù hùng mạnh như đế quốc Mỹ? Đó chính là phẩm hạnh của con
người.
Qua những ý kiến tổng hợp ở trên, có thể thấy cuốn tiểu thuyết Mùa hè giá
buốt và Phượng hoàng của Văn Lê đã nhận được những lời khen gợi và đã được
các nhà nghiên cứu đánh giá cao. Đặc biệt, khi đánh giá về nội dung, nghệ thuật
của tiểu thuyết Mùa hè giá buốt các tác giả đều có sự thống nhất khi khẳng định
giá trị hiện thực chân thực, sâu sắc của tiểu thuyết được tái hiện trên nền một tiểu
thuyết truyền thống. Cách tân không phải là mục đích của nhà văn hướng tới
nhưng chính cách nghĩ, cách thể hiện về chiến tranh của ông đã mang tính cách tân
và đưa lại cho người đọc sức hấp dẫn.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước,
thông qua luận văn Chiến tranh và con người trong hai tiểu thuyết Mùa hè giá buốt
và Phượng hoàng của Văn Lê, người viết mong muốn có thể khảo sát và phân tích
11
cụ thể, toàn diện hơn chiến tranh và con người được tái hiện trong hai tiểu thuyết
của Văn Lê.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Văn Lê thành công với nhiều thể loại như thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch
bản phim tài liệu, phim điện ảnh… Tuy nhiên, đối tượng của luận văn này là thông
qua hai cuốn tiểu thuyết Mùa hè giá buốt và Phượng hoàng, chúng tôi cũng sẽ tìm
hiểu về cách thể hiện con người và chiến tranh của ông.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Ngoài ra, chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp
phần thấy được phong cách riêng của Văn Lê trên văn đàn và chất nhân văn làm
nên giá trị trong các tác phẩm của Văn Lê. Bổ sung thêm nguồn tư liệu tham khảo
cho việc nghiên cứu văn học viết về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách
mạng sau 1975.
13
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương chính:
Chương 1: Văn Lê và đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Chương 2: Hiện thực chiến tranh và chân dung con người trong tiểu thuyết
Mùa hè giá buốt và Phượng hoàng của Văn Lê
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện bức tranh cuộc chiến và chân dung con
người trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt và Phượng hoàng của Văn Lê
14
Chương 1
VĂN LÊ VÀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
1.1. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975
1.1.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội và những yêu cầu cần đổi mới văn học sau
1975
1.1.1.1. Bối cảnh lịch sử và xã hội
Sau năm 1975, bước vào thời kì hòa bình, đất nước phải đối mặt với vô vàn
những khó khăn, thách thức. Nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh
tàn phá càng trở nên thê thảm hơn. Cơ chế quan liêu bao cấp với nhiều bất cập, trì
hơn. Nhiều vấn đề thuộc về cuộc chiến tranh đã qua cũng được nhìn nhận lại, bớt
cực đoan, duy lí. Con người hôm nay nhận thức về cuộc chiến ở cả niềm tự hào về
chiến thắng và sức mạnh dân tộc, và cả cái giá đắt đỏ đã phải trả để có được nó. Xu
thế mở của, hội nhập quốc tế, hợp tác cùng phát triển bền vững đã góp phần xoa
dịu mối hận thù dân tộc, giai cấp, giúp con người một thời ở hai chiến tuyến đối
địch xích lại gần nhau hơn, thấu hiểu lẫn nhau. Đường lối đổi mới được thông qua
là tiền đề quan trọng, thúc đẩy sự đổi mới mạnh mẽ của nền văn học, tạo ra luồng
sinh khí mới đưa văn học tới những bứt phá trong sự phát triển. Trong văn học,
