Phân tích, tìm hiểu và vận dụng, phát triển tư tưởng HCM về độc lập dân tộc, gắn liền với CNXH; tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo trong thực tiễn việt nam - Pdf 33

Phân tích, tìm hiểu và vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc
lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tinh thần độc lập tự chủ, tự lực
tự cường, đổi mới và sáng tạo trong thực tiễn Việt Nam hiện nay

MỤC LỤC
Trang
Lời giới thiệu

3

I/ Người là hiện thân sáng chói của độc lập

5

dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
1) Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng,

5

bất khả xâm phạm của các dân tộc.
2) Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai

6

cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa yêu nước, với chủ nghĩa quốc tế
II/ Người là mẫu mực của tinh thần độc lập tự

9

chủ, tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo

chuyển từ mở rộng thị trường buôn bán sang mở rộng xâm chiếm thuộc địa.
Các nước châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh lần lượt bị các đế quốc Anh, Pháp,
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha xâm lược. Đến giữa thế kỷ XIX, trước sự suy yếu
của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta.
Nhà Nguyễn không có khả năng chống đỡ và nước ta nhanh chóng trở thành
thuộc địa của Pháp. Tiếp sau đó là gần một thế kỷ nhân dân ta phải sống dưới
sự cai trị hà khắc, tàn bạo của đế quốc Pháp và bọn địa chủ phong kiến.
Trước bối cảnh nước sôi lửa bỏng của dân tộc, ngày 5 tháng 6 năm 1911,
tại bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm
đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Và sau 30 năm bôn ba trên khắp thế
giới, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Nguyễn Tất Thành đã trở về nước thành lập
một chính Đảng cách mạng chân chính ở Việt Nam và Người đã cùng Trung
ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng
của nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác.
Cả cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cho nhân dân, cho đát
nước, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức,
bất công, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Trong bài diễn văn
tại lễ kỷ niệm 105 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ chí Minh có viết: “Người
2


là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa
xã hội, là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường đổi mới
và sáng tạo”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất
cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân
dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong
sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của
nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là

4


( bọn thực dân, đế quốc ) bố thí. Độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn, theo
Người, phải được hiểu một cách đơn giản: nước Việt Nam là của người Việt
Nam, mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam phải do người Việt
Nam tự giải quyết. Và giá trị đích thực của độc lập dân tộc phải được thể hiện
bằng quyền tự do hạnh phúc của nhân dân, mà theo Người, độc lập dân tộc là
đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Tư tưởng độc lập
dân tộc, khát vọng độc lập dân tộc của Người được thể hiện ở tinh thần “thà
hy sinh tất cả”, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” và vượt lên tất cả là
tinh thần “không có gì quí hơn độc lập tự do.”
Có thể nói, tinh thần “không có gì quí hơn độc lập tự do” là tư tưởng và lẽ
sống của Hồ Chí Minh. Nó là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng không chỉ
của dân tộc Việt Nam mà còn của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì lẽ đó,
Người không chỉ được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” của Việt
Nam mà còn là “Người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc
thuộc địa trong thế kỷ 20”
2. Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.
Giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở
cuộc đấu tranh để dành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp
cách mạng đó mới chỉ đi được một chặng đường ngắn mà thôi. Bởi có độc
lập, tự do mà nhân dân vẫn đói khổ, thì nền độc lập tự do ấy cũng chẳng có ý
nghĩa gì. Hồ chí Minh đã thấu hiểu cảnh sống nô lệ, lầm than, đói rét và tủi
nhục của nhân dân Việt Nam trong thời thực dân phong kiến. Bởi vậy, một
trong những nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định của sự nghiệp giải phóng xã hội,
giải phóng con người, theo Hồ Chí Minh là phải xóa bỏ nghèo nàn lạc hâu,
vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người.
5



