Hệ thống đề thi đáp án 08 câu kinh tế chính trị cao cấp lý luận chính trị - Pdf 41

Câu 1: Học thuyết giá trị của C.Mác; nội dung, cơ chế hoạt động, chức
năng, biểu hiện của quy luật giá trị, ý nghĩa đối với Việt Nam
Một trong những nội dung trọng tâm của học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác Lênin là chỉ rõ các quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và tất yếu diệt vong
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân
loại, trên cơ sở đó chỉ ra tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để làm rõ điều
đó, kinh tế chính trị học Mác - Lênin bắt đầu từ việc xây dựng học thuyết giá trị,
nghiên cứu quy luật giá trị bắt đầu từ phạm trù hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
1. Một số khái niệm
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động được sản xuất ra để thỏa mãn nhu cầu nào
đó của con người và dùng để trao đổi (mua - bán) với nhau.
- Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, hàng hóa tiền tệ khác hàng hóa thông thường
ở chỗ nó có giá trị sử dụng đặc biệt, nó đo lường được giá trị của hàng hóa khác.
- Cạnh tranh là sự ganh đua đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản
xuất kinh doanh.
- Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ mua - bán trong xã hội, được hình
thành do những điều kiện lịch sử kinh tế - xã hội nhất định.
- Cung - cầu và giá cả:
+ Cung: là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các chủ thể kinh tế đem ra bán
trên thị trường trong một thời kỳ nhất định, căn cứ vào mức giá cả, khả năng sản xuất
và chi phí sản xuất xác định.
+ Cầu là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng mua trong một thời
kỳ tương ứng với giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế xác định.
+ Quan hệ cung - cầu là quan hệ giữa người bán và người mua, là những quan hệ
có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
+ Giá cả hàng hóa là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.
2. Nội dung học thuyết giá trị của C.Mác bao gồm:
Học thuyết giá trị là xuất phát điểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của c. Mác.
Bằng việc phân tích hàng hoá, Mác vạch ra quan hệ giữa người với người thông qua
quan hệ trao đổi hàng hoá, đó chính là lao động, cơ sở của giá trị hàng hoá.

3. Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Ở
đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá
trị. Theo quy luật giá trị sản xuất và trao đổi hàng hoá phải theo nguyên tắc ngang giá,
dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Việc sản xuất và trao đổi hàng hoá thể hiện sự liên hệ giữa những người sản
xuất riêng lẻ với nhau, do thị trường làm trung gian. Sự phát triển của sản xuất và trao
đổi hàng hoá tất yếu sẽ dẫn đến sự xuất hiện của tiền tệ. Tiền là sản phẩm của lưu
thông hàng hoá, bắt đầu từ những hành vi trao đổi riêng lẻ ngẫu nhiên, qua nhiều bước,
cuối cùng đến hình thái tiền tệ. Giá trị của hàng hóa biểu hiện ra bên ngoài dưới hình
thức tiền tệ là giá cả của hàng hóa đó.
- Thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa trên thị trường sẽ thấy được sự
hoạt động của quy luật giá trị. Giá cả tự động xoay quanh giá trị hàng hóa và biểu hiện
sự tác động của quy luật giá trị trong điều kiện sản xuất và trao đổi hàng hóa. Giá trị là
cơ sở của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị nên trước hết giá cả
phụ thuộc vào giá trị. Hàng hoá nào nhiều giá trị thì _giá cả của nó sẽ cao và ngược lại.
- Ngoài ra, giá cả hàng hóa còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như quan hệ cung
- cầu, mức độ cạnh tranh, sức mua của tiền tệ, tình trạng độc quyền v.v… trên thị
trường. Tác động của các nhân tố trên làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường xoay
quanh giá trị của nó. Nếu xét từng trường hợp cá biệt giá cả có thể bằng, lớn hơn hoặc
nhỏ hơn giá trị, nhưng nếu xét trên phạm vi thì tổng giá cả bằng tổng giá trị của chúng.
3. Tác dụng của quy luật giá trị
Một là, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
2


Trong sản xuất, nếu ngành nào đó cung không đáp ứng cầu, giá cả tăng lên vượt
quá giá trị thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành đó và ngược lại. Nhờ đó, các tư liệu
sản xuất và sức lao động được phân phối qua lại một cách tự phát vào các ngành sản
xuất khác nhau.