đánh dấu cho sự đổi mới tư tưởng trong đội ngũ văn nghệ sĩ bắt đầu từ cuối năm
1987 là cuộc gặp gỡ với đại diện giới văn nghệ sĩ của tổng Bí thư Nguyễn Văn
Linh và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị. Theo đó, văn học sẽ phát triển trên tinh
thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật, khuyến khích tìm tòi, thử nghiệm
trong sáng tạo nghệ thuật, giúp các văn nghệ sĩ vượt qua những e ngại, rụt rè, lo sợ
sự kiểm duyệt, sợ cả những cái “thường lơ lửng đâu đó trong không trung”, tự tin
nói thẳng, nói thật những suy nghĩ, quan điểm cá nhân về các vấn đề gai góc của
cuộc sống, mạnh dạn bứt phá, thử nghiệm những tìm tòi, sáng tạo, những cách thức
thể hiện mới. Các vấn đề về vai trò, chức năng của văn học cũng được xem xét,
16
điều chỉnh, diễn đạt lại. Có thể nói, làn sóng đổi mới ngoài xã hội, nhu cầu đổi mới
trong ý thức của người cầm bút làm sôi động bầu không khí sáng tác, đưa văn học
thoát khỏi thời kì bế tắc, khủng hoảng, bổ khuyết “khoảng chân không” của văn
học thời kì hậu chiến. Trong bối cảnh đó, văn học viết về chiến tranh nói chung,
tiểu thuyết nói riêng cũng có sự chuyển động tích cực, tự làm mới mình để phù hợp
với yêu cầu của thời đại và thị hiếu mới của công chúng.
Ngoài ra, cũng nhờ có chính sách cởi mở và đúng đắn mà việc tiếp nhận,
giao lưu văn hóa, văn học thế giới trở nên sôi nổi, cũng đã có những tác động tích
cực đến các nhà văn Việt Nam. Họ có điều kiện nắm bắt xu hướng chung của văn
học thế giới khi khai thác đề tài chiến tranh, điều này đã tạo nên sự thay đổi trong
Giai đoạn văn học 1945 – 1975 lúc trước chưa tạo ra được mối quan hệ bình
đẳng giữa độc giả với nhà văn và tác phẩm. Vì vậy, người đọc dễ dàng đồng tình
với quan điểm của nhà văn, ít có nhu cầu đối thoại. Hoàn cảnh “thông diễn” mới
của thời kỳ sau hòa bình đã tạo nên vị thế dân chủ cho công chúng tiếp nhận văn
học. Họ có nhận thức riêng, quan điểm của riêng mình về những điều mà họ biết
và mục đích tìm đến văn học của con người ngày nay không giống nhau, có người
tìm đến tác phẩm văn học do nhiệm vụ nghiên cứu, có người lại muốn có thêm sự
hiểu biết về đời sống quanh mình, có người lại tìm đến văn học đơn giản chỉ để thư
giãn và giải trí. Sau chiến tranh, độc giả có điều kiện tìm hiểu về cuộc chiến tranh
của dân tộc từ nhiều kênh thông tin khác nhau, ví dụ như: qua những tư liệu lịch sử
của ta, tài liệu mật của đối phương, những cuốn nhật kí, hồi kí, thư từ của các cựu
quân nhân hai bên... cho nên, sự hiểu biết của họ về chiến tranh, quan niệm và cách
nhìn về chiến tranh cũng không còn giống trước. Mặt khác, sự phát triển của thời
đại công nghệ thông tin, các tài liệu ở thư viện đều được số hóa, các tiểu thuyết nổi
tiếng viết về chiến tranh cũng được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam. Trong điều kiện
sống hiện nay, độc giả có ít thời gian để đọc tiểu thuyết nhiều tập hoặc tiểu thuyết
18
dày. Tất cả những điều này đã tạo ra sự thay đổi trong việc tiếp nhận tác phẩm văn
học viết về vấn đề chiến tranh.
Như vậy, sự chuyển đổi hình thái xã hội đã tạo nên sự chuyển động, thay đổi
trên nhiều phương diện của văn học, trong đó có công chúng tiếp nhận. Nhu cầu,
thị hiếu, mục đích hướng đến văn học của công chúng tiếp nhận hôm nay đã có
nhiều điểm khác biệt so với trước. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển văn học.
