HCM người là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo (21) - Pdf 41

ĐỀ BÀI:
Trong câu diễn văn tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí
Minh có viết: “Người là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH), là mẫu mực của tinh thần độc lập,
tự chủ, tự lực, tự cường, đổi mới và sáng tạo”.
Hãy phân tích và chứng minh nhận định trên. Liên hệ với thực tiễn
Việt Nam hiên nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

1


BÀI LÀM:
Lịch sử cách mạng của nước ta gần 100 năm qua gắn liền với tên
tuổi, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh,
người anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng Việt
Nam được cả thế giới ca ngợi. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước
và thế giới có nhiều biến động, phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan,
người dân lầm than, cùng cực, ở Người đã sớm hình thành một tinh thần
yêu nước thương dân sâu sắc. Đó chính là một trong những cơ sở chính để
hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, một tư tưởng vĩ đại. “Tư tưởng Hồ Chí
Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và
phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại....”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh
của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân
tộc ta...” (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng
sản Việt Nam). Xuyên suốt, thấm đượm trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tư
tưởng độc lập dân tộc, là khát vọng xây dựng một xã hội XHCN công bằng

chủ nghĩa thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai.
Khác với con đường cứu nước của các thế hệ đi trước, vượt qua giới
hạn của các nhà yêu nước đương thời, con đường cứu nước của Hồ Chí
Minh là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Chúng ta tự hào với truyền
thống yêu nước, với tinh thần hiên ngang bất khuất của cha ông ta trong
lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Khi nước nhà bị bọn xâm
3


lăng giày xéo thì cả dân tộc không có một khát vọng nào hơn là giành lại
được nền độc lập. Nhưng không phải tất cả những con người yêu nước đều
tìm được con đường cứu nước đúng đắn. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX,
khi đất nước ta kiệt quệ vì các cuộc khai thác thuộc địa, nhân dân ta bị kìm
kẹp dưới ách thống trị của bọn Thực dân Pháp thì các thế hệ nối tiếp nhau
đứng lên, quyết giành lại non sông đất nước. Song do chưa có đường lối
đúng đắn nên các phong trào, các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại, quần
chúng cách mạng bị dìm trong biển máu như tư tưởng gắn độc lập dân tộc
với chủ nghĩa phong kiến của các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu
“Cần vương” do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo, con đường khởi nghĩa của
người anh hùng Hoàng Hoa Thám, hay tư tưởng gắn độc lập dân tộc với
chủ chủ nghĩa tư bản như con đường “Đông du” của cụ Phan Bội Châu, “ỷ
Pháp cầu tiến bộ” của cụ Phan Chu Trinh… Sinh ra và lớn lên trong cảnh
nước mất nhà tan, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau nhiều
năm trăn trở đã ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911. Sau hơn 10 năm
bôn ba, qua nhiều nước để tìm tòi và thử nghiệm, Người đã đến với Chủ
nghĩa Mác – Lênin, đến với tư tưởng Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại.
Khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
địa” của Lênin đăng trên báo L’Humanité, số ra ngày 16 và 17 tháng 7 năm
1920, Người đã “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng…vui mừng đến
phát khóc…” và sung sướng nói to “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây

dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng CNXH, CNXH là mục tiêu, lý
tưởng, là điều kiện đảm bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân
dân, là nhân tố đảm bảo vững chắc của nền độc lập dân tộc. Bởi “Yêu Tổ
quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu CNXH, vì có tiến lên chủ nghĩa
xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ Quốc mỗi ngày