Quy luật giá trị, giá cả, quy luật cạnh tranh; quy luật cung - cầu và quy luật phân
chia lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Một mặt tôn trọng tính khách quan
của quy luật, mặt khác có sự tác động nhằm giảm thiểu những khiếm khuyết của quy
luật kinh tế khách quan như phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát
trong nền kinh tế thị trường.
- Hiểu rõ các phạm trù của học thuyết giá trị thặng dư trong bối cảnh của
thế giới hiện đại
3


Hiểu phạm trù “bóc lột” trong bối cảnh mới.
Hiểu rõ tính quy luật sự thay đổi cấu tạo hữu cơ với thị trường sức lao động
trong bối cảnh thế giới hiện đại.
Hiểu rõ lý luận bần cùng hóa trong bối cảnh mới.
Hiểu rõ tính khách quan và khốc liệt của quy luật cạnh tranh trong sự phân chia
lợi nhuận giữa các loại tư bản.
- Vận dụng học thuyết giá trị trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phát huy mặt tích cực: Phát triển kinh tế hàng hóa làm cho phân công và hiệp tác
lao động xã hội ngày càng sâu sắc. Mối liên hệ giữa các ngành các vùng ngày càng
chặt chẽ… từ đó sẽ xóa bỏ được tính chất bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá
trình xã hội hóa sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa cũng có những khuyết tật như: khủng hoảng kinh tế,
phân hóa giàu nghèo, chạy theo lợi ích kinh tế dẫn đến phá hủy tài nguyên môi
trường…
- Nhận thức tính khách quan của các quy luật kinh tế trong phát triển kinh
tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước
Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cần thiết phải có vai trò kinh tế của
Nhà nước để điều tiết nền kinh tế nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những khuyết

động của mình, buộc phải bán chính sức lao động tồn tại trong cơ thể của mình, vì
không còn cách nào khác để sinh sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất
yếu biến sức lao động thành hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện
quyết định để biến thành tư bản.
Việc tồn tại đồng thời hai điều kiện trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa.
- Cũng như những hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính là giá
trị và giá trị sử dụng.
Giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian lao động cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất sức lao động quyết định. Nó được xác định bằng giá trị của những tư liệu sinh
hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để duy trì đời sống bình thường của công nhân
và gia đình anh ta, cộng với những phí tổn học tập để người công nhân có một trình độ
nhất định.
Giá trị sử dụng sức lao động là sự thỏa mãn nhu cầu người mua sức lao động,
tức là người mua tiêu dùng trong quá trình lao động, khác với hàng hóa thông thường,
quá trình sử dụng hàng hóa sức lao động có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản
thân nó, phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động chính là tạo ra giá trị thặng dư. Giá trị sử
dụng của hàng hóa sức lao động là một giá trị sử dụng đặc biệt. Như vậy mâu thuẫn
của công thức tư bản được giải quyết.
- Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là giá
trị, không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư.
- Quá trình lao động với tư cách là quá trình tư bản tiêu dùng sức lao động có hai
đặc trưng:
Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như
những yếu tố khác của SX được nhà tư bản sử dụng sao cho hiệu quả nhất.
Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của người
công nhân.
2. Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư:
+ Nguồn gốc:
Trong xã hội, sức lao động là yếu tố sản xuất chủ yếu, sức lao động là toàn bộ
những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một con người đang sống và được

nhà tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặc trưng:
Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như
những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho nó hiệu quả nhất.
Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của tư bản, chứ không phải của người
công nhân.
3. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa:
+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: được tiến hành bằng cách kéo
dài tuyệt đối thời gian lao động trong ngày của người công nhân trong điều kiện thời
gian lao động cần thiết ( hay mức tiền công mà nhà tư bản tả công cho công nhân là
không đổi).Mặt khác sức lao động là thứ hàng hóa đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất
người công nhân đòi hỏi phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần,
vật chất, tôn giáo của mình. Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu
tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày.
+ Phương pháp SX giá trị thặng dư tương đối: được tiến hành bằng cách rút
ngắn thời gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thời gian lao
động thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi. Để rút ngắn thời
gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phải tìm ra mọi biện pháp, đặc biệt là áp
dụng tiến bộ công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động xã
6


hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá cả thị trường của sản phẩm, đặc biệt nâng cao
năng suất lao động xã hội trong những ngành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu
dùng để nuôi sống người công nhân, từ đó tiến tới hạ thấp giá trị sức lao động
4. Hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
Lợi nhuận là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư do lao động sống tạo ra
được quan niệm là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra. Nếu quan sát bề ngoài thì lợi
nhuận và giá trị thặng dư cũng là một, nhưng bản chất thì giá trị thặng dư ở bên trong
được tạo ra trong quá trình sản xuất, còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện ra ở bên
ngoài thông qua trao đổi. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư với

quan hệ giữa giá cả sản xuất của hàng hóa với giá cả của hàng hóa khi xét trên phạm vi
toàn xã hội thì tổng số giá cả hàng hóa bằng tổng giá trị của hàng hóa.

7


6. Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư, ý nghĩa thực tiễn đối với
Việt Nam:
6.1. Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư,
Trong CNTB, có một loại hàng hóa mới xuất hiện đó là hang hóa sức lao động, khi
đó xuất hiện quan hệ SX mới: quan hệ giữa nhà tư bản và công nhân lao động làm thuê.
Thực chất là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhân lao động làm thuê.
Việc nghiên cứu giá trị thặng dư đã vạch rõ bản chất bóc lột của CNTB. Trong
điều kiện hiện nay, do sự phát triển của công ty cổ phần, một bộ phận nhỏ công nhân
cũng có cổ phiếu và trở thành cổ đông, đã xuất hiện quan niệm cho rằng không có bóc
lột giá trị thặng dư, CNTB ngày nay đã thay đổi bản chất. Một số học giả đưa ra thuyết
“CNTB nhân dân”. Song trên thực tế, công nhân chỉ có một số cổ phiếu không đáng
kể, họ chỉ là người sở hữu danh nghĩa không có vai trò chi phối doanh nghiệp, phần
lớn lợi tức cổ phần vẫn nằm trong tay các nhà tư bản, thu nhập của công nhân chủ yếu
vẫn là tiền lương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam:
+ Trong thời kỳ qua độ nền kinh tế nước ta, trong một chừng mực nào đó, quan
hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng
cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào
quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển , thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
+ Trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay,
mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc
lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối
xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa vời thực tế và không thể thực hiện được. Điều

- Đáp ứng nhu cầu của tái sản xuất mở rộng nền kinh tế TBCN.
- Để có ưu thế trong cạnh tranh.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật, đổi mới công nghệ.
c) Thực chất của tích luỹ tư bản được thể hiện thông qua quá trình tái sản xuất tư
bản chủ nghĩa
- Tái sản xuất
+ Khái niệm: Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và đổi mới
không ngừng.
+ Nội dung của tái sản xuất:
+ Tái sản xuất ra của cải vật chất.
+ Tái sản xuất ra sức lao động.
+ Tái sản xuất ra quan hệ sản xuất.
+ Loại hình tái sản xuất: Tái sản xuất được chia thành tái sản xuất giản đơn và
tái sản xuất mở rộng.
Tái sản xuất giản đơn là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như cũ. Tái sản
xuất giản đơn TBCN là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô
tư bản như cũ, nhà tư bản tiêu dùng hết giá trị thặng dư.
Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn
hơn trước. Tái sản xuất mở rộng TBCN là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô
tư bản lớn hơn trước, nhà tư bản không tiêu dùng hết giá trị thặng dư mà biến một phần
giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất.
- Thực chất của tích lũy tư bản: là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày một
lớn hơn.
+ Số tư bản ứng ra ban đầu dù là tài sản chính đáng của nhà tư bản thì qua
quá trình tích luỹ tư bản (tái sản xuất mở rộng) nó cũng vô cùng nhỏ bé so với số tư
bản đã tích lũy được.
+ Nguồn gốc duy nhất của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư
2. Những nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy tư bản
Quy mô tích lũy phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỉ lệ phân chia giá
trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và tư bản tiêu dùng của nhà tư bản.

