2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Song song với sự phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ của khoa học kỹ
thuật trên thế giới nói chung và y học nói riêng đã làm cho chất lượng cuộc sống
của con người ngày càng nâng cao làm thay đổi nhanh chóng các mô hình bệnh
tật. Hiện nay ở nước ta, tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm đi và các
bệnh không lây nhiễm đang dần tăng lên đặc biệt các bệnh về tim mạch trong đó
có tăng huyết áp. Tăng huyết áp (THA) là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở
Việt Nam là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi, là
mối đe dọa tới sức khỏe con người [41]. Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt
Nam đang chỉ ra THA đang trở thành một vấn đề thời sự vì sự gia tăng nhanh
chóng của căn bệnh này trong cộng đồng.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trên thế giới có khoảng
1,5 tỷ người bị THA và có tới 7,5 triệu người tử vong do biến chứng THA. Hiện
tại tỷ lệ THA của NCT ở một số nước như sau: Bangladesh là 65%, tỉ lệ THA ở
những người 60 tuổi ở Hoa Kỳ là 54%, tăng lên 65% ở lứa tuổi 70 [41], Mexico
là 43% [6], Ấn Độ từ 55%-72% [44].
Tại Việt Nam, tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng. Trong những
năm 1960 tỷ lệ THA khoảng 1%, năm 1992 là 11,2% năm 2001 là 16,3% năm
2005 là 18,3%. Theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim Mạch Việt Nam tại
8 tỉnh/thành phố của nước ta thì tỷ lệ THA của những người từ 25 tuổi trở lên đã
là 25,1%. Nghĩa là cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị THA. Với dân số
hiện nay của Việt Nam khoảng 88 triệu dân thì có khoảng 11 triệu người bị
THA. Viện chiến lược và chính sách y tế năm 2006 đã đưa ra tỉ lệ THA ở người
cao tuổi qua điều tra 7 tỉnh trong cả nước (bao gồm Sơn La, Hải Dương, Hà
Tĩnh, Ninh Thuận, Đắc Lăk, Bà Rịa Vũng Tàu, Vĩnh Long) là 28,4% [5]. Nghiên
3
Tăng huyết áp là tình trạng huyết áp luôn tăng cao hơn so với mức binh
thường. Theo tổ chức y tế thế giới và hội tăng huyết áp quốc tế (Word Heath
Organization- WHO và Society of Hypertensin-ISH) đã thống nhất gọi là tăng
huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥90
mmHg.
1.1.2. Phân loại tăng huyết áp
Liên ủy ban quốc gia về dự phòng đánh giá,điều trị tăng huyết áp Hoa Kỳ
(Join National Committee- JNC) đã đưa ra các phân loại hơi khác qua các kỳ họp
(JNC IV 1988, JNC V 1993, JNC VI 1997) và gần đây nhất JNC VII 2003 chia
tăng huyết áp như sau [31]:
Bảng 1.1 : Phân độ tăng huyết áp theo JNCVII (2003)
Phân độ THA
HATT (mmHg)
HATTr ( mmHg)
< 120
5
Năm 2008, hội tim mạch học Việt Nam đã đưa ra cách phân độ tăng huyết
áp như sau [7]:
Bảng 1.3: Phân độ tăng huyết áp theo hội tim mạch học Việt Nam
Phân loại
HA tối ưu
HA bình thường
HA bình thường- cao
THA độ I
THA độ II
THA độ III
THA tâm thu đơn độc
HATT ( mmHg)
< 120
< 130
130 – 139
140 – 159
160 – 179
≥ 180
≥ 140
HATTr (mmHg)
(11,7%) nơi mà người dân ăn nhiều muối hơn so với đồng bằng và vùng núi
(8,33%) [7]. Nghiên cứu của Bùi Đức Long (2006) cho thấy trong số những
người ăn mặn có tới 28,9% bị THA cao hơn những người không ăn mặn
(16,4%), người ăn mặn có nguy cơ THA gấp 2,1 lần so với người bình thường
[22].
- Rượu: WHO đã khuyến cáo “rượu làm THA và đó là yếu tố nguy cơ của
tai biến mạch máu não, thường phối hợp với bệnh tim, loạn nhịp tim, tăng xuất
huyết não. Nếu uống rượu điều độ chỉ ở mức 10g ethanol x 1-3 lần/ngày thì có
thể chấp nhận được, ở mức trên 3 lần/ngày (>30g ethanol) có bằng chứng có hại
cả về sinh học lẫ xã hội” [13].