5


một giàu mạnh thêm.” Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “nếu được
độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng
có nghĩa lý gì.” Và “dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân
được ăn no mặc đủ.” Nghĩa là cách mạng Việt Nam phải hướng tới mục
tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người thoát
khỏi mọi áp bức, bóc lột và bất công, tiến tới một xã hội “trong dó sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người.” Người luôn coi vấn đề giải phóng dân tộc là mục tiêu quan trọng
nhất của cách mạng Việt Nam, tuy nhiên bên cạnh việc giành độc lập thì
Người luôn mong ước xây dựng thành công CNXH để đem lại hạnh phúc
cho dân tộc. Chính vì vậy, sau mỗi bước thắng lợi của cách mạng, Người
luôn quan tâm đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng lực lượng
cách mạng đi đôi với củng cố chính quyền cách mạng.
Sau cách mạng tháng 8, Người trực tiếp chỉ đạo công cuộc kháng
chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc đồng thời cũng là người soi đường chỉ lối
cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người chủ trương
củng cố chính quyền non trẻ, đẩy lùi giặc đói, gặc dốt, khắc phục nạn tài
chính thiếu hụt. Về đối ngoại, Người vận dụng sách lược khôn khéo, mềm
dẻo thêm bạn, bớt thù, tranh thủ thời gian để chuẩn bị thế và lực trường kì
kháng chiến. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, với niềm tin sắt đá vào thắng lợi
của sức mạnh toàn dân, Người đã kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống

chủ nhân dân phải thực hiện. Hai nội dung đó có mối quan hệ chặt chẽ và
thúc đẩy nhau, song trước hết cần tập trung vào độc lập dân tộc vì nó giải
quyết mâu thuẫn chủ yếu giữa toàn thể nhân dân ta với đế quốc xâm lược.
Giải quyết được mâu thuẫn này cũng là giải quyết được mâu thuẫn của xã
hội thuộc địa nửa phong kiến. Và như vậy, rõ ràng tư tưởng Hồ Chí Minh
về con đường cách mạng Việt Nam là tư tưởng cách mạng không ngừng, là
7


sự thống nhất giữa độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Vì vậy, CNXH là
con đường phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do
Đảng Cộng Sản lãnh đạo, sau khi đã đạt được thắng lợi trong các mục tiêu
căn bản. Đó là sự lựa chọn của Hồ Chí Minh, của nhân dân Việt Nam và
của chính lịch sử cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, là xu thế phát triển của xã
hội Việt Nam phù hợp với xu thế chung của lịch sử và của thời đại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự
nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc vừa phản ánh
mối quan hệ khắng khít giữa mục tiêu giải phóng giai cấp với giải phóng
con người. Chỉ có xoá bỏ tận gốc tình trạng áp bức bóc lột, thiết lập một
nhà nước của dân do dân vì dân, mới đảm bảo cho người lao động có quyền
làm chủ, mới thực hiện sự phát triển hài hoà giữa cá nhân và xã hội, giữa
độc lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người. Theo người, sau khi
giành được độc lập phải tiến lên xây dựng CNXH, làm cho dân giàu nước
mạnh, mọi người được sung sướng, tự do.
Xuất phát từ đặc điểm thực tiễn của xã hội Việt Nam, một nước nông
nghiệp lạc hậu, thuộc địa, nửa phong kiến bỏ qua giai đoạn tư bản chủ
nghĩa, quá độ lên CNXH, nên trong quan niệm về CNXH của người không
phải là những ý tưởng cao xa mà là những lợi ích rất cụ thể, thiết thực, gần
gũi với những nhu cầu đời thường của nhân dân lao động. Những quan

Tư tưởng độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc và
thuộc địa. Người luôn khẳng định độc lập dân tộc là quyền lợi mà dân tộc ta
đáng được hưởng, “không ai có thể chối cãi được”. Độc lập dân tộc là khát
vọng mà bất kì một dân tộc thuộc địa nào cũng đều khao khát: “tự do cho
dân tộc tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy
9


