TÀI LIỆU THAM KHẢO bài GIẢNG y học cổ TRUYỀN học THUYẾT âm DƯƠNG NGŨ HÀNH - Pdf 41

Học thuyết âm dương NGũ hành
(The yin – yang and the five elements).
Mục tiêu: -Hiểu đượcÂm dương Ngũ hành là học thuyết cơ bản củaYHCT
Quan điểm duy vật biện chứng tự phát được ứng dụng từ lâu đời
Năm vững nội dung học thuyết đã khái quát quy luật phát sinh,
phát triển và thoái lui của bệnh lý
Chỉ đạo mọi nội dung chẩn đoán, điều trị và dự phòng
.1. Học thuyết âm dương
Học thuyết phác thảo quan điểm mâu thuẫn
Giới thiệu các hiện tượng sinh lý, bệnh lý trong cơ thể
Đề ra nguyên tắc điều trị và dụng dược
Người xưa cho rằng: các bộ phận cấu tạo nên cơ thể đều do hai khái niệm
vật chất và công năng (hai mặt đối lập thống nhất) tức là âm dương cấu tạo thành.
Sự phát sinh và phát triển của bệnh tật đều do mất thăng bằng về âm dương.
Quy luật thuộc tính âm dương ứng dụng trong cấu tạo và công năng.
Âm dương đối lập.
Ví dụ:
- Mặt ngoài

Dương

Âm
- Mặt trong

- Bên trên
bên dưới
- Mặt lưng
- Mặt bụng
- Lục phủ
- Ngũ tạng
- Khí

Quá trình tương quan chặt chẽ tới âm dương
nếu như mất đi mối quan hệ âm dương cũng có nghĩa là không còn sự sống;
vì thế quan điểm của y học dân tộc là: “âm dương hỗ căn”.
Về sinh lý mà nói: công năng của toàn cơ thể thuộc dương
- cơ sở vật chất của toàn cơ thể thuộc âm.
- Công năng hoạt động chủ yếu dựa vào vật chất là cơ sở, mà quá
trình bồi bổ vận động của vật chất lại phải dựa vào hoạt động công năng
(bao gồm một loạt hoạt động ăn uống, tiêu hoá, hấp thu, tuần hoàn máu và
dịch thể…)
- Ví dụ về bệnh lý: tâm dương bất túc (không đầy đủ) tất nhiên dẫn đến tâm
âm bất túc và ngược lại.
Âm dương tiêu trưởng.
“Âm tiêu dương trưởng, dương tiêu âm trưởng”.
Tiêu và trưởng là hai quá trình song song tồn tại và biến động thường xuyên,
bởi vì tổ chức của các cơ quan trong cơ thể không ngừng hoạt động, vật chất không
ngừng bị tiêu hao và lại thường xuyên được bổ xung.
Trong phạm vi nhất định, tiêu trưởng biến đổi bình thường duy trì chức
năng hoạt động của cơ thể sống.
Nếu như nhấn mạnh một mặt nào hoặc là tiêu thái quá hoặc là trưởng thái qúa
đều phát sinh bệnh lý.
Ví dụ: Sở dĩ có âm hư (tức là tiêu thái quá) sẽ dẫn đến dương vượng, dương
hư sẽ dẫn đến âm thịnh. Ngược lại quá trình âm thịnh (trưởng thái quá sẽ dẫn đến
dương hư, dương vượng sẽ dẫn đến âm hư)
Trong bệnh cao huyết áp:


-

có những triệu chứng đau đầu, chóng mặt hay mất ngủ, hay


chuyển hoá lẫn nhau, nương tựa, tương hỗ lẫn nhau và cùng tồn tại.
. Kết luận.
Âm dương hai mặt đối lập trong một thể thống nhất,
luôn luôn vận động và chuyển hoá lẫn nhau.


Trong sự vận động chuyển hoá, tiêu trưởng là hai quá trình song
song

tương hỗ , mặt này tiêu mặt kia trưởng và ngược lại.

