TÀI LIỆU THAM KHẢO bài GIẢNG y học cổ TRUYỀN BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ CHUẨN đoán bát CƯƠNG - Pdf 41

Biện chứng luận trị chẩn đoán bát cương
(Inference and treatment of eight main definitions)
Mục tiêu.
- Hiểu và giải thích rõ khái niệm chung về bát cương, nắm
vững những điểm trọng yếu trong phương pháp chẩn đoán
bát cương.
- Bát cương là tám phương pháp chẩn đoán của y học cổ
truyền, nhằm phân biệt chính xác trạng thái hiện tại của
người bệnh:
- Hư hay thực, vị trí nông hay sâu, tính chất hàn hay nhiệt và
từ đó khẳng định xu thế phát triển chung của bệnh tật là âm
thắng hay dương thắng, âm hư hay dương hư…
1. Đại cương
Bát cương là xác định trạng thái hiện tại của cơ thể người bệnh,tìm
hiểu bản chất của bệnh; địa danh, thời gian phát bệnh , thông qua tứ
chẩn, tập hợp các triệu chứng chỉnh thể, phân tích tổng hợp về bệnh
sử, đề xuất được chẩn đoán chính xác.
- Yêu cầu biện chứng bát cương:
- Phải vừa chú ý tính chất chung, vừa chú ý tính chất riêng
của bệnh, vừa chú ý đến cục bộ, vừa chú ý đến yếu tố toàn
thân, vừa chú ý đến quá trình tiêu trưởng (diễn biến tăng
giảm), vừa chú ý đến sức đề kháng mạnh yếu của cơ thể
người bệnh.
- Y học cổ truyền thường diễn tả hai khái niệm khác nhau:
- Triệu chứng của bệnh và hội chứng
- chứng bệnh là chỉ triệu chứng cụ thể như đau đầu, sốt,
nôn…Hội chứng là chỉ tập hợp triệu chứng chỉnh thể nhất
định, thực chất là khái quát tổng hợp những hiện tượng
bệnh lý lâm sàng.




và lý phân biệt vị trí, hàn nhiệt, hư thực phân biệt tính chất,
còn âm và dương là khái quát về tổng cương.
- Trên cơ sở phân tích, tổng hợp qui nạp làm cho ta có nhận
thức toàn diện về đặc điểm và tính chất khác nhau của bệnh
tật.
2. Nội dung cụ thể của bát cương.
2.1. Biểu và lý:
Biểu và lý là chỉ vị trí bệnh nông hay sâu và bệnh tình nặng hay nhẹ,
nói chung bệnh ở cơ biểu đều thuộc biểu, bệnh nhẹ biểu hiện ở phần
ngoài, còn bệnh ở tạng phủ phần nhiều thuộc lý chứng, bệnh diễn
biến nặng hơn và vị trí ở sâu.
Biểu chứng đa phần là thời kỳ đầu của bệnh ngoại cảm, biểu
hiện lâm sàng chủ yếu;
Phát sốt, sợ lạnh, sợ gió, đau đầu, tứ chi nhức mỏi, tắc ngạt mũi, ho
khan, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù, trong đó phát sốt, sợ lạnh,
mạch phù là đặc trưng của biểu chứng.
Biểu chứng còn được phân ra biểu hàn, biểu nhiệt, biểu hư,
biểu thực. Trong biểu hàn có sợ lạnh nhiều, phát sốt ít, mạch phù
khẩn, điều trị dùng tân ôn giải biểu. Trái lại sợ lạnh ít, phát sốt nhiều,
mạch phù sác là chứng biểu nhiệt, điều trị phải dùng tân lương giải
biểu. Biểu chứng không có mồ hôi là biểu thực, phải dùng thuốc phát
biểu mạnh, trái lại biểu chứng đa hãn là biểu hư, không được dùng
quá nhiều thuốc phát biểu.
Đối với người già, cơ thể suy nhược vừa giải biểu khử tà vừa
phải chú ý phù chính (nâng cao chính khí).
Lý chứng:
Thường gặp trong thời kỳ toàn phát của các bệnh ngoại cảm hoặc là
biểu tà được giải, hoặc là tác nhân gây bệnh được chuyển vào lý,
bệnh có biểu hiện ở tạng phủ.