1.1.1.2. Nhu cầu đổi mới lối viết của nhà văn
Nếu như trước đây trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, ưu tiên cho mục
tiêu giải phóng dân tộc, các nhà văn tự giác lao động hết mình với vai trò chiến sĩ –
Nỗi buồn chiến tranh…Ở thời kỳ mới, các nhà văn đã có cái nhìn đầy đủ và bao
dung hơn về chiến tranh. Trong bài viết Kỹ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh, tác giả Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Bảo Ninh không miêu
tả cuộc chiến tranh ở mặt trước của tấm huy chương. Không phải nhà văn có ý
định “giải thiêng” cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc mà anh muốn nhìn phía
khác, phía những người lính đã chịu bao nhiêu mất mát hi sinh. Đó cũng là một
phần làm nên sự vĩ đại của dân tộc” [82, tr. 400]. Có thể thấy rằng cốt lõi của quá
trình đổi mới nằm ở việc các cây bút đã có nhận thức đúng đắn về bản chất thẩm
mỹ của văn học, về sứ mệnh cao cả của những người viết sử bằng văn, và cả ở việc
nhận thức văn chương cũng là một nghề, một nghiệp.
Cuộc kháng chiến suốt 30 năm ở thế kỉ XX là một sự kiện trọng đại của lịch
sử dân tộc, bởi vậy, viết về cuộc chiến tranh này cũng là viết về một đề tài lịch sử.
Điều này đặt ra cho các nhà văn sau 1975 những khó khăn nhất định khi muốn đổi
mới phải vươt qua được sự trì níu của truyền thống, những tính cách đã được định
hình cả ngàn năm trong tư tưởng cộng đồng, những luật lệ trong xã hội đã thuộc về
bản sắc. Không phải ai cũng dám bứt phá và bứt phá thành công. Nhưng, dù sao
nhu cầu đổi mới, được là chính mình của mỗi nhà văn cũng đã góp phần thúc đẩy
20
văn học viết về chiến tranh nói chung, tiểu thuyết nói riêng, vận động phát triển,
trở nên hấp dẫn hơn, mới mẻ hơn trong cách nhìn về lịch sử. Ý thức sáng tạo vừa tạo
nên những tác phẩm mang dấu ấn truyền thống dân tộc, vừa hội nhập với văn học thế
giới ngày nay.
1.1.2. Một số khuynh hướng viết về chiến tranh trong tiểu thyết Việt Nam
sau 1975
1.1.2.1. Khuynh hướng thể hiện con người bị chấn thương và những số phận
bi kịch
Nếu như trước năm 1975, cảm hứng anh hùng là cảm hứng chủ đạo trong
tiểu thuyết chiến tranh thì sau 1975, cái bi và cảm hứng bi kịch dần trở thành chủ
nặng nề và thường đồng nghĩa với tai họa, nỗi buồn, chết chóc, đói khổ, sự hủy
diệt tình yêu...đó là những điều phi lí nhất mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống con
người. Không né tránh hiện thực ấy, nhà văn đã đem đến cái nhìn toàn diện hơn về
một chặng lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy bi thương của dân tộc. Tính chất khốc
liệt của chiến tranh đã được nói tới trong văn chương sau 1975, song trước những
năm 90, chưa tác phẩm nào có mức độ thể hiện như Nỗi buồn chiến tranh và Ăn
mày dĩ vãng hay trong tiểu thuyết Mùa hè giá buốt được xây dựng từ những dữ liệu
lịch sử của nhà văn Văn Lê. Đây là những tác phẩm gây shock với người đọc bằng
những trang văn “đầy giẫy tử thi” và “ngập ngụa máu”. Tiếp cận hiện thực này, dù
chỉ trên trang giấy, tâm hồn người đọc vẫn bị chấn động mạnh bởi niềm xót xa,
thương cảm. Nhìn chiến tranh từ số phận con người, nỗi buồn đã trở thành âm
hưởng xuyên suốt nhiều tác phẩm.