cấp nào khác, phải nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường của
giai cấp vô sản, kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa quốc tế.
Độc lập dân tộc, theo Hồ Chí Minh, là phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ khi tiếp cận Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin,
Hồ Chí Minh đã hình thành đường lối cứu nước: giải phóng dân tộc theo con
đường cách mạng vô sản, gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc
và quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH. Người nói: “ Cả hai cuộc giải phóng
này (dân tộc và giai cấp) chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và
của cách mạng thế giới.” Tiếp đó, ngay trong Chánh cương, Sách lược vắn tắt
được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng cộng sảnViệt Nam tháng 2/1930,
Hồ Chí Minh đã xác định Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: Làm tư
sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng (tức cách mạng dân tộc-dân
chủ) để đi tới xã hội cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn bó thống
nhất giữa độc lập dân tộc và CNXH vừa phản ảnh quy luật khách quan của sự
nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối
quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng
giai cấp và giải phóng con người. Xoá bỏ ách áp bức dân tộc mà không xoá
bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được
giải phóng. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự
do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì.” Do đó giành được độc lập rồi, thì
phải tiến lên CNXH, vì mục tiêu của CNXH là dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Như vậy, ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước
truyền thống đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước hiện đại, độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH.
Là một chiến sỹ quốc tế chân chính, xuất phát từ quan điểm độc lập tự do
là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc, Hồ Chí Minh
không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho độc
7


những nét lớn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành và con đường cứu
nước của Việt Nam đã được khẳng định. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội là sự thể hiện rõ nét nhất tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của
Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong điều lệ tạm thời của Hội liên hiệp công nhân quốc tế năm 1864 do
Mác khởi thảo, một tư tưởng cơ bản được nêu lên là: “Sự giải phóng của giai
cấp công nhân phải do bản thân giai cấp công nhân giành lấy”. Hơn 60 năm
sau, trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa, Hồ Chí Minh viết: “Vận
dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc
giải phóng của anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân
anh em”. Người vạch rõ tính chủ động của cách mạng thuộc địa đối với cách
mạng chính quốc: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp
bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không
đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong
những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể
giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng
hoàn toàn”. Người đã chỉ ra để mỗi người dân Việt Nam hiểu rằng ta phải tự
lực, làm cách mạng giải phóng mình, không nên trông chờ “Công nông cách
mạng Pháp thành công thì nhân dân Việt Nam sẽ được tự do” mà cần chủ
động “An Nam dân tộc cách mệnh thành công, thì tư bản Pháp yếu, tư bản
Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”. Chính những
luận điểm sáng tạo mới mẻ đó đã dẫn chủ tịch Hồ Chí Minh đến những quyết
định lịch sử. Tháng 8/1945, khi thời cơ xuất hiện, Người ra lời kêu gọi “Giờ
quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng
dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Thắng lợi của cách mạng tháng tám
là thắng lợi của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường và sáng tạo của Tư
tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt
Na, chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trên
9


lớn, đặc biệt là vào thời điểm chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu
sụp đổ. Đảng và nhân dân ta luôn kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội ngay trong lúc sóng to gió cả, nghiêm túc học tập bạn bè, những
nước đi trước, những kinh nghiệm hay và phù hợp nhưng không sao chép, dập
khuôn; đã xác định đường lối đổi mới và bước đi thích hợp. Thắng lợi của 17
năm đổi mới là thắng lợi của việc vận dụng sáng tạo và phát triển Tư tưởng
Hồ Chí Minh, trước hết trong việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, trong giáo dục và rèn luyện cán bộ, đảng viên.
III/ Vận dụng và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc,
gắn liền với chủ nghĩa xã hội và tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường,
đổi mới và sáng tạo trong thực tiễn hiện nay của Việt Nam.
1. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
a) Giữ vững độc lập dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn giữ nguyên
giá trị và sức sống của nó. Bởi lẽ, cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và bình
đẳng của các dân tộc từng là thuộc địa của đế quốc vẫn chưa đi đến hồi kết.
Các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh sau khi giành được
độc lập đều phải đương đầu với những khó khăn lớn về mặt kinh tế. Các nước
tư bản với sức mạnh tài chính hùng hậu cùng với kỹ thuật và công nghệ hiện
đại đã xâm nhập, chi phối nền kinh tế của những nước đang phát triển. Từ đó,
từng bước tiến hành chi phối về chính trị, biến các nước đang phát triển trở
thành những nước bị lệ thuộc, không giữ được độc lập tự chủ, bị tái thuộc địa
hóa dưới sự kiểm soát và chi phối của một thứ chủ nghĩa thực dân kiểu mới.
Về chính trị, kinh tế: dưới tác động của cuộc cách mạng thông tin và tài
chính, kinh tế thị trường đã mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Hàng hóa, dịch vụ,
11