- Hút thuốc lá trên 10 điếu/ngày, uống rượu trên 100 ml/ngày liên tục
trong 3 năm là những nguy cơ gây THA. Khói thuốc lá có chứa nicotin, mỗi điếu
7
thuốc lá chứa 25 mg nicotin. Khi vào cơ thể nicotin sẽ kích thích hạch giao cảm
gây tăng tiết adrenalin và noradrenalin là chất gây co mạch ngoại vi đồng thời
trong thuốc lá có nhiều chất độc khác làm tăng Cholesterol máu đảy nhanh sự
phát triển của xơ vữa động mạch gây THA. Hút nhiều có thể gây THA kịch phát
rất nguy hiểm, HA sẽ tăng thường xuyên ở những người hút thuốc lá nhiều đặc
biệt là những người hút trên 20 điếu mỗi ngày [42]. Nicotin làm tim đập nhanh
hơn, co tim phải co bóp nhiều hơn. Oxyd carbon có trong khói thuốc lá làm máu
giảm cung cấp oxy cho các tế bào và cùng với áp lực tăng sẵn của dòng máu khi
bị THA càng gây tổn thương thêm các tế bào lớp nội mạc của động mạch và tạo
điều kiện cho bệnh xơ vữa động mạch phát triển [7].
- Yếu tố tâm lý xã hội, có tình trạng căng thẳng (stress) thường xuyên. Khi
bị căng thẳng thần kinh, hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động giải phóng
ra adrenalin và noradrenalin làm tim tăng co bóp, nhịp tim đập nhanh hơn, động
mạch nhỏ co lại và làm huyết áp tăng, trên nền bệnh THA thì gây cơn THA kịch
- Khi huyết áp tăng, sức cản ngoại biên tăng thể tích huyết tương có xu
hướng giảm cho đến khi thận suy thể tích dịch trong máu tăng có thể dẫn đến
phù.
•
Biến đổi về thần kinh:
9
Ở thời kỳ đầu ảnh hưởng của hệ giao cảm biểu hiện ở sự tăng tần số tim
và sự tăng lưu lượng tim. Sự hoạt động của hệ thần kinh giao cảm còn biểu hiện
ở lượng Catecholamine trong huyết tương và dịch não tủy như adrenaline, noadrenaline, tuy vậy nồng độ các chất này cũng rất thay đổi trong bệnh THA.
- Hệ thần kinh tự động giao cảm được điều khiển bới hệ thần kinh trung
ương hành não-tủy sống và cả hai hệ này liên hệ nhau qua trung gian các thụ
cảm áp lực. Trong THA các thụ cảm áp lực được điều chỉnh đến mức cao nhất
và với ngưỡng nhạy cảm cao nhất.
•
Biến đổi về dịch thể
- Hệ Renin-Angiotensine Aldosterone (RAA): Hiện nay đã được chứng
minh có vai trò quan trọng do ngoài tác dụng ngoại vi còn có tác dụng trung
ương ở não gây THA qua các thụ thể angiotensine II (UNGER-1981, M. PINT,
1982). Có tác giả chia THA nguyên phát dựa vào nồng độ renine cao, thấp trong
huyết tương, có sự tỷ lệ nghịch giữa nồng độ renine-angiotensine II trong huyết
tương và tuổi.
- Angiotensine II được tổng hợp từ angiotesinegène ở gan và dưới tác
dụng renine sẽ tạo thành angiotesine I rồi chuyển thành angiotesine II là một chất
co mạch rất mạnh và làm tăng tiết aldosterone. Sự phóng thích renine được điều
khiển qua ba yếu tố: -Áp lực tưới máu thận - lượng Na+ đến từ ống lượn xa và
- Do cường Aldosteron và hội chứng cushing.
- Hẹp eo động mạch chủ.
- THA ở phụ nữ có thai: Bệnh THA xuất hiện hoặc nặng lên trong thời kỳ
thai nghén và là một trong những nguyên nhân gây tử vong cho bà mẹ và thai
nhi. Tỷ lệ tử vong ở bà mẹ là 10%, của con là 33%.
- Sử dụng estrogen: Nguyên nhân phổ biến gây THA do yếu tố nội tiết
khác là việc dung viên thuốc tránh thai kéo dài có chứa estrogen, đây cũng là
dạng phổ biến nhất của THA thứ phát.
- Các nguyên nhân khác: THA kếp hợp với tăng Kali máu, tăng canxi máu
do cường tuyến cận giáp [4].