khác gì lực lượng tự nhiên. Máy móc thiết bị ngày càng hiện đại, thì sự chênh lệch giữa
tư bản sử dụng và tư bản tiêu dụng càng lớn .Sự phục vụ không công đó của lao động
quá khứ là nhờ lao động sống nắm lấy và làm cho chúng hoạt động. Chúng được tích
lũy lại cùng với quy mô ngày càng tăng của tích lũy tư bản.
Bốn là, quy mô của tư bản ứng trước. Với mức bóc lột không đổi, thì khối lượng
giá trị thặng dư do số lượng công nhân bị bóc lột quyết định. Do đó quy mô của tư bản
ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì giá trị thặng dư bóc lột được
do đó tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản. Đối với sự tích lũy cả xã hội
thì quy mô của tư bản ứng trước chỉ là nhỏ nhưng rất quan trọng. C.Marx đã nói rằng
tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông của sự tích lũy mà thôi.
3. Quy luật tích lũy tư bản
Quá trình tích lũy tư bản tất yếu dẫn đến hai hiện tượng đối lập nhau là tích lũy
sự giàu có, xa hoa về phía giai cấp tư sản và tích lũy sự bần cùng khốn khó về phía giai
cấp công nhân . Các yếu tố phản ảnh nội dung quy luật tích lũy tư bản.
a) Tích luỹ tư bản là quá trình làm cho cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng
– Cấu tạo kỹ thuật của tư bản: là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất với số
lượng lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó.
10


– Cấu tạo giá trị của tư bản: là tỷ lệ về số lượng giá trị giữa tư bản bất biến
và tư bản khả biến (hay giữa giá trị tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động) cần thiết để
tiến hành sản xuất (c/v).
– Cấu tạo hữu cơ của tư bản:
+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản, do cấu tạo kỹ
thuật quyết định và phản ảnh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật. Ký hiệu là c/v.
+ Trong quá trình tích lũy, cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) ngày một tăng.
c/v tăng do: + c tăng nhanh, v tăng chậm; + c tăng, v không đổi ; + c tăng, v
giảm;+ Cấu tạo hữu cơ tư bản tăng, hay là trong quá trình tích luỹ tư bản (c)
luôn tăng tuyệt đối và (v) giảm tương đối. Đây là nguyên nhân tiềm ẩn của nạn thất

hội hóa sản xuất và phát triển LLSX. Nhưng trong quá trình phát triển đó cũng là quá
trình phát triển mọi mâu thuẩn của CNTB, nhất là mâu thuẩn cơ bản – mâu thuẩn giữa
tính chất xã hội của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ngày
11


càng gay gắt . Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, tất yếu sẽ tiến lên một xã hôi cao hơn
để giải phòng LLSX xã hội.
4. Ý nghĩa đối với Việt Nam
Tích lũy tư bản có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên
do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng có nhiều thay đổi, mặt khác chúng ta đang trên
con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội nên việc tiến hành các biện pháp duy trì, tăng
cường tích lũy có nhiều sự khác biệt. Để giải quyết vấn đề tích lũy ta cần thực hiện
đồng bộ những biện pháp sau:
a) Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy - tiêu dùng
Tích lũy bao nhiêu để tạo cơ sở cho phát triển, tiêu dùng bao nhiêu để đảm bảo
nhu cầu, nó thể hiện cụ thể mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế và cải thiện đời sống,
giữa lợi ích lâu dài và trước mắt, giữa lợi ích của nhân dân và lợi ích của toàn xã hội...
Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
b) Tăng cường tích lũy vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu tư nước
ngoài
Cần hướng mạnh vào giải phóng triệt để và khơi thông các nguồn lực trong xã
hội, khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển kinh doanh để tạo ra
năng lực sản xuất, hạ tầng kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó nâng cao tiềm lực tài chính
quốc gia. Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường tài chính trong
nước.
c) Quản lý có hiệu quả các nguồn thu
Từng bước nâng cao tỷ trọng thuế thu nhập, thuế tài sản trong cơ cấu hệ thống
thuế. Nâng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng thu ngân sách nhà nước, trong đó tăng tỷ
trọng thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân bằng cách mở rộng đối

