PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CÁC NÔNG NG CỦA CHÂN TỐ ĐÓ TỚI CHI TIÊU CÔNG Ở VIỆT NAM TRSỰ TÁC ĐỘONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY. - Pdf 41

Nhóm 04

1659EFIN3021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÀI THẢO LUẬN
MÔN: TÀI CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI :
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CÔNG
SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐÓ TỚI CHI TIÊU CÔNG Ở
VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY.
Lớp học phần: 1659EFIN3021
Giáo viên hướng dẫn:
Nhóm: 04

Năm 2016

1


Nhóm 04

1659EFIN3021

LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU CÔNG
1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chi tiêu công
1.1 Khái niệm


1659EFIN3021

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hiện đại, các khoản chi tiêu công không mất đi mà nó lại tạo
ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế, trong đó Nhà nước đóng vai
trò trung tâm trong quá trình này. Thông qua các khoản chi tiêu công, Nhà nước
cung cấp cho xã hội những hàng hoá mà khu vực tư không có khả năng cung ứng,
hoặc cung ứng không có hiệu quả mà nguồn từ các khoản thu nhập xã hội như
thuế, phí, lệ phí. Như vậy, Nhà nước thực hiện tái phân phối thu nhập xã hội công
bằng hơn, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm nền kinh tế
tăng trưởng và bền vững.
Chi tiêu công có tác động rất lớn đến nền kinh tế của một quốc gia. Sự tác động
đó có thể là tích cực hay tiêu cực tùy thuộc vào chính sách chi tiêu của Chính phủ
có đúng đắn không, và làm sao để có những chính sách chi tiêu hiện quả. Đó cũng
chính là thách thách không hề nhỏ đối với Chính phủ.
Vì vậy mà nhóm đã lựa chọn đề tài“ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu
công. Sự tác động của các nhân tố đó đến chi tiêu công của Việt Nam.” để đưa ra
đánh giá, hoạch định xây dựng chính sách một cách hợp lý và cần thiết nhất. Giúp
cho Chính phủ sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính công thông qua ưu tiên
hóa các khoản chi tiêu nhằm đem lại lợi ích thiết thực vì mục đích phát triển kinh
tế xã hội.

3


Nhóm 04

1659EFIN3021


và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của

4


Nhóm 04

1659EFIN3021

những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu
công.
1.3 Vai trò của chi tiêu công đối với nền kinh tế:
1.3.1 Thu hút vốn đầu tư của khu vực tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và sinh lời. Để
có bắt đầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng sản xuất trước hết phải
có vốn đầu tư.
- Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn lớn thường là tất yêu
khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo
cho tăng trưởng, và phát triển kinh tế như: xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng
các cơ sở công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, công nghiệp hóa dầu, công
nghiệp lương thực, thực phẩm, ngành điện năng,…
- Chuyển dịch cơ cấu ngành phải được coi là điểm cốt tử, một nọi dung cơ
bản lâu dài trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nếu xác định
phương hướng và giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế
xã hội cao trong sự phát triển. Ngược lại sẽ phải trả giá đắt cho những sự
phát triển về sau .
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế thành công hay thất bại phụ thuộc
rất nhiều vào khâu quyết định chủ trương chuyển dịch và tổ chức thực hiện
các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định.
1.3.2 Góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế

ý phân phối lại. Tuy nhiên, đứng sau mỗi mức độ phân phối lại đó đều hàm
chưa sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng, vì nó có liên quan đến những
chi phí nhất định để đảm bảo hoạt động phân phối lại mang tính hiệu quả
cao.
2. Cơ cấu chi tiêu công.
Phân loại căn cứ theo chức năng vĩ mô của Nhà nước:
-

Xây dựng cơ sở hạ tầng
Tòa án và viện kiểm soát
Hệ thống quân đội và an ninh xã hội
Hệ thống giáo dục
Hệ thống an sinh xã hội
Hỗ trợ cho các doanh nghiệp
Hệ thống quản lý hành chính Nhà nước
Chi tiêu viện trợ nước ngoài, ngoại giao
Chi khác

Phân loại theo tính chất kinh
-

-

Chi thường xuyên: là những khoản chi có tính đều đặn, liên tục gắn liền với
nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội.
Đặc điểm: mang tính ổn định; phần lớn mang tính tiêu dùng; gắn với cơ cấu
tổ chức, mang tính chất bắt buộc.
Chi đầu tư phát triển: là những khoản chi nhằm tạo cơ sở vật chất kỹ thuật,
có tác dụng làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.