trong bệnh ngoại cảm, biểu chứng chưa giải hết, tà đã chuyển vào lý,


Hai là bệnh nhân sẵn có bệnh nội thương lại vừa bội nhiễm thêm
bệnh ngoại tà (tân cảm). Biểu lý đồng bệnh phải biểu lý song giải,
sau là ưu tiên điều trị tân cảm.
Điểm chủ yếu phân biệt biểu chứng và lý chứng: trong chứng
bệnh có sốt, có sợ lạnh, có khi không, chất lưỡi lúc đỏ lúc nhợt, rêu
lưỡi lúc trắng lúc vàng, mạch tượng khi phù khi trầm nhưng chủ yếu
là có phát sốt, sợ lạnh, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch phù là thuộc biểu
chứng,
Trái lại phát sốt, không sợ lạnh, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm hoặc
sác là thuộc lý chứng.
2.2. Hàn và nhiệt:
Hàn và nhiệt là chỉ tính chất của bệnh tật.
“dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tất hàn”,
Thực chất của hàn nhiệt là biểu hiện cụ thể của âm dương thiên thịnh
hay thiên suy. Việc phân biệt hàn nhiệt có ý nghĩa quan trọng trong
dùng thuốc ôn ấm hay dùng thuốc hàn lương.
Chứng hàn có biểu hàn và lý hàn, ở đây chủ yếu đi sâu vào
chứng lý hàn. Biểu hiện chủ yếu là:
Sợ lạnh, tay chân mát lạnh, miệng nhạt, không khát,thích uống
ấm tiểu tiện trong nhiều đái đêm,đại tiện nát ,lỏng,sắc mặt xanh,rêu
lưỡi trắng trơn,chất lưỡi nhợt,mạch trì.
Chứng lý nhiệt biểu hiện chủ yếu là:
Người nóng chân tay ấm, thích uống lạnh, tiểu tiện ngắn đỏ, đại
tiện bí kết, sắc mặt đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô hoặc đen,
mạch sác hay gặp trong các loại bệnh có sốt cao,
Thời kỳ toàn phát của các bệnh truyền nhiễm và nhiễm trùng,
điều trị phải dùng pháp thanh nhiệt.

nóng), ngực bụng đều nóng, miệng khát, uống nhiều, thích mát, chất
lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mà khô, mạch trầm tế sác, hữu lực, xét về bản
chất bệnh vẫn là chứng nhiệt.


Y học cổ truyền cho rằng: “tà nhiệt nội uất việt thân, chi thể mạt đoạn
việt lương” tức là nhiệt càng cao, lạnh càng nhiều “nhiệt thâm quyết
cũng thâm” những trường hợp nêu trên là chân nhiệt giả hàn.
Trong chứng bệnh sốt (nhiệt thắng), khi tuần hoàn ngoại vi không
tốt thường có biểu hiện chân nhiệt giả hàn, khi điều trị chủ yếu vẫn
phải dùng thuốc hàn lương để thanh nhiệt giải độc.
Một số bệnh mãn tính kéo dài, người gầy, cảm giác mình nóng, hai
gò má đỏ về chiều hay phiền táo, rêu lưỡi đen, mạch phù đại, bên
ngoài thấy gần như có nhiệt; nhưng bệnh nhân thích uống nước ấm,
ăn nóng, nằm co quắp, đa số thích mặc áo, đắp kín, chất lưỡi trắng
nhợt, rêu lưỡi đen mà nhuận, mạch phù đại nhưng vô lực vì vậy bản
chất vẫn là chứng hàn gọi là chân hàn giả nhiệt, phải dùng thuốc ôn
nhiệt để ôn dương trừ hàn.
Tiêu chuẩn chủ yếu phân biệt chứng hàn và chứng nhiệt.
Chứng hàn