tính chất xã hội hoá của nền kinh tế ngày càng cao đòi hỏi phải có sự điều tiết của xã
hội đối với sản xuất và phân phối, một kế hoạch hoá tập trung từ một trung tâm. Nhà
nước phải dùng các công cụ khác nhau để can thiệp, điều tiết nền kinh tế.
Hai là: Sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một só
ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh
doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận (như năng lượng, giao thông vận
tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản...). Nhà nước tư sản trong khi đảm nhiệm
kinh doanh những ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư nhân kinh
doanh các ngành khác có lợi hơn.
Ba là: sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giai cấp giữa
giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, nhân dân lao động. Nhà nước phải có chính sách để
giải quyết những mâu thuẫn đó: Trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phát
triển phúc lợi xã hội.
Bốn là: Sự tích tụ và tập trung tư bản cao dẫn đến mâu thuẫn giữa các tổ chức
độc quyền với nhau, mâu thuẫn giữa tư bản độc quyền với các tổ chức kinh doanh vừa
và nhỏ….trở nên gay gắt cần có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước.
Năm là: Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của các tổ
chức liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung
đột lợi ích giữa các đối thủ trên thị trường thế giới, đòi hỏi có sự điều tiết các quan hệ
chính trị, kinh tế quốc tế của nhà nước tư sản. Nhà nước tư sản có vai trò quan trọng để
giải quyết các quan hệ đó.
Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh với CNXH hiện
thực và tác động của cách mạng khoa học- công nghệ, đòi hỏi có sự can thiệp trực tiếp
của nhà nước vào đời sống kinh tế.
-Về bản chất
Để xác định được bản chất của CNTB độc quyền nhà nước cần phải tiếp cận một
cách tổng thể từ các góc độ khác nhau, từ mối quan hệ LLSX và QHSX; từ lợi ích các
13



kinh tế của tư bản tư nhân và độc quyền chính trị của GCTS trong xã hội tư sản hiện
đại. Nói cách khác CNTBĐQ là sự dung hợp giữa sức mạnh các tổ chức kinh tế độc
quyền và nhà nước tư bản thành một cơ chế thống nhất nhằm làm giàu cho các tổ chức
độc quyền và cứu nguy cho CNTB.
Mác - Lê nin khẳng định, CNTB là một nấc thang phát triển khổng lồ về LLSX.
Với sự xuất hiện CNTB ĐQBB thì ngay trong lòng CNTB đã thực sự tạo nên không
chỉ một LLSX tiên tiến, hiện đại mà LLSX đó lại còn được “xã hội hóa một bước quan
trọng”. Bước quan trọng đó chính là do không thể đảm đương, làm chủ trực tiếp hoặc
do không có được lợi nhuận thỏa đáng cho nên TBTN buộc phải chuyển những khâu
cơ bản nhất của quá trình sản xuất xã hội cho nhà nước tư sản, chấp nhận sở hữu nhà
nước đối với phần lớn các bộ phần cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Theo cách
14


này, CNTB ĐQNN đã tham gia tạo nên những tiền đề vật chất chủ yếu, cơ bản của xã
hội mới thay thế cho CNTB.
2. Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước
CNTB ĐQNN không đồng nhất giữa các nước TB khác nhau nhưng nó tồn tại
thống nhất trong sự đa dạng ở mỗi nước có thể mang thêm những sắc thái đặc thù song
về cơ bản có thể khái quát chung các hình thức biểu hiện cụ thể sau:
a) Sở hữu của NNTS và vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế
thị trường TBCN
Tại đa số các nước TB phát triển những bộ phận quan trọng nhất của nền KT đã
thuộc về sở hữu của NN, đó là hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH, là dự trữ quốc gia,
hệ thống tài chính tiền tệ và các tài sản quốc gia khác. Đồng thời cũng có một số lượng
nhất định các doanh nghiệp nhà nước cung cấp hàng hóa công cộng, cổ phần nhà nước
trong các ngân hàng, tập đoàn lớn và một số doanh nghiệp do NN quốc hữu hóa các
doanh nghiệp tư nhân vì những lý do khác nhau. Về cơ bản KTNNTS đảm nhận vai trò
chủ yếu trong các lĩnh vực không thể có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp, còn những
lĩnh vực kinh doanh có lợi nhuận cao thuộc về đặc quyền kinh doanh của các tập đoàn