Học thuyết ngũ hành.
Khái niệm.
Học thuyết âm dương ứng dụng cụ thể trong việc quan sát, quy nạp mối liên
quan giữa các tạng phủ với nhaugọi là Học thuyết ngũ hành .
Triết học xưa cho rằng:
Vật chất cơ bản cấu tạo nên vũ trụ là:
Mộc, hoả, thổ, kim, thủy; mỗi loại có đặc tính riêng nhất định.
Giữa vũ trụ bao la có vô vàn vật chất, sự vật; phải dựa vào đặc tính của 5 loại vật
chất cơ bản để từng bước quy loại.
Bởi vậy, vật chất cũng được chia năm loại lớn: mộc, hoả, thổ, kim, thủy để giải
thích các mối liên hệ tương hỗ giữa các sự vật, gọi tắt là “ngũ hành”
Y học xưa dựa vào quan hệ tương hỗ của ngũ hành để giải thích mối quan hệ
giữa hoàn cảnh tự nhiên bên ngoài với bên trong cơ thể và giữa các cơ quan trong cơ
thể với nhau.
Ví dụ: đem ngũ khí, mùa thời tiết…của tự nhiên liên hệ với ngũ tạng ở trong
cơ thể, dựa vào các đặc điểm khác của nó mà quy loại ngũ hành.


quy loại ngũ hành của y học cổ truyền

Cân
Mạch
Cơ nhục
Bì phu
5.Ngũ chí
Nộ
hỉ
Tư (lo) Bi (buồn)
6.Ngũ sắc
Xanh
Đỏ
Vàng
Trắng
7.Ngũ vị
Chua
Đắng
Ngọt
Cay
8.Ngũ khí
Phong Thử
Thấp
Táo
9.Tiết quý Xuân (sinh) Hạ (trưởng) Trưởng hạ (hoá) Thu (kết)Đông tàng

Tai
Cốt
Sợ
Đen
Mặn
Hàn



ức chế tạng kia và thúc đẩy một tạng khác, thúc đẩy và ức chế, hay tương sinh và tương khắc
phải luôn luôn kết hợp và cân bằng, để bảo vệ quan hệ bình thường giữa các tạng, duy trì hoạt
động bình thường của cơ thể.

. ứng dụng trên lâm sàng.
Chẩn đoán và điều trị trên lâm sàng.
Ví dụ: trong vọng chẩn thường lấy việc quan sát sự nhuận sáng tươi hồng của
sắc mặt:
Sắc mặt xanh thuộc về can phong
Sắc mặt đỏ phần nhiều thuộc về tâm hỏa
Sắc mặt vàng thuộc về tỳ thấp
Sắc mặt trắng thuộc về phế hàn
Sắc mặt đen thuộc về thận hư
Trong điều trị bệnh tạng phủ phần nhiều dựa vào sự liên quan ngũ vị đối với
ngũ tạng mà chọn thuốc. Nói chung vị chua vào can, thuốc có vị mặn vào thận, có vị
ngọt vào tỳ, vị đắng vào tâm, vị cay vào phế…Như vậy là ngũ sắc, ngũ vị trong ngũ
hành được ứng dụng cụ thể trong chẩn đoán và điều trị.
Về ngũ hành sinh khắc được ứng dụng trên lâm sàng để tìm vị trí phát sinh ra
bệnh tật và cách điều trị khác nhau.
Tương sinh là quá trình thúc đẩy bình thường, là có lợi cho điều trị bệnh lý.
Ví dụ bồi bổ tỳ vị để nâng đỡ cơ thể trong bệnh lao phổi. Như thế gọi là bồi thổ sinh
kim.
Trong điều trị can dương thượng nghịch phải căn cứ vào thủy sinh mộc, phải
dùng phương pháp tư dưỡng thận âm gọi là tư thủy dưỡng mộc.
Về mặt tương khắc, tuy nhiên tạng này trong điều kiện bình thường tác dụng ức chế tạng
khác, đó là ức chế có lợi, do tác dụng cân bằng hiệp đồng.
Ví dụ: quan hệ tương khắc của thận thủy với tâm hoả bình thường là tương tế “thủy hoả
tương tế, hay thủy hoả tương giao”. Nhưng khi thủy quá mạnh gọi là tương thừa (tức là tạng bị

vượng, xuất hiện triệu chứng trằn trọc, mất ngủ, miệng khô, muốn uống luôn, lưỡi
hồng, mạch sác.
Dựa vào lý lẽ âm dương hỗ căn; nếu như một trong hai mặt âm dương thiên
thắng hoặc là thiên duy đều dẫn đến âm hoặc dương bất túc (không đầy đủ) “dương
tổn cập âm, âm tổn cập dương” (nội kinh). Ví dụ: trong một số bệnh nhân mãn tính
thường giai đoạn cuối đều phát triển theo chiều hướng âm dương lưỡng hư.