tư bản, thông tin, công nghệ của các tập đoàn tư bản độc quyền xuyên quốc

các luồng giao lưu, trao đổi và ra quyết định với thế giới bên ngoài, làm chủ
được các quan hệ và lợi ích đan xen, tạo cho mình một thế đứng có thể giao
tiếp và hợp tác bình đẳng với mọi phía.
Với chính sách mở rộng giao lưu quốc tế, những cuộc giao lưu văn hóa với
nước ngoài cũng gia tăng mạnh mẽ. nhưng dân tộc ta không những không bị
đồng hóa mà vẫn giữ gìn và phát huy được ngày càng cao hơn bản sắc văn
hóa của dân tộc. Tiếp nhận những tinh hoa của nhân loại, ngăn chặn mặt tiêu
cực thâm nhập, đồng thời phát huy được nhừng giá trị xã hội và truyền thống
tốt đẹp của dân tộc mình, đó chính là bản lĩnh, ý thức tự chủ, cốt cách và tinh
thần độc lập của dân tộc Việt Nam mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và
phát triển một cách sâu sắc.
Về an ninh quốc phòng: Sự quốc tế hóa các chính sách an ninh là một đặc
điểm mới của thế giới. Nhiều nước tham gia hợp tác về an ninh khu vực, an
ninh toàn cầu. Ngoài những mối đe dọa quân sự truyền thống do mâu thuẫn
về ý thức hệ, đất đai lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên còn có những mối đe
dọa phi quân sự làm mất an ninh như xung đột sắc tộc, khủng bố, buôn lậu,
ma túy…Nguy cơ đe dọa chủ quyền, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ không chỉ đến
từ bên ngoài mà còn nằm trong lãnh thổ, không chỉ nảy sinh từ những nguyên
nhân chính trị xã hội mà còn từ chính những sai lầm trong các chính sách kinh
tế, văn hóa, tôn giáo, sắc tộc, ngoại giao…
Trong bối cảnh hiện nay, để đảm bảo vững chắc độc lập chủ quyền, an
ninh quốc phòng cũng như toàn vẹn lãnh thổ của đát nước, cần phải có sức
mạnh tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố, đó là sự vững chắc về chính trị, sức
mạnh quân sự, kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục, bản sắc văn hóa, chính
sách ngoại giao và trên hết là năng lực tư duy độc lập và sáng tạo trong quá
13


trình hoạch định chính sách, đường lối và chiến lược. Sức mạnh của một quốc
gia là phải luôn giữ vững quyền độc lập tự chủ trên cơ sở làm chue được các

những quan niệm sai lầm, giáo điều, chủ quan, duy ý chí để tìm ra con đường
tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đúng quy luật, đúng với đặc điểm của mỗi
nước và của thời đại. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
chỉ do sai lầm, khuyết tật của mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Xô Viết. Xuất
phát từ thực tiễn nền sản xuất thế giới đang chuyển từ cách mạng công nghiệp
sang cách mạng thông tin, đòi hỏi tính xã hội hóa cao của sản xuất mà Đảng
ta đã phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường
lối đổi mới sáng tạo, mở cửa và xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với quy luật, đã đưa đất nước ra khỏi khủng
hoảng và tiến lên.
Chủ tịch hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đặc điểm lớn nhất của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến
hành cách mạng dân tộc dân chủ, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa. Nước ta không những là một nước lạc hậu nghèo
nàn mà còn trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài, khốc liệt để giành độc lập tự
do. Cho nên chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh là một công cuộc hết sức khó khăn. Vì vậy,
cần quán triệt sâu sắc tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh là động viên toàn
dân, dựa vào sức mạnh của toàn dân. Phải coi trọng công tác chính trị, tư
tưởng, giáo dục, phát động ý thức dân tộc, phát huy ý chí kiên cường, tinh
thần quật khởi không cam chịu đói nghèo lạc hậu; động viên mọi người dân
Việt Nam cùng nhau đoàn kết, đem hết tâm huyết, tinh thần và nghị lực, của
cải, tài năng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, làm cho đất nước
15