1.4. Biểu hiện của tăng huyết áp
- Đa số bệnh nhân bị THA không có triệu chứng gì cho đến khi phát hiện
ra bệnh: hay gặp nhất là đau đầu vùng chẩm và hai thái dương. Ngoài ra có thể
gặp các triệu chứng khác như: hội hộp, mệt mỏi, khó thở, mờ mắt…..nhưng
không đặc hiệu. Một số triệu chứng khác của THA tùy thuộc vào nguyên nhân
THA hoặc biến chứng của THA.
- Đo huyết áp là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định.
Phương pháp Korotkoff dùng huyết áp kế thủy ngân hoặc các loại huyết áp khác
được chuẩn lại 6 tháng/lần. Số đo huyết áp được đánh giá theo tiêu chuẩn của hội
tim mạch học Việt Nam như sau :
12
Tại phòng khám: Khi bệnh nhân có trị số HA ≥ 140/90mmHg. Sau khám
lại lâm sàng ít nhất 2 lần hoặc 3 lần khác nhau. Mỗi lần khám được đo ít nhất 2
lần.
Tại nhà khi đo nhiều lần đúng phương pháp có trị số HA > 135/85mmHg
- Dấu hiệu lâm sàng khác : Bệnh nhân có thể béo phì, mặt tròn, cơ chi trên
phát triển hơn cơ chi dưới trong hẹp eo động mạch chủ. Tìm các biểu hiện xơ
1.5.3. Thận
THA gây xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh, làm xơ thận dần dẫn đến
suy thận. THA gây nên hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận là nguyên
nhân của THA ác tính và đặc biệt THA làm thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn
đến nồng độ Angiotensin II trong máu tăng gây cường Aldosteron thứ phát.
1.5.4. Mạch máu
THA là yếu tố sinh xơ vữa động mạch, tạo điều kiện cho sự hình thành xơ
vữa động mạch. Ngoài ra THA gây phồng động mạch chủ, bóc tách dễ dẫn đến
nguy cơ vỡ động mạch đe dọa tính mạng người bệnh.
1.5.5. Mắt
Khám đáy mắt là rất quan trọng vì nó là dấu hiệu tốt để tiên lượng. Theo
Keith- Wagener. Backer có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt:
•
•
•
•
Giai doạn 1: tiểu động mạch cứng và bóng
Giai doạn 2: tiểu động mạch hẹp và có dấu hiệu bắt chéo (gunn).
Giai đoạn 3: xuất huyết và xuất tiết võng mạc nhưng chưa có phù gai.
Giai đoạn 4: phù lan tỏa gai thị [4].
14
1.6. Quản lý, giáo dục về bệnh tăng huyết áp
Theo quan điểm của các bác sĩ tim mạch đặc biệt là các bác sĩ điều trị
THA tại cộng đồng:
Để quản lý tốt bệnh THA cần: khám định kỳ để phát hiện được bệnh THA
và các bệnh liên quan. Chú ý những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao. Đối
1.6.2. Tuân thủ chế độ thuốc
Các chuyên gia về tim mạch cho biết, trong quá trình điều trị THA, tình
trạng bệnh nhân tự ý bỏ thuốc là phổ biến. Với suy nghĩ huyết áp hạ và ổn định
rồi thì không cần phải uống thuốc nữa. Nhiều trường hợp huyết áp ổn định trong
thời gian dài có khi tới 3-5 nằm làm cho người bệnh yên tâm, chủ quan không
dùng thuốc nữa, nhưng bất ngờ huyết áp lại tăng lên đột ngột khiến cho nhiều
người bị tai biến mạch máu não, thậm chí tử vong. Nhiều trường hợp, thời gian
đầu uống thuốc rất nghiêm chỉnh, tuân thủ theo chỉ định của thầy thuốc, khi thấy
huyết áp ổn định đã tự ý giảm liều. Do đó vấn đề tuân thủ đúng chế độ thuốc là
vấn đề rất quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp và giảm các biến chứng do
bệnh THA gây ra. Cần có sự phối hợp giữa gia đình và y tế trong việc nhắ nhở
bệnh nhân uống thuốc đầy đủ, đi khám định kỳ theo hẹn và đi lấy thuốc đầy đủ.