.2. Vận dụng trong chẩn đoán.
Đông y đề xuất “phàm chẩn bệnh phương trị tất tu tiên thẩm âm dương”,
Khi phân tích tình hình bệnh lý thường phải dùng phép quy nạp về âm dương,
tập hợp các triệu chứng khái quát thành hai loại âm chứng hay dương chứng.
Ví dụ: thực chứng phân thành âm thịnh hay dương vượng,
Hư chứng thì âm hư hay dương hư, trên cơ sở đó đề ra nguyên tắc phương trị.
3.. Vận dụng trong điều
Nguyên tắc điều trị của đông y
-Làm biến đổi tình trạng âm dương thiên thắng hoặc thiên suy trong cơ thể,
-Điều chỉnh quan hệ giữa âm và dương nhằm mục đích khôi phục trạng thái
tương đối cân bằng của âm dương, tiêu trừ bệnh tật.
Sở dĩ dương thịnh vì dùng nhiều âm dược, âm thịnh vì dùng nhiều dương dược, mục đích tả phần hữu dư của âm dương,
Dương hư dùng dương dược, âm hư dùng âm dược mục đích bổ thêm phần
bất túc của âm dương
Về tính vị công năng của các vị thuốc cũng phải phân chia theo âm dương.
ví dụ: thuốc có tính năng ấm nóng thuộc dương dược, thuốc có tính mát
lạnh thuộc âm dược, thuốc có vị cay, ngọt, đạm thuộc dương dược, vị chua, mặn,
đắng thuộc âm dược, thuốc có tính thăng phù phát tán thuộc dương dược, tác dụng
trầm giáng thông tiết thuộc âm dược. Tóm lại phải vận dụng linh hoạt các vị thuốc
đúng với thuộc tính âm dương của dược vật mới đạt được hiệu quả tốt.
Âm dược
Dương dược

mục đích bổ thêm phần bất túc của âm dương.


Về tính vị công năng của các vị thuốc cũng phải phân chia theo âm dương: ví
dụ thuốc có tính năng ấm nóng thuộc dương dược, thuốc có tính mát lạnh thuộc âm
dược, thuốc có vị cay, ngọt, đạm thuộc dương dược, vị chua, mặn, đắng thuộc âm
dược, thuốc có tính thăng phù phát tán thuộc dương dược, tác dụng trầm giáng thông
tiết thuộc âm dược. Tóm lại phải vận dụng linh hoạt các vị thuốc đúng với thuộc tính
âm dương của dược vật mới đạt được hiệu quả tốt.
Âm dược
Dương dược
- Mát lạnh
- ấm nóng
- Chua, mặn, đắng
- Cay, ngọt, đạm
- Trầm, giáng, thông, tiết
- Thăng, phù, phát tán
Trên lâm sàng thường gặp các hội chứng:
- Bán biểu bán lý
- Biểu lý đồng bệnh
- Hư chung hiệp thực, thượng thực hạ hư
- Chân hàn giả nhiệt, chân nhiệt giả hàn
- Âm hư dương vượng, dương hư âm thịnh
- Âm dương lưỡng hư, âm trung chi dương, dương trung chi
âm…
Phải luôn luôn nắm vững thuộc tính âm dương tương hỗ, tiêu trưởng, bình
hành, đối lập nhưng thống nhất, luôn luôn chuyển hoá lẫn nhau, phân biệt chính xác,
sử dụng linh hoạt các loại thuốc theo đúng thuộc tính âm dương sẽ đạt kết quả cao
trong chẩn đoán và phương trị.
- Sắc mặt trắng bủng, tứ chi vô lực, rối loạn ngôn ngữ (loạn ngôn), nói nhỏ đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status