kinh tế vĩ mô thuế, lãi suất, tỷ giá hối đoái… NNTS sử dụng ngân sách để đầu tư kích
cầu nền KT khi cần thiết đối với các lĩnh vực như tiêu dùng, tạo việc làm mới, khắc
phục thảm họa thiên tai… Điều tiết bằng công cụ phi kinh tế như định hướng ưu tiên
trong chính sách quốc gia, khuyến khích lThập các quỹ từ thiện. Tuy nhiên về cơ bản
điều tiết kinh tế của NNTS vẫn luôn luôn thể hiện bản chất giai cấp của nó, lợi ích lớn
nhất mà mọi hoạt động kinh tế của NNTS là đều được định hướng ưu tiên hàng đầu
cho các tập đoàn TB độc quyền lớn, cho tầng lớp giàu có nhất trong XH TS.
d) Thực thi các chức năng XH của NNTS
Dưới chế độ TBĐQNN chính phủ và thiết chế cơ bản trong bộ máy NN tham gia
ngày càng sâu vào lĩnh vực XH, những chức năng XH cơ bản của NN ngày càng được
mở rộng chính phủ đứng ra quản lý và chi tiêu các quỹ xã hội lớn điều đó giải phóng
cho các ông chủ tư nhân và các tập đoàn khỏi đương đầu trực diện với người lao động
và các tổ chức của họ. Thông qua việc thực thi cũng xiết chặt thêm một bước kỷ cương
pháp quyền TS.
3. Ý nghĩa đối với Việt Nam
Việt Nam chưa kinh qua CNTB, cho nên tất niên cũng không thể có được
“những tiền đề vật chất” của CNXH nhiều như ở các nước đã có một lịch sử phát triển
lâu dài của CNTB, lại càng thua kém hơn nhiều về những tiền đề vật chất đó trong
quan hệ so sánh với các nước tư bản phát triển như G7. Nhưng Việt Nam có một ưu
thế rất cơ bản là đã giải quyết xong vấn đề hàng đầu của mọi cuộc cách mạng, đó là
giành chính quyền về tay nhân dân. Vấn đề cốt lõi là phải sử dụng chính quyền nhà
nước đã có để làm những gì mà CNTB chưa kịp làm ở Việt Nam, đó là CNH, HĐH đất
nước và hội nhập quốc tế.
Do vậy kinh tế Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường
có nhiều thành phần là một tất yếu khách quan đối với Việt Nam. Những ngành, lĩnh
vực có ý nghĩa then chốt đối với nền kinh tế quốc dân mà các nước TBCN nhà nước
phải sở hữu thì ở Việt Nam cũng phải vậy.
Bên cạnh đó những ngành, lĩnh vực có lợi nhuận cao càng cần phải tập trung vào
tay nhà nước. Đặc biệt là trong khai thác các tài nguyên quốc gia như: dầu khí, khoáng
sản… không thể để cho tư nhân tự do khai thác như ở các nước TBCN. Tuy nhiên,

lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên tính đa dạng hóa các loại hình sở hữu ở
Việt Nam. Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay, vấn đề sở hữu, các hình thức sở hữu và đổi mới quan hệ sở hữu luôn
thu hút sự quan tâm. Nó không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn
sâu sắc. Vì vậy, nghiên cứu "những nhận thức mới về sở hữu làm cơ sở cho sự nghiệp
đổi mới kinh tế ở Việt Nam" có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế ở
nước ta. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta thấy được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn
của nó hết sức sâu sắc.
Sở hữu là một hình thức chiếm hữu nhất định về của cải vật chất, trước hết là về
tư liệu sản xuất, được hình thành trong lịch sử, là quan hệ giữa người với người về
chiếm hữu của cải trong xã hội.
1. Những nhận thức mới về sở hữu làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới kinh tế
ở nước ta.
- Phân biệt giữa hai phạm trù: Sở hữu và chiếm hữu.
Sở hữu là quan hệ giữa người với người về chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải
làm ra, sở hữu là hình thức xã hội của hành vi chiếm hữu trong các hình thái kinh tế xã hội nhất định. Còn chiếm hữu là quan hệ giữa người với giới tự nhiên, con người
chiếm hữu những vật thể của tự nhiên để tồn tại.
17


Sở hữu là một phạm trù kinh tế khách quan và là một phạm trù lịch sử, nó biến
đổi tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và do lực lượng sản xuất
quy định. Còn chiếm hữu là hành vi tồn tại cùng với sự tồn tại và phát triển của con
người, là một phạm trù vĩnh viễn, nghĩa là nó tồn tại trong tất cả các giai đoạn khác
nhau của lịch sử nhân loại.
- Các góc độ nhận thức và vận dụng khác nhau về quan hệ sở hữu.
Ở góc độ chủ thể sở hữu: Sở hữu chỉ ra rằng, của cải trong xã hội thuộc về của
ai? C.Mác cho rằng, người ta chỉ có thể trả lời bằng sự phân tích phê phán của khoa
kinh tế chính trị, môn học này bao quát toàn bộ những quan hệ sở hữu ấy, không phải

chia ra thành hai nhóm quyền quan trọng là quyền sở hữu và quản lý sản xuất, kinh