Chứng nhiệt

- Miệng không khát
- Miệng khát
- Thích uống ấm nóng
- Thích uống mát
- Tiểu tiện trong dài
- Tiểu tiện ngắn đỏ
- Đại tiện lỏng nát

gò vô lực, tâm quí, khí đoản, tự hãn, tư hãn, lưỡi mềm bệu không rêu,
mạch tế nhược, vô lực, điều trị chủ yếu dùng bổ pháp. Hư chứng có:
âm hư (hư nhiệt), dương hư (hư hàn), khí hư, huyết hư và ngũ tạng
hư.
Thực chứng đa phần thuộc bệnh mới mắc, tà khí còn thịnh. Ví
dụ: ngoại cảm tà thịnh; đàm ẩm thủy thấp nội đình, khí trệ huyết ứ,
thực tích, trùng tích…Mặt khác do sức đề kháng cơ thể mạnh, kết quả
là tà chính đều mạnh nên đấu tranh quyết liệt hơn. Đặc điểm lâm sàng
của thực chứng là.
- Quá trình diễn biến bệnh ngắn.
- Tà khí, chính khí đều mạnh, đấu tranh quyết liệt, triệu chứng
lâm sàng rầm rộ.
- Tinh thần hưng phấn, âm thanh cao, khí thô hoặc sốt cao, mặt
đỏ hoặc không sốt, mặt xanh, hoặc đàm nghịch tích thịnh hoặc đau dữ
dội, cự án, rêu lưỡi thường đầy, mạch hồng có lực.
Trong thực chứng cũng có thực hàn, thực nhiệt. Ví dụ: áp xe
phổi thì phát sốt, miệng khát, suyễn khái, hung thống do đàm mủ tích
tụ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, mạch hoạt sác, có lực là chứng


thực nhiệt, phải dùng thuốc tả phế thanh nhiệt để điều trị. Nếu như
đau bụng dữ dội, từng cơn, âm thanh cao, khí thô, mặt xanh, chi lạnh,
rêu lưỡi trắng đầy, mạch trầm khẩn, có lực đó là chứng lý thực hàn,
khi điều trị phải dùng thuốc ôn trung tán hàn.
Hư thực thác tạp: trên lâm sàng thường có hư chung hiệp thực,
trong thực có hư, trong diễn biến bệnh đều tồn tại cả hư và thực. Ví
dụ: người bệnh xơ gan cổ chướng; toàn thân gầy gò, thiếu máu, xanh
vàng, mệt mỏi, vô lực, chán ăn, ăn kém, vì vậy bản chất của bệnh là
thuộc chứng hư nhưng đương nhiên tồn tại lượng nước trong ổ bụng
(cổ chướng), có gan to hoặc lách to, sườn bụng đau, đây là thuộc

- Chỗ đau thiện án (ấn vào dễ chịu)
- Chất lưỡi mềm bệu, mạch vô lực.