sớm đuổi kịp các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực và trên thế
giới.
Từ một nước kinh tế lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải hết sức coi

lại mọi hủ bại tiêu cực làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn.
Ngoài ra, cần chú ý đến yêu cầu phát triển bền vững, bền vững về xã hội
và bền vững về sinh thái. Bền vững về xã hội là kinh tế tăng trưởng nhưng xã
hội vẫn ổn định, không có những xáo trộn làm ảnh hưởng đến việc huy động
mọi lực lượng xã hội vào quá trình phát triển. Bền vững về sinh thái là quá
trình tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời bảo vệ được các nguồn lợi thiên
nhiên và môi trường sinh thái cho thế hệ hiện nay và các thế hệ tương lai.
Nói tóm lại, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta thì vấn đề là “Tất cả do dân, tất cả vì dân”, dựa vào sức mạnh vĩ đại
của nhân dân làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của dân tộc ta.
2. Phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo
Hiện nay trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trước
tình hình thế giới diễn biến phức tạp, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hơn
bao giờ hết càng phải phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự
cường, đổi mới và sáng tạo của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Việt Nam sẵn sàng là
bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa
bình độc lập và phát triển. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự
chủ, rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, chúng ta
đang tận dụng mọi khả năng để thu hút ngày một nhiều hơn các nguồn lực
bên ngoài, nhưng cần khẳng định rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước
hết là sự nghiệp của bản thân nhân dân ta, do trí tuệ và sức lực của nhân dân
17


ta. Văn kiện Đại hội IX có viết: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đảm bảo
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối,
chính sách…Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết
hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”.
Độc lập tự chủ biểu hiện trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn

tuân theo những nguyên tắc, luật lệ, quy chuẩn đã được đề ra. Làm sao giữ
vững và làm chủ được thế trận, lợi ích của mình, ứng phó chủ động với những
rủi ro, không để xảy ra thua thiệt, thất bại và thu được lợi khi phải đối diện
với nhiều sức ép, thách thức bủa vây như vậy? Câu trả lời thuộc về chính bản
thân mỗi quốc gia. Nếu không giữ vững tinh thần độc lập tự chủ trước, trong
và sau khi tham gia quá trình toàn cầu hóa thì sẽ đi chệch hướng, tự bật ra
khỏi quý đạo phát triển, nền kinh tế dễ bị chao đảo trước những biến động bên
ngoài.
Chúng ta chỉ có thể giữ vững được độc lập tự chủ khi có đủ bản lĩnh, nội
lực. Nhưng để có đủ bản lĩnh, phát huy cao nhất tiềm lực vốn có của dân tộc
thì phải hiểu sâu sắc luật lệ của WTO khi nước ta tham gia vào tổ chức
thương mại lớn nhất thế giới này. Nắm bắt đầy đủ môi trường kinh tế, luật
pháp cũng như xu hướng chính trị của đối tác; nhận thức, dự báo được những
biến động đó, rút ra những bài học của các nước đi trước; đổi mới và có sự
bứt phá tư duy hội nhập; đấu tranh, thương lượng trên cơ sở bảo đảm độc lập
dân tộc và chủ quyền quốc gia. Độc lập tự chủ trong hội nhập cũng có nghĩa
là biết học tập, tiếp thu kinh nghiệm của các nước. Trên cơ sở đó, cải biến,
sáng tạo những giá tri mới, mang đậm bản sắc, phong cách dân tộc.
Để có thể hòa vào dòng chảy trình độ phát triển chung của thế giới, chúng
ta cần nhận rõ thế và lực cũng như những hạn chế yếu kém của chúng ta hiện
nay; đổi mới sâu sắc và tự chủ trong nhận thức, tư duy và hành động, biến
19


những cái riêng, đặc thù của ta thành lợi thế, mũi nhọn chủ lực; phát huy các
giá trị truyền thống, tiếp thu những thành quả khoa học-công nghệ hiện đại,
phù hợp với đặc điểm và điều kiện đất nước; tranh thủ tối đa nguồn lực bên
ngoài kết hợp với nội lực tạo thành sức mạnh, tìm được vận hội cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bắt kịp với sự phát triển chung của
thế giới; tránh xu hướng nóng vội, chủ quan hay chần chừ, do dự bởi nếu vậy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status