18


doanh. Hai nhóm quyền này có thể thống nhất ở một chủ thể, cũng có thể được phân
chia, tách biệt một các tương đối ở những chủ thể khác nhau.
- Đa dạng hóa loại hình và hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
Trong mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng có một loại hình sở hữu đặc trưng
giữ vai trò chủ đạo, đồng thời cũng còn nhiều hình thức sở hữu khác cùng tồn tại.
Trong mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, đan xen nhau.
Những hình thức sở hữu luôn luôn biến động và ngày càng xuất hiện nhiều thêm hình
thức sở hữu mới, hoàn thiện hơn. Kinh tế thị trường hiện đại dựa trên sự kết hợp các
hình thức sở hữu tư nhân - cá nhân, sở hữu tư nhân của nhóm người, sở hữu cổ phần,
sở hữu hỗn hợp và sở hữu nhà nước, nhưng sở hữu cổ phần vẫn là phổ biến, cho nên có
thể nói hình thức sở hữu hiệu quả hơn trong sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại
và công nghệ vẫn là sở hữu cổ phần.

2. Liên hệ tác dụng thực tiễn của những nhận thức về tách biệt tương đối
giữa quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh và đa dạng hóa các loại hình sở
hữu trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam.
2.1. Nhận thức về tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu với quyền quản lý
kinh doanh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Quyền SH được thể hiện bằng hệ thống pháp luật (kể cả các nội quy, quy định
dưới luật) tạo nên chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu bao gồm các quyền như: quyền sở
hữu, quyền quản lý kinh doanh, quyền điều tiết, quyền thực hiện lợi ích kinh tế, v.v…
Trong tập hợp các quyền đó, có thể chia ra thành hai nhóm quyền quan trọng là quyền
sở hữu và quản lý sản xuất - kinh doanh (quyền sử dụng là phần quan trọng nhất nằm
trong quyền quản lý sản xuất - kinh doanh). Hai nhóm quyền này có thể thống nhất ở

toàn dân, SH tập thể và SH tư nhân.
Mỗi loại hình SH lại có nhiều hình thức SH cụ thể khác nhau - luôn biến động
và ngày càng xuất hiện thêm những hình thức SH mới, hoàn thiện hơn.
Nhận thức mới cần phải xác lập một hệ thống đa dạng các loại hình và hình
thức SH…phải coi việc củng cố, hoàn thiện chế độ công hữu XHCN như là mục đích
vừa là phương tiện để xây dựng đất nước phát triển theo định hướng XHCN. Trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần vận dụng đa dạng loại hình, hình thức sở hữu,
làm cho các hình thức sở hữu cụ thể phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản
xuất, nhờ đó mà khai thác được mọi tiềm năng của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế
nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp.
Thực tế những năm đổi mới, chúng ta đã khác phục chế độ công hữu hình thức,
có tính áp đặt, đã làm xuất hiện nhiều hình thức sở hữu phong phú. Nhờ đó, mà khai
thác được tiềm nămg của các thành phần kinh tế, làm cho quan hệ sở hữu phù hợp,
20


thích ứng với trình độ lực lượng sản xuất. Giải quyết đúng quan hệ sở hữu là giữ được
nguồn nuôi dưỡng động lực kinh tế cho sự ổn định kinh tế - xã hội.
Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu có thể coi là một phương tiện để phát
triển kinh tế. Nhưng về lâu dài, phải dần dần củng cố, hoàn thiện chế độ công hữu xã
hội chủ nghĩa để xây dựng nền tảng kinh tế cho sự phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta.Đảng ta đang thúc đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh
doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số
ngành, lĩnh vực theo chốt của nền kinh tế.