1.7. Tình hình về hành vi nguy cơ gây THA và tình hình THA ở một số nước
trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế thế giới, THA ảnh hưởng tới sức
khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là yếu tố nguy cơ tim mạch quan
trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh
thận mạn tính. THA là một trong những vấn đề quan trọng đối với sức khỏe công
đồng. Tỷ lệ người mắc THA ở Âu - Mỹ là 15 – 20%. Hoa Kỳ từ năm 1988 –
1991 có 20,4% người trên 18 tuổi bị THA. Năm 2005, trong số 17,5 triệu người
tử vong do các bệnh tim mạch thì THA là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của
7,1 triệu người. [36]
Năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc THA chiếm khoảng 10 - 15% dân số và
ước tính đến 2025 là 29%. Tại Hoa Kỳ, hàng năm chi phí cho phòng chống bệnh
16
THA trên 259 tỷ đô la Mỹ [34]. Từ những năm 70, chính phủ Hoa Kỳ và các cơ
quan chức năng đã sớm đề xuất và thực hiện các biện pháp can thiệp cho THA
rượu, 400 triệu người sử dụng rượu ở mức nguy hại dẫn đến tai nạn và tử vong,
rượu bia gây ra 4% gánh nặng bệnh tật và 3,2% tổng số tử vong toàn cầu, là
nguyên nhân gây ra hơn 60 loại bệnh. Thiệt hại về kinh tế do rượu bia chiếm từ 2
- 6% GDP của các nước đó là còn chưa kể tới tổn thất không thể ước tính được
về mặt xã hội khác [37].
Theo thông báo của WHO (1990) có tới 30 – 40 % nam giới và 20 – 40%
nữ giới hút thuốc lá ở các nước phát triển, 40 – 70 % nam giới và 2 – 10 % nữ
giới hút thuốc lá ở các nước đang phát triển. Thuốc lá giết chết một nứa số người
sử dụng nó. Một nửa số này chết ở tuổi trung niên. Trung bình một ngày trên thế
giới có 10.000 người chết do sử dụng thuốc lá tương đương với 10 máy bay loại
lớn chở khách bị tai nạn mỗi ngày.
Theo Beilin và cộng sự cho thấy việc hút thuốc lá làm tăng nguy cơ nhồi
máu cơ tim lên 4 lần, đột tử lên 5 lần, tai biến mạch máu não lên 1,5 lần và nguy
cơ mắc bệnh THA lên cao gấp 1,45 lần so với người không hút thuốc lá, người
uống nhiều rượu (≥30 lần/tuần) có nguy cơ THA gấp 2 lần so với người không
uống rượu [38].
Theo tác giả Theodore A Kotchen (2001) nếu giảm lượng muối ăn sẽ giảm
nguy cơ THA 20% trong vòng 3 – 4 năm [43].
Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) sẽ gây THA
trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA động mạch. Theo WHO
(1990) nên ăn dưới 6g/ngày. Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một
18
trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và cách điều trị mà không
phải dùng thuốc tốt nhất [46].
1.8. Tình hình các hành vi nguy cơ gây THA và tăng huyết áp tại Việt Nam
Tỷ lệ THA tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng. Theo thống kê của giáo
sư Đặng Văn Chung năm 1960, tần suất THA ở người lớn phía bắc Việt Nam chỉ
19
béo…) ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn lipid
máu, tiểu dường, tiền sử gia đình có người bị THA ….
Hành vi hút thuốc lá
Theo nghiên cứu của Pham Gia Khải và cộng sự ở vùng đồng bằng Thái
Bình các yếu tố nguy cơ bao gồm: hút thuốc lá, uống rượu, ăn mặn, nghiên cứu
trên các đối tượng nghiện thuốc lá, có 1450 người chiếm tỷ lệ 19,03% (nam:
1399 người chiếm 96,48%, nữ 51 người chiếm 3,51%). Số điếu hút trung bình là
22,14 ± 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao (20 điếu)/ngày/người. Tỷ lệ THA chung
ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86% [20].
Theo nghiên cứu của Đặng Xuân Tín và cộng sự thì tỷ lệ NCT có hút
thuốc lá hàng ngày (19,6%) [32]. Theo Phạm Thu Hiền điều tra tại Phổ Yên Thái
Nguyên cho thấy: tỷ lệ NCT hút thuốc lá chiếm 15,4% [12]. Đinh Thị Hương và
cộng sự tiến hành nghiên cứu tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên năm 2007
cho thấy: tỷ lệ NCT hay hút thuốc lá hàng ngày cũng khá cao (14,3%) [15].