là tất cả những điều tôi hiểu”. Cả cuộc đời mình, Người luôn đặt vấn đề dân
tộc độc lập lên trên tất cả. Năm 1919, thay mặt người Việt Nam yêu nước,
Người đã gửi tới hội nghị Vecxây yêu sách đòi quyền tự do dân chủ cho
dân tộc Việt Nam và kí tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1930, khi soạn thảo
cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, một cương lĩnh giải phóng dân tộc
đúng đắn và sáng tạo Người cũng đề cao vấn đề độc lập dân tộc, xác định
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên giải phóng giai cấp. Mặc dù lúc đó
khuynh hướng chung của Quốc tế cộng sản là đấu tranh giai cấp, Người vẫn
kiên trì đoàn kết mọi thành phần dân tộc miễn là có lòng yêu nước tham gia
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, Người đã bị quốc tế cộng
sản phê bình và khiến cho không thể tham gia lãnh đạo phong trào cách
mạng ở Việt Nam trong giai đoạn 1933-1939. Tuy vậy, cuối cùng Người
vẫn được trở về lãnh đạo cuộc đấu tranh của dân tộc, Người đã khẳng định
được vai trò của vấn đề độc lập dân tộc trong cuộc cách mạng XHCN của
nhân dân các nước thuộc địa.
Tháng 5-1941, trong thư “kính cáo đồng bào”, Người chỉ rõ “trong
lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”, Người khẳng định
độc lập dân tộc là điều kiện then chốt cho cuộc đấu tranh của toàn thể dân
tộc.
Tháng 8-1945, Người đúc kết ý chí đấu tranh cách mạng đang sục sôi
ở trong nước trong câu nói bất hủ: “dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả
dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Cách mạng

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là độc lập thực sự
và độc lập hoàn toàn, nghĩa là dân tộc đó phải có đầy đủ chủ quyền quốc
gia trên tất că các lĩnh vực là toàn vẹn lãnh thổ, chứ không phải sự độc lập
giả hiệu, chủ quyền do ngoại bang ban phát, lãnh thổ bị chia cắt. Trong lời
kêu gọi nhân ngày kỉ niệm mùng 2 tháng 9 năm 1948, Người nhấn mạnh:
11


“Chúng ta sẵn sàng hợp tác thân thiện với nhân dân Pháp, chúng ta yêu
chuộng hòa bình. Nhưng chúng ta quyết không chịu làm nô lệ. Chúng ta
quyết kháng chiến đến cùng, tranh cho kì được thống nhất và độc lập, thống
nhất và độc lập thực sự chứ không phải cái thứ thống nhất và độc lập bánh
vẽ mà thực dân vừa thí cho bọn bù nhìn. Thống nhất mà bị chia rẽ thành
“nước Nam Kì”, “nước Tây Kì”, “liên bang Thái”... Độc lập mà không có
quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt Nam quyết
không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy”. Độc lập phải được thực
hiện triệt để, mọi vấn đề chủ quyền của dân tộc đều do dân tộc đó tự quyết,
chứ không chấp nhận bất cứ sự can thiệp thô bạo của bất cứ thế lực nào.
Nhưng nói như vậy không có nghĩa độc lập là đóng cửa, là quay lưng
lại với thế giới. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập không có nghĩa là biệt
lập đứng riêng một mình mà để có thể hợp tác bình đẳng với tất cả các nước
thì cần phải độc lập, tự chủ. Mọi sự giúp đỡ từ bên ngoài để đấu trạnh cho
độc lập tự do đều được hoan nghênh, ghi nhận. Tự lực, tự chủ, tự cường là
biểu hiện của tinh thần yêu nước chân chính, gắn bó mật thiết với tinh thần
quốc tế trong sáng.
Đường lối độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường đã giúp chủ tịch Hồ Chí
Minh chèo lái con thuyền Việt Nam vững vàng trước hai ngọn sóng Xô Trung trong thập niên 60, thời kì mà giữa hai nước Liên Xô, Trung Quốc có
những bất đồng lớn. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam luôn cần đến sự
giúp đỡ, ủng hộ của quốc tế, nhưng Người chỉ rõ, sự nghiệp cách mạng Việt
Nam phải do nhân dân Việt Nam quyết định. Vì chúng ta có thế, có lực thì

kinh tế xã hội. Người nhắc nhở, các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn
cho ta. Ta phải khéo dùng vốn ấy để bồi bổ lực lượng, phát triển khả năng
của ta, tức là có thêm điều kiện để tự lực cánh sinh. Bởi vậy, Chính phủ
phải có kế hoạch sử dụng hợp lý sự giúp đỡ ấy. Cán bộ ta phải ra sức công
13