Xét về góc độ chi ngân sách, có một số tiền không nhỏ đã bị lãng phí, thất thoát
thông qua việc đầu tư công, thông qua việc chi tiêu của các cơ quan nhà nước,
thông qua ăn kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Những kết quả kiểm
toán, thanh tra với số tiền bị lãng phí, thất thoát lớn mới được công bố và được đưa
lên mặt báo hằng ngày là điều không thể coi thường. Đầu tư, chi tiêu kém hiệu quả
góp phần làm bội chi ngân sách, làm tăng nợ nần của Chính phủ và tạo sức ép lạm
phát.
Nền kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, Chính phủ buộc phải thực hiện
các biện pháp quyết liệt nhằm cắt giảm chi đầu tư công, giảm chi thường xuyên để
kiềm chế lạm phát. Thế nhưng, nếu đi sâu vào phân tích vấn đề, ngoài những
nguyên nhân khách quan, lãng phí, bội chi ngân sách kéo dài, còn do hệ lụy từ
những tồn tại trong thu chi ngân sách.
1.1 Chi thiếu căn cứ, sai mục tiêu
- Tồn tại nổi lên trong công tác lập và giao dự toán chi ngân sách cho các dự
án đầu tư phát triển thời gian qua là chi thiếu căn cứ, bố trí vốn không đúng
với quy định của Luật ngân sách Nhà nước.
7


Nhóm 04
-

1659EFIN3021

Việc phân bổ vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia của các bộ ngành,
địa phương còn nhiều tồn tại, trong đó chủ yếu là tình trạng phân bổ sai nội
dung, mục tiêu, đối tượng hưởng thụ... việc phân bổ dự toán tại một số bộ
ngành, địa phương vẫn còn diễn ra tình trạng bình quân chủ nghĩa, dẫn tới
tình trạng phân bổ dàn trải, chia nhỏ kinh phí cho các dự án... Cũng trong
công tác phân bổ ngân sách, phân khai, giao kinh phí và nhiệm vụ còn chậm,

8


Nhóm 04

1659EFIN3021

một số dạng sai phạm dẫn đến tham nhũng, lãng phí và tiêu cực trong ĐTXD như
sau:
-

Thất thoát, lãng phí trong khâu chủ trương đầu tư: Xác định sai chủ trương
đầu tư, dẫn đến đầu tư không có hiệu quả, hoặc hiệu quả đầu tư kém, không
ít nhà máy do xác định sai chủ trương đầu tư dẫn tới khi đưa vào hoạt động
không có nguyên liệu... và để khắc phục tình trạng này phải di chuyển hoặc
bỏ nhà máy... dẫn đến thất thoát, lãng phí nghiêm trọng... Như vậy, sai lầm
trong chủ trương đầu tư sẽ gây lãng phí, thất thoát nghiêm trọng nhất, cả về
lãng phí trực tiếp và lãng phí về gián tiếp.

-

Thất thoát trong khâu khảo sát thiết kế: Khảo sát không đảm bảo chất
lượng, chưa đủ mẫu, chưa sát với thực tế hoặc không đúng với những tiêu
chuẩn, quy chuẩn dẫn đến việc phải khảo sát lại hoặc phải phải thay đổi, bổ
sung, điều chỉnh thiết kế, phương án thi công nhiều lần, kéo theo là làm thay
đổi dự toán, làm chậm tiến độ thi công,... gây lãng phí thời gian, tiền của của
dự án; thiết kế không đảm bảo chất lượng, không đồng bộ gây lún, nứt phải
phá đi làm lại; phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật tư, vật liệu
không phù hợp với loại công trình (sử dụng vật liệu quá đắt tiền cho công
trình cấp thấp); việc chọn hệ số an toàn quá cao, tính toán không chặt chẽ


hàng năm cho các dự án không theo sát tiến độ đầu tư thực hiện dự án đã
được cấp thẩm quyền phê duyệt trong quyết định đầu tư...
-