Vấn đề sở hữu đặt ra là khách quan mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Với tính chất đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta là thực hiện nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà

đích, tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính
đáng của những người sử dụng đất xung quanh.
- Đa dạng hóa loại hình và hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần vận dụng đa dạng loại hình, hình
thức sở hữu, làm cho các hình thức sở hữu cụ thể phù hợp với tính chất và trình độ lực
lượng sản xuất, nhờ đó mà khai thác được mọi tiềm năng của lực lượng sản xuất trong
nền kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp.
Thực tế những năm đổi mới, chúng ta đã khác phục chế độ công hữu hình thức,
có tính áp đặt, đã làm xuất hiện nhiều hình thức sở hữu phong phú. Nhờ đó, mà khai
thác được tiềm nămg của các thành phần kinh tế, làm cho quan hệ sở hữu phù hợp,
thích ứng với trình độ lực lượng sản xuất. Giải quyết đúng quan hệ sở hữu là giữ được
nguồn nuôi dưỡng động lực kinh tế cho sự ổn định kinh tế - xã hội.
Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu có thể coi là một phương tiện để phát
triển kinh tế. Nhưng về lâu dài, phải dần dần củng cố, hoàn thiện chế độ công hữu xã
hội chủ nghĩa để xây dựng nền tảng kinh tế cho sự phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta.Đảng ta đang thúc đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh
doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số
ngành, lĩnh vực theo chốt của nền kinh tế.
Vấn đề sở hữu đặt ra là khách quan mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Với tính chất đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta là thực hiện nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước. Trong khi cần phải thúc đầy lực lượng sản xuất còn thấp kém phát triển thì tất
yếu phải thừa nhận các hình thức sở hữu đa dạng tồn tại đan xen, hòa quyện với nhau,
sổ sung và cùng phát triển.

22


- Bản chất: Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong nền KTTT định hướng XHCN, cơ chế thị trường
phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn
lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân,
khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường đồng
thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh.
- Đặc trưng: Kinh tế thị trường ở Việt Nam là KTTT định hướng XHCN, do đó
quá trình phát triển KTTT đồng thời cũng là quá trình tăng cường các yếu tố bảo đảm
định hướng XHCN.
Các yếu tố định hướng XHCN mang "tính nội sinh" trong quá trình phát triển
KTTT ở Việt Nam là những "dấu hiệu" hay là tiêu chí để nhận biết bản chất và phân
biệt KTTT nước ta với KTTT các nước khác.
7 nội dung định hướng XHCN trong nền KTTT, Đó là: (1)Thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; (2)Giải phóng mạnh mẽ và
23


không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; (3)Đẩy mạnh xóa
đói, giảm nghèo,đồng thời khuyến khích mọi người dân làm giàu chính đáng và giúp
đỡ, tạo điều kiện để người khác thoát nghèo,từng bước khá giả hơn; (4)Phát triển kinh
tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước và kinh
tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; (5)Thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển;
tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục…giải quyết tốt các vấn
đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người; (6)Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo
kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn
khác và thông qua phúc lợi xã hội; (7)Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân bảo
đảm vai trò quản lý,điều tiết nền kinh tế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới

nhà nước trong nền KTTT ở nước ta được thông qua xây dựng và thực hiện quy hoạch
chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN;
từng bước xây dựng những tiền đề vật chất cho CNXH. Đồng thời, để đảm bảo thực
hiện mục tiêu phát triển KTTT định hướng XHCN Nhà nước tạo môi trường thuận lợi
24


cho SXKD. Ngoài ra vai trò của Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN là sự
điều tiết của Nhà nước vào nền kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, khai thác và sử
dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia (trong ngắn hạn, dài hạn), bảo vệ môi trường;
phát triển kinh tế bền vững; bảo vệ lợi ích của nhân dân, lợi ích người lao động, thực
hiện các chính sách xã hội.
4. Để tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
phát triển hơn nữa, trong thời gian đến cần tập trung thực hiện tốt các giải pháp
sau:
Một là, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
Trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán, lâu dài chính
sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Lấy việc phát triển sức sản xuất,
nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu quan
trọng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh. Theo tinh thần đó tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước
pháp luật, đều được khuyến khích phát triển.
Hai là, mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vàng, tạo lập đồng bộ
các yếu tố thị trường
Mở rộng phân công lao động xã hội nhằm phát triển mạnh mẽ kinh tế hàng hóa,
kinh tế thị trường, khắc phục tình trạng kinh doanh không đúng với pháp luật.
Thúc đẩy, phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực, tác động lan tỏa
đến các vùng khác, đồng thời tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các vùng kinh tế đang
còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo, tây nguyên, tây bắc, tây
nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status