tác, phải làm việc tốt với các chuyên gia bạn, học tập kinh nghiệm tiên tiến
của các nước bạn, phải bảo quản và sử dụng tốt những máy móc và vật liệu
các nước bạn đã giúp ta, phải nghiêm khắc chống bệnh quan liêu, lãng phí,
tham ô.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tính đổi mới sáng tạo luôn là một
trong những luận điểm quan trọng. Người đã kết tinh văn hoá phương Đông
với chủ nghĩa Mác Lênin một cách sáng tạo để từ đó vận dụng vào thực tiễn
cách mạng và xây dựng CNXH ở Việt Nam và tạo ra nguồn sức mạnh cho
cả dân tộc. Người đã tích cực chủ động sáng tạo trong nhiều việc làm của
mình để đạt được hiệu quả cao nhất.
Luận điểm về chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc của
người đã vạch trần những âm mưu, thủ đoạn và tội ác của thực dân Pháp
với các dân tộc thuộc địa, nêu rõ nỗi đau khổ và khát vọng giải phóng của
những người dân mất nước. Đây là luận điểm “có một không hai” mà ở đó,
sự phân tích về chủ nghĩa thực dân đã vượt hẳn những gì mà lý luận mácxít đề cập đến.. Những luận điểm của Người về chủ nghĩa thực dân, đặc biệt
là hình ảnh “con đỉa hai vòi” không chỉ thức tỉnh các dân tộc thuộc địa mà
còn thức tỉnh cả Đảng Công Sản ở chính quốc.
Khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu,
vận dụng quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác –
Lênin một cách sáng tạo chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn ở các nước thuộc
địa, giữa chủ nghĩa đế quốc, thực dân thống trị, bè lũ tay sai với toàn thể
nhân dân, dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo. Theo Người, ở Việt
Nam cũng như các nước phương Đông, do trình độ sản xuất còn thấp kém

tranh toàn dân, toàn diện, trường kì; về xây dựng lực lượng vũ trang toàn
dân với ba thứ quân chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ, về nền quốc
phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại...
15


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi cách mạng vô sản
thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nền chuyên chính vô sản. Vận dụng
sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng, chúng ta phải căn cứ vào trình độ chính trị, kinh tế xã hội
của đất nước mà đề ra đường lối, chiến lược cách mạng phủ hợp, “chứ
không phải nước nào cũng phải làm cách mạng vô sản, lập chuyên chính
như nhau”. Vì vậy, ngay từ chính cương vắn tắt (1930), Người đã nêu:
Thiết lập chính phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông. Tại hội
nghị Trung ương VIII tháng 5-1941, Người đề ra chủ chương thành lập
“một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền
cách mạng của nước dân chủ ấy không phải thuộc quyền riêng giai cấp nào,
mà của chung toàn thể dân tộc”.
Trong công cuộc xây dựng CNXH, Người luôn phê phán tính rập
khuôn máy móc, xa rời thực tiễn. Người đề cao thực tiễn và việc bám sát
thực tiễn, bằng chứng là trong những năm làm chủ tịch nước, Người luôn
theo dõi sát sao chỉ đạo cán bộ và thường xuyên thăm hỏi nhân dân để nắm
bắt tình hình nhân dân. Người có nhiều bài viết đề cao vai trò của việc
thường xuyên đổi mới lề lối làm việc của cán bộ Đảng viên. Người nhấn
mạnh vai trò của việc đổi mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Không thể cứ rập nguyên xi mô hình của Liên Xô, Trung Quốc vào
Việt Nam. Người đã nhiều lần khẳng định: chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
khác với Liên Xô cũng như Trung Quốc bởi điều kiện ở Liên Xô và Trung
Quốc là khác với Việt Nam. Người chỉ rõ bản chất của cuộc cách mạng
XHCN ở Việt Nam là: “Đánh thắng lạc hậu và bần cùng, để xây dựng hạnh