5.2.2.4. Âm và dương.
Âm và dương có thể gọi là tổng cương của bát cương bới vì
khái quát: biểu thực nhiệt là thuộc dương còn lý hư hàn là thuộc âm.
Tất cả các chứng bệnh đều có thể quy nạp thành hai loại âm chứng và
dương chứng.
- Âm chứng: có những biểu hiện như tinh thần uỷ mị, sắc mặt
xám tối, chân tay lạnh, toàn thân mát thích nằm co, đoản khí, nói nhỏ
nhẹ, thích yên tĩnh, không khát hoặc thích uống ấm nóng, bụng đau
thích xoa bóp, đại tiện lỏng nát, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt bệu,
rêu lưỡi nhuận trơn, mạch tượng đa phần trầm trì tế nhược.
- Dương chứng: biểu hiện tinh thần thường hưng phấn, sắc mặt
hồng đỏ, mình nóng, tay chân ấm nóng, thích nằm ngửa duỗi, khí thô,
nói nhiều, thích động, miệng khát hoặc thích uống nước mát, bụng
đau không thích xoa ấn (cự án), đại tiện khô táo, tiểu tiện ngắn đỏ,
chất lưỡi hồng ráng, lưỡi cứng rêu lưỡi vàng khô, mạch tượng đa
phần hồng sác vô lực.
- Âm hư: chỉ phần âm bất túc “âm hư sinh nội nhiệt” thường
gọi tắt là hư nhược, biểu hiện chủ yếu là lòng bàn tay, bàn chân nóng
ấm, hay có nóng vào buổi chiều, gầy gò tự hãn, miệng ráo họng khô,
tiểu tiện ngắn và đỏ, đại tiện khô ít, chất lưỡi đỏ, rêu ít hoặc không có
rêu, mạch tế sác vô lực.
- Dương hư: là dương khí bất túc dương hư tắc sinh hàn nói
chung là trạng thái hư hàn biểu hiện chủ yếu là mệt mỏi vô lực thiếu
khí lưỡi nói sợ lạnh, tay chân lạnh, tự hãn, sắc mặt trắng mềm, rêu


trắng, mạch trì nhược hoặc đại mà vô lực. Dương hư thường gặp ở

hoàn thiện được chẩn đoán nhưng bát cương là cơ sở của biện chứng.
Mỗi hội chứng của bát cương đều có thể biến đổi ở điều kiện nhất
định chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau; bệnh từ biểu chuyển vào lý là
bệnh nặng, từ lý chứng ra biểu là tiên lượng nhẹ, bệnh có thể qua
khỏi, nhiệt chứng biến thành hàn chứng, thực chứng biến thành hư
chứng là chính khí đã suy, trái lại hàn chứng biến thành nhiệt chứng,
hư chứng biến thành thực chứng là dương khí đã dần dần hồi phục.
Những hội chứng bệnh thường gặp trên lâm sàng rất ít khi đơn thuần
mà thường kết hợp biểu lý, hàn nhiệt, hư thực, thậm chí có khi còn
hàn nhiệt thác tạp và không ít khi có hiện tượng “chân giả”. Vì vậy
trong quá trình biện chứng yêu cầu phải có điều tra nghiên cứu tìm ra
mâu thuẫn chủ yếu và tập trung giải quyết, có thể mới đề ra được kết
luận chính xác. Bát cương có quan hệ với sinh lý, bệnh lý, biểu chứng
thường gặp ở thời kỳ đầu của bệnh ttruyền nhiễm, phản ứng phòng
ngự của cơ thể đối với nguyên nhân gây bệnh còn mạnh, lý chứng là
thời kỳ phát bệnh và toàn phát của các bệnh truyền nhiễm và nhiễm
trùng, thời kỳ này tác nhân gây bệnh đã ảnh hưởng đến chức năng
của các cơ quan tạng phủ, đặc trưng chủ yếu là bệnh ảnh hưởng đến
chuyển hóa năng lượng của các cơ quan tạng phủ và hệ thống thần
kinh trrung ương.
Nếu như ở thời kỳ toàn phát, khi biểu chứng chưa hết, lại xuất
hiện triệu chứng tạng phủ bị tổn thương gọi là biểu lý đồng bệnh.
Chứng nhiệt đa phần do công năng sinh lý của cơ thể vượng thịnh,
chuyển hoá năng lượng tăng cao, quá trình sản nhiệt tăng, thân nhiệt
tăng, hô hấp nhanh, nhịp tim nhanh, máu ngoại vi giãn, da đỏ, tăng
tuần hoàn, vỏ đại não hưng phấn mạnh gây sốt cao, vã mồ hôi, gây
triệu chứng tân dịch giảm.
Chứng hàn đa phần do công năng sinh lý của cơ thể giảm thấp,
chuyển hóa năng lượng giảm có quan hệ đến tính phản ứng đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status