Thất thoát, lãng phí trong khâu lựa chọn nhà thầu: Làm sai lệch bản chất đấu
thầu như không thực hiện đúng trình tự đấu thầu; xét thầu, đánh giá để xếp
loại nhà thầu khi lựa chọn nhà thầu không chính xác, thiếu chuẩn mực,
không đủ khả năng; hiện tượng thông đồng giữa các nhà thầu khi tham gia
đấu thầu đã khống chế giá trúng thầu cho đơn vị được thoả thuận để thắng
thầu đưa đến phá giá trong đấu thầu.

-

Thất thoát, lãng phí trong khâu thi công xây lắp công trình: Thi công không
đảm bảo khối lượng theo thiết kế được phê duyệt hoặc thi công không đúng
thiết kế dẫn đến phải phá đi làm lại; sử dụng vật liệu không đảm bảo chất
lượng; khai khống khối lượng; ăn bớt vật liệu trong quá trình thi công, chất
lượng công trình không đảm bảo…

Như vậy, qua phân tích một số dạng sai phạm cho thấy thất thoát, lãng phí không
chỉ do nguyên nhân khách quan như bởi cơ chế chính sách về quản lý đầu tư còn
chồng chéo, thiếu đồng bộ, chưa rõ ràng hay do đặc điểm, tính chất của sản phẩm
xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, chu kỳ sản xuất dài, phụ thuộc trực tiếp
vào điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu nên việc thi công phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên, chất lượng và giá cả sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện
tự nhiên... mà còn có nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất thoát, lãng phí là từ con
người và bắt đầu từ người giữ vai trò giám sát trong bộ máy nhà nước. Theo Giáo
sư Nguyễn Trường Tiến (Hội Khoa học - Kỹ thuật xây dựng) thì lỗi sai phạm của
Chủ đầu tư và các nhà quản lý đầu tư trong quá trình thực hiện các dự án chiếm

không được chi tiêu thoải mái. Ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng NSNN khác
cũng vậy.
Tuy nhiên, để bảo đảm chặt chẽ trong chi tiêu ngân sách, thắt chặt kỷ luật, kỷ
cương tài chính quốc gia, Dự thảo Luật NSNN sửa đổi mới nhất, ngoài quy định,
các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm
quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; còn bổ sung thêm
quy định: “Không được chi ngân sách ra khỏi Kho bạc Nhà nước, nếu khoản chi đó
không có trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”.
Kỷ luật, kỷ cương tài chính lỏng lẻo được nhiều đại biểu Quốc hội lên tiếng khá
gay gắt. Vậy liệu Luật NSNN sửa đổi sẽ khắc phục được hạn chế này?Việc quản
lý, sử dụng tiền, tài sản nhà nước tại các cấp, các ngành, các đơn vị sử dụng NSNN
đang được làm tốt hơn, năm sau tiến bộ hơn năm trước. Mặc dù vậy, tình trạng chi
tiêu chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức vẫn còn. Việc quyết định đầu tư
chương trình, dự án sử dụng NSNN phải bảo đảm cân đối đủ vốn trước khi quyết
định đầu tư; bảo đảm đầu tư tiết kiệm, hiệu quả…
Trên thực tế, NSNN vẫn tiếp tục bội chi do chi tiêu thường xuyên quá lớn? Đúng là
tỷ trọng chi thường xuyên quá lớn trong tổng chi và có xu hướng gia tăng. Cụ thể,
đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, chi thường xuyên chỉ chiếm 60% tổng chi, đến
nay đã lên 68% tổng chi. Ngược lại, chi đầu tư phát triển từ NSNN hồi đầu nhiệm
chiếm 25% tổng chi hiện giờ chỉ còn 18% tổng chi; số còn lại là dành để trả nợ.
11


Nhóm 04

1659EFIN3021

Chi thường xuyên bao hàm rất nhiều nội dung, nhưng quan trọng nhất là chi cho an
sinh xã hội, vì chúng ta là nước đang phát triển, nên nhu cầu chi cho giáo dục, y tế,
chính sách người có công, xóa đói giảm nghèo… rất lớn. Do có thời kỳ quá tập