trước những khó khăn trong thời kì quá độ lên CNXH, trước những tác
17


động tiêu cực của cơ chế thị trường kết hợp vời sự chống phá nham hiểm
của kẻ thù, đã đánh mất phương hướng chính trị, dao động về lập trường tư
tưởng. Những diễn biến phức tạp của tình hình đòi hỏi mỗi cán bộ Đảng
viên đều phải có lập trường chính trị vững vàng, xác định rõ con đường
chúng ta đang đi là con đường tiến lên CNXH để từ đó vững bước trên con
đường mà Đảng, Bác và nhân dân ta đã chọn. Đảng ta cần phải có kế hoạch
tăng cường công tác an ninh quốc phòng kết hợp với giáo dục ý thức cách
mạng và bảo vệ tổ quốc, song song với đó là phải nâng cao dân trí và nhận
thức của người dân, phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt
là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số, nơi mà các
thế lực phản cách mạng luôn hướng tới lợi dụng dân trí thấp và địa bàn khó
khăn để chống phá công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta. Từ đó, ta tạo ra
một vị thế chắc chắn, vững vàng trên con đường mà ta đã, đang và sẽ đi.
Độc lập dân tộc và CNXH với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là
cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu và còn là động lực, là niềm tin
sắt son của cả dân tộc. Thế kỉ XXI mở đầu thiên niên kỉ thứ ba của một thế
giới đầy biến động, đồng thời cũng mở ra một kỉ nguyên hội nhập, đua
tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Dù thời cuộc biến đổi, dù phải đối mặt
với xu thế toàn cầu hóa với tất cả các mặt tích cực và tiêu cực, cho dù ai đó
bị lóa mắt bởi vẻ ngoài hào nhoáng của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị ấy,
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, trong ý thức và trong mọi hành động
vẫn là mục tiêu, là quốc bảo phù hợp với xu thế thời đại. Độc lập dân tộc
gắn với CNXH là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới, là cội
nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mã mãi về
sau.
Thứ hai, luôn đề cao tính độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong việc

sát, tự phê bình và phê bình, kiên quyết bài trừ cái xấu, xử lí nghiêm minh
19


những trường hợp vi phạm đạo đức cách mạng, làm trong sạch bộ máy Nhà
nước.
Chúng ta đang xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai
đoạn tư bản chủ nghĩa, cộng thêm hậu quả nặng nề của chiến tranh nên vẫn
còn khá lạc hậu so với các nước trên thế giới, đặc biệt là so với các nước tư
bản chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta một mặt phải chủ động học hỏi từ các nước
phát triển về khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, mặt khác, nhìn vào
những sai lầm thiếu sót của các nước và của chính mình, áp dụng một cách
sáng tạo vào tình trong nước để phát triển kinh tế, chính trị, khoa học kĩ
thuật. Về văn hóa, trong xu thế hội nhập, chúng ta cần phải học tập những
nét văn hóa tiến bộ trên cơ sở gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa lâu
đời của dân tộc, “hòa nhập nhưng không hòa tan”.
Chúng ta đã trải qua những sai lầm trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, trong việc bao cấp rập khuôn, quan liêu. Nhưng nhờ sự sáng
tạo và chủ động đổi mới mà giờ chúng ta mới có kết quả như ngày hôm
nay. Chính vì thế cần phải ra sức hơn nữa, sáng tạo đổi mới liên tục để có
thể hoà nhập vào nhịp vận động phát triển của nhân loại, từ đó tạo ra bước
phát triển tiến lên cho toàn dân tộc, vững bước trên con đường tiến lên
CNXH, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trải qua bao biến động, lịch sử đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí
Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về cách mạng và công
cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Những lý luận của Người luôn là ngọn
đèn soi sáng cho chúng ta trên con đường xây dựng một xã hội XHCN qua
mọi thời đại và sẽ còn sống mãi trong sự nghiệp vủa mỗi chúng ta.

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status