Hành vi uống rượu bia
Ở Việt Nam tỷ lệ lạm dụng rượu ước tính 8% dân số và 4% là nghiện rượu
[3]. Rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chủ yếu đoạn đầu ruột non và
đạt hàm lượng trong máu cao nhất sau khi uống từ 30 đến 90 phút. Đã có một số
nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều và THA, nhưng
cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng. Có những ý kiến chưa thống nhất
nhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA. Một số nghiên cứu cho thấy
THA ở 20-30% số người lạm dụng rượu [3]. Hơn nữa rượu còn có thể gây rối
loạn nhịp tim, rối loạn điều hoà lipoprotein và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi
20
máu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu. Vùng nào tiêu thụ nhiều rượu, nơi đó
mong muốn. Công tác truyền thông về bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng,
các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo cán bộ cho công tác phòng chống THA tại
các cơ sở còn nhiều hạn chế. Ngân sách đầu tư cho công tác quản lý THA tại
cộng đồng hầu như còn khiêm tốn.
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Những người tuổi từ 60 trở lên đang sinh sống tại xã Động Đạt và Thị
Trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Phú Lương giáp huyện Định Hóa về phía tây bắc, huyện Đại Từ về phía
tây nam, huyện Đồng Hỷ về phía đông, thành phố Thái Nguyênvề phía nam và
huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn) về phía đông bắc.
- Đu là thị trấn huyện lị của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Việt
Nam. Thị trấn nằm tại trung tâm địa lý của huyện và kéo dài theo chiều bắc-nam,
dọc theo quốc lộ 3. Ngoại trừ một phần phía nam giáp với xã Phấn Mễ, Phú
Lương, thị trấn Đu được xã Động Đạt bao quanh các mặt còn lại và ngược lại,
thị trấn Đu dường như tách xã Động Đạt thành hai phần tách biệt nhau.
Theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999-2003, thị trấn Đu có diện
tích 2,13 km², dân số là 4177 người, mật độ dân cư đạt 1962 người/km².
- Động Đạt là một xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Theo
Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999-2003, xã Động Đạt có diện tích
40,34 km², dân số là 9874 người, mật độ cư trú đạt 244 người/km².
23
24
+ Đồng ý trả lời phỏng vấn.
Tiêu chí loại ra:
+ Người không đồng ý trả lời phỏng vấn.
+ Có rối loạn tâm thần hoặc câm điếc.
+ Có biến chứng như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.
+ Có bệnh lý khác kèm theo: đái tháo đường, bệnh nội tiết khác.
2.5. Chỉ tiêu nghiên cứu
- Một số thông tin nhân khẩu học: họ tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, dân tộc,
trình độ học vấn, hộ nghèo, số thành viên trong gia đình, số thế hệ.
+ Tuổi được chia làm 2 nhóm: Nhóm 1: dưới 70 tuổi, nhóm 2: từ 70 tuổi
trở lên.
+ Nghề nghiệp được chia làm 3 nhóm: nông dân, hưu trí, khác.
+ Dân tộc được chia làm 2 nhóm: Kinh, DTTS.
+ Trình độ học vấn chia làm 2 nhóm:
• Nhóm 1: dưới THCS trở xuống. Bao gồm những đối tượng: là
những người không biết đọc, không biết viết, chưa học hết hoặc đã
học hết lớp 4/10 hoặc 5/12.
• Nhóm 2: từ cấp 2 trở lên: là những người học hết lớp 7/10 hoặc
9/10, lớp10/10 hoặc 12/12 hoặc học hết ĐH, CĐ, THCN.
+ Hộ nghèo: Ngày 30/1/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp
dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 [1]. Những hộ NCT ở Phú Lương được cấp sổ
hộ nghèo theo quy định hiện hành là hộ nghèo.
- Hành vi của đối tượng nghiên cứu: uống rượu/bia, hút thuốc lá, ăn mỡ,
ăn mặn.
Uống nhiều
: >500 ml/ngày
+ Thói quen ăn uống: bằng cách hỏi đối tượng có ăn mặn hơn so với mọi
người không, thường dùng thức ăn xào rán không. Loại dầu mỡ hiện đang dùng,
có chế độ ăn giảm mặn giảm béo không.
- Tìm hiểu về mức độ hiểu biết THA: bằng cách hỏi biết THA là bao
nhiêu, biểu hiện, biến chứng, các yếu tố nguy cơ. Kiến thức tốt về bệnh là trả lời
đúng ≥80% các chỉ tiêu trên, kiến thức mức trung bình là trả lời đúng 60 – 79%
và kiến thức kém là trả lời đúng