Nhóm 04

1659EFIN3021

2, Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu công và sự tác động đến chi tiêu công ở
Việt Nam
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu công
2.1.1Sự phát triển về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế
- Gánh vác thêm nhiệm vụ mới:
Sở dĩ chi tiêu công có sự tăng lên nhanh chóng là vì vai trò của chính phủ
ngày càng được mở rộng. Sự mở rộng này là do chính phủ phải gánh vác
thêm những nhiệm vụ mới. Thật là khó tin rằng khu vực tư nhân sẽ cung cấp
những hàng hóa công cho xã hội với cơ chế “người hưởng tự do không phải
trả tiền”. Thêm vào đó, sự phát triển của nền kinh tế sẽ có nhu cầu mới xuất
hiện mà khu vựa tư sẽ không tham gia và không có lời hoặc không đủ nguồn
lực để thực hiện hoạt động sản xuất. Vì vậy, chính phủ cần có sự can thiệp
và tham gia sản xuất những loại hàng hóa đó.
Có thể nói rằng Việt Nam có một nền tài chính công không lành mạnh.
Chính vì thế, vấn đề chi tiêu không đúng chế độ; sử dụng tài chính không
đúng mục tiêu, không đúng nguồn; tình trạng bội chi, lãng phí và thất thoát
đã diễn ra một cách phổ biến. Cuối năm 2008, Kiểm toán Nhà nước (KTNN)
công bố những con số... giật mình. Bộ NNPTNT phản ánh thiếu tài sản, ôtô,
máy móc... lên tới gần 10 tỉ đồng. Tại 8 bộ, ngành, địa phương, qua kiểm
toán phát hiện số tài sản mua sai chế độ, sai mục đích... lên tới 95 tỉ đồng.
Trong chi đầu tư năm 2007, KTNN nhận định: Hầu hết các dự án đều sai
sót, trong đó phổ biến là nghiệm thu không đúng thực tế, sai chế độ. Số
tiền... sai sót này lên tới 723,8 tỉ đồng.
Còn trong chi thường xuyên, có tới 16/29 tỉnh được kiểm toán (hơn 50%)
chi hỗ trợ, chi thường xuyên không đúng chế độ, không thuộc nhiệm vụ chi

khu vực công và khu vựa tư. Lý thuyết kinh tế học hiện đại cho rằng nền
kinh tế muồn phát triển ổn định cần có sự phối hợp giữa bàn tay chính phủ
và bàn tay thị trường trong quá trình tái phân phối thu nhập. Điều đó có
nghĩa là, quy mô chi tiêu công nên có sự giới hạn nhất định. Nhưng giới hạn
ở quy mô nào thì cho đến nay các nhà kinh tế cũng chưa đưa ra câu trả lời
chính xác. Thay vào đó các nhà kinh tế thường nêu ra sự giới hạn chi tiêu
công trên các khía cạnh: trong chi tiêu công có một khoản chi cần phải được
tiết kiệm và hạn chế như chi phí hành chính thuần túy hoặc những hoạt động
của khu vực công mà sự quản lý không hiệu quả so với hoạt động của khu
vực tư tương đương thì những hoạt động này nên chuyển giao cho khu vực
tư. Bên cạnh đó họ cho rằng sự giới hạn chi tiêu công cần linh hoạt theo chu
kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế bị suy thoái, cần tăng chi tiêu để thúc đẩy kinh tế
phát triển; ngược lại nền kinh tế trong giai đoạn hưng thịnh thì cần phải cắt
giảm quy mô chi tiêu công.
Ví dụ như việc nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đang bước
vào thời kì khó khăn, lạm phát cao. Theo bộ này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội
năm 2011 ước đạt khoảng 870 nghìn tỉ đồng, bằng khoảng 34,7% GDP.
Trong số đó, vốn Ngân sách Nhà nước (NSNN) và trái phiếu chính phủ ước
đạt 220 nghìn tỉ đồng, vốn tín dụng đầu tư Nhà nước ước đạt 50 nghìn tỉ
đồng.
Tổng số vốn cắt giảm, điều chuyển là 81.500 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn
ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ (TPCP) và xổ số kiến thiết đã cắt
giảm, điều chuyển khoảng 9.452 tỉ đồng. Số vốn cắt giảm nêu trên được điều
chuyển cho các dự án hoàn thành, cấp bách cần đẩy nhanh tiến độ. Nhờ việc
cắt giảm, điều chuyển, số dự án hoàn thành trong năm 2011 tăng thêm 1.053
dự án. Tính chung cả năm 2011 có khoảng 4.400 dự án hoàn thành, đưa vào
sử dụng.
14