1.1.2.2. Khuynh hướng khám phá người anh hùng lưỡng diện
Sau 1975, trong bộ phận tiểu thuyết về chiến tranh, các tác phẩm thuộc về
thể tài lịch sử dân tộc chiếm vị trí quan trọng. Nhân vật anh hùng lưỡng diện đã trở
thành kiểu nhân vật trung tâm. Họ có thể là nhân vật bất toàn như Lưu Dương - Tư
Thiên, Phạm Xuân Ban trong Bức tường lửa (Khuất Quang Thụy), hoặc là người
22
anh hùng có đời sống nội tâm không đơn giản như Vũ ngọc Nhạ trong Ông cố vấn
- Hồ sơ một điệp viên (Hữu Mai), hay Nguyễn Sĩ Việt trong Mùa hè giá buốt (Văn
Lê). Kiểu nhân vật anh hùng lưỡng diện góp phần quan trọng trong sự đổi mới tiểu
thuyết sử thi. Khi nhân vật sử thi anh hùng truyền thống được thay thế bằng người anh
hùng lưỡng diện, hiện thực chiến tranh cũng được soi chiếu từ những chiều kích khác
nhau. Bên cạnh cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, nhiều tiểu thuyết sử thi còn có những
cảm hứng nghệ thuật khác như: cảm hứng bi tráng, cảm hứng thế sự, cảm hứng nhân
bản...
Ngoài ra, khi khám phá người anh hùng lưỡng diện còn là sự thay đổi quan
niệm về người anh hùng với cái nhìn công bằng hơn về những người bên kia chiến
chuyện hàng ngày, chuyện ứng xử và chuyện nhân sinh muôn thủa. Nằm trong tiến
trình chung, tiểu thuyết về chiến tranh cũng chuyển sang thể hiện con người đời
thường và những vấn đề thế sự.
Từ góc nhìn thế sự, với người trong cuộc – những người trực tiếp tham chiến
hoặc có mối liên hệ mật thiết với người lính – chiến tranh luôn không phải trò đùa,
nó đã cướp đi bao sinh mạng, để lại bao khoảng trống không gì bù đắp nổi; nó
cướp đi quyền được hạnh phúc, được học hành của biết bao cõi đời hư thực. Còn
với những người cùng thời nhưng không can dự vào chiến tranh: “chiến tranh là cơ
hội để làm giàu” (ông Phát - Thời của những tiên tri giả), là “tội nợ kiếp nhân sinh
giữa cõi trần ai” (lời của nhân vật Nhài - Sống khó hơn là chết), hoặc “chiến tranh
đúng là ngu ngốc” (lời của nhân vật Quế - Cõi đời hư thực)... Ngay sau chiến
tranh, vấn đề hòa giải dân tộc, đã được nhiều nhà văn quan tâm mà Miền cháy là
tác phẩm đầu tiên đặt ra vấn đề này. Sau này, những vấn đề của đời thường, thế sự
đã được nhiều người viết như Chu Lai, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy....đưa
vào tác phẩm của mình khiến cho cuộc sống bớt đi cái nghiệt ngã của chết chóc vì đạn
bom, nhưng cũng phức tạp hơn, đời chúng hơn trong khi giải quyết các mối quan hệ
giữa con người với nhau.
24
Hành trình từ chiến tranh sang hòa bình và công cuộc mưu sinh của con
người thời hậu chiến là vô cùng khó khăn nhưng hành trình trở lại với đời
thường của người lính cách mạng cũng không hề dễ khi con người ta quen với
một môi trường mà vấn đề sống chết được đặt ra cao hơn là vấn đề mưu sinh,
là vấn đề tiền bạc, thậm chí là tình cảm yêu thương. Có người còn rơi vào suy
nghĩ cực đoan đối với con người và cuộc sống hiện tại (Chính – Không phải trò
đùa), có người coi tất cả ý nghĩa đối với mình nằm ở vinh quang quá khứ, có
người mang hoài bão lớn nhưng không vượt qua được thử thách trong thời
bình (một số người cựu chiến binh – Sống khó hơn chết). Chấp nhận cuộc sống
như nó vốn có, thay đổi bản thân là việc làm không dễ. Một người lính cần