tiếp tới chi tiêu trong khu vực công. Khi xã hội càng phát triển, công nghiệp hóa
không ngừng gia tăng thì hệ thống các mối quan hệ xã hội, thương mại, pháp lý
trong nền kinh tế ngày càng trở nên phức tạp. Chính phủ sẽ có một vị thế mạnh
hơn để thiết lập và vận hành các tổ chức giải quyết các mối quan hệ phúc tạp đó.
Điều đó dẫn đến sự tăng nhanh chi tiêu cho khu vực công cộng cho luật pháp và
duy trì trật tự, cho giao thông và liên lạc.

15


Nhóm 04

1659EFIN3021

2.2.2Thứ hai, chi phí để cung cấp hàng hóa công cộng:
Có những loại hàng hóa mà chi phí để cung cấp ra nó quá lớn và gặp nhiều rủi ro
và thời gian thu hồi vốn là rất lớn không thể cung cấp cá nhân được mà phải cung
cấp công cộng, do đó chi tiêu cho khu vực công cũng tăng theo.
2.2.3 Thứ ba, thay đổi dân số:
Tốc độ tăng dân số thay đổi sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu dân số theo độ tuổi và ảnh
hưởng tới các khoản chi tiêu cho giáo dục và y tế. Từ đó sự thay đổi dân số quyết
định đến sự thay đổi trong tỉ trọng chi tiêu công. Khi dân số tăng nhanh buộc
chính phủ phải xem xét vấn đề mở thêm trường học và đầu tư thêm cơ sở vật chất
đáp ứng cho việc giảng dạy. Khi một quốc gia có cơ cấu dân số già thì họ phải chú
ý nhiều tới vấn đề y tế, chăm sóc sức khỏe cho người già.
2.2.4 Thứ tư, thay đổi công nghệ:
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều loại hàng hóa hiện
đại, từ đó nhu cầu về sự thay đổi trong chi tiêu công gia tăng để phù hợp với sự
phát triển này. Ví dụ như sự phát triển mạnh của công nghiệp sản xuất ô tô đã tạo
ra nhu cầu rất lớn về giao thông, hệ thống đường xá có chất lượng tốt, rộng rãi,…







Hoàn thiện cơ chế tài chính trong quản lý chi tiêu công, nhà nước đã ban
hành khá nhiều văn bản quy định về chế độ, tiêu chuẩn , định mức trong chi
tiêu công của các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên vẫn còn không ít các văn
bản bộc lộ nhiều kẽ hở.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với điều kiện thực tế, có
tính khả thi
Tăng cường công khai, minh bạch về tài chính, điều này sẽ giảm thiểu được
việc tham nhũng thất thoát ngân sách.
Tăng cường kiểm tra, giám sát chi tiêu công. Việc thanh tra kiểm tra tài
chính cần phải được đẩy mạnh, có kế hoạch kết hợp giữa thanh tra nhà
nước, thanh tra tài chính và thanh tra của bộ, ngành, địa phương để đảy
mạnh diện thanh tra và tránh sự chồng chéo, phiền hà.
Xử lý kiên quyết các trường hợp gây lãng phí gây thất thoát nguồn lực của
nhà nước. việc xử lý gây lãng phí gắn liền với việc quy trách nhiệm rõ ràng.
Chấm dứt tình trạng nhà nước " trọ giúp" cho việc chi tiêu khồn rõ ràng,
không đúng quy định.
Kiên quyết cắt bỏ cac khoản chi không cần thiết hoặc để cho xã hội tự chi
trả.
Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý và sử dụng trong chi tiêu công của
nhà nước.
Về phía Bộ Kế hoạch - đầu tư sẽ tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát các
công trình, dự án đầu tư sử dụng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status