1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng
Cộng sản Việt Nam, tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước có bước
phát triển; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; an ninh chính trị
được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; công tác phòng, chống
các loại tội phạm và công tác phòng, chống tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện được Đảng, Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và toàn thể xã hội
hết sức quan tâm. Việc phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội
phạm do người chưa thành niên thực hiện nói riêng là hoạt động nhằm khắc
phục loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm và tìm ra biện pháp ngăn
chặn, xử lý các tội phạm đã và đang xảy ra trong xã hội, là vấn đề quan tâm
không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Lê Nin đã nói “giành chính
quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”; cái khó mà Lê Nin đã đề cập
đến không chỉ là cái khó trong công cuộc đấu tranh chống những kẻ thù hiện
hữu, không chỉ khó trong việc xây dựng nền tảng kinh tế, xã hội mà còn khó ở
việc xây dựng nếp sống mới, xây dựng ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa cho
nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ những em chưa thành niên.
Có thể nói vấn đề tội phạm do NCTN thực hiện đã được đề cập đến
trong nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước mà biểu hiện tập
trung nhất trong các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, Luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật hôn nhân và gia
đình, Luật lao động, Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và đặc biệt
là Nghị quyết số 09/2008/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ “Về tăng
cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới”, trong đó Đề án 4:
2
3
cáo CTN bị đưa ra xét xử, tăng hơn 30% số vụ và 27% số bị cáo, đáng chú ý
số NCTN tụ tập thành băng, nhóm sử dụng dao, lê, mã tấu gây nhiều vụ án có
tính chất nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Chỉ thị số 48/CTTW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đã nêu rõ “tình
trạng phạm tội trong thanh thiếu niên xảy ra ngày càng nhiều hơn, rất đáng lo
ngại…” [5, tr1] và được các đại biểu Quốc hội cho là "tội phạm chưa thành
niên ngày càng gia tăng và trở thành một hiện tượng xã hội". Tình trạng đó đặt
ra nhiệm vụ cấp bách cho Nhà nước và xã hội phải tập trung phát hiện, đấu
tranh, nghiên cứu để đưa ra những giải pháp hữu hiệu làm giảm tình hình tội
phạm ở NCTN.
Với hoạt động chính là xét xử, Toà án có nhiệm vụ chủ yếu là đấu tranh
chống tội phạm, vì vậy Toà án cũng phải có trách nhiệm nặng nề trong công tác
đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm do NCTN thực hiện. Điều này đã
được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Bộ luật hình sự
và Bộ luật tố tụng hình sự. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy
vai trò quan trọng không thể thiếu của TAND trong lĩnh vực này. Tuy nhiên
trong hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém đó
là: chưa nhận thức đầy đủ về tình trạng phạm tội ở lứa tuổi CTN; lâu nay Toà
án các cấp chỉ tập trung thực hiện hoạt động xét xử chưa chú ý đúng mức đến
hoạt động phòng ngừa; việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn đôi
khi còn kém hiệu quả; chưa có tổ chức chặt chẽ và phân công, phân cấp rõ ràng.
Chính vì vậy, trước những yêu cầu của công cuộc đấu tranh và phòng,
chống tội phạm do NCTN thực hiện với phương châm phòng ngừa là chính,
mà trong đó hoạt động phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện theo chức
năng của TAND đang đòi hỏi có sự nghiên cứu đầy đủ, cụ thể, có luận cứ
khoa học, góp phần hoàn thiện về lý luận cũng như biện pháp nâng cao hiệu
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của
TAND các cấp trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động của
TAND các cấp trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện. Trong phạm
vi này, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt
động của TAND các cấp trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện và
đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TAND trong
phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện. Trong phạm vi nghiên cứu của
luận án chỉ nghiên cứu hoạt động phòng ngừa của TANDTC, các Tòa án
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân các quận,
huyện, thành phố thuộc tỉnh, thành phố mà không nghiên cứu ở Tòa án
quân sự các cấp. Mặt khác giới hạn nghiên cứu người chưa thành niên, tội
phạm người chưa thành niên là những người có quốc tịch Việt Nam.
+ Phạm vi về địa bàn: Khảo sát trên toàn quốc trong đó tập trung ở
một số TAND tỉnh, thành phố được chọn phân bố cả 3 miền Bắc, Trung,
Nam và 3 khu vực thành phố, nông thôn và miền núi như Hà Nội, Hải
Phòng, Hà Nam, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí
Minh. Đồng thời tiến hành khảo sát ở một số Trại giam có số lượng phạm
nhân là NCTN cải tạo đông trực thuộc Tổng cục VIII, Bộ Công an như Trại
giam Ninh Khánh, Trại giam Hoàng Tiến, Trại giam Đồng Sơn, Trại giam
số 6, Trại giam Thủ Đức.
+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2007 đến năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên phương pháp luận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về Nhà
liên quan đến phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện.
7
Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng
cao nhận thức và áp dụng có hiệu quả của tác giả cũng như những người làm
công tác áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử, phục vụ công tác
phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện; là tài liệu tham khảo có giá trị
trong việc nghiên cứu và giảng dạy Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật,
pháp luật hình sự và pháp luật TTHS.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương.
Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về hoạt động của
Toà án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện.
Chương 2 - Đặc điểm tội phạm học của tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện và thực trạng phòng ngừa theo chức năng, nhiệm vụ của Toà
án nhân dân.
Chương 3 - Dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà
án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT
ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TỘI
PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
các quốc gia có hệ thống chính trị, bộ máy chính quyền cũng như pháp luật và
tập quán đa dạng nên cuốn sách này đã không đưa ra những hướng dẫn cụ thể
về vai trò hoạt động của mỗi cơ quan nhà nước nói chung hay của Toà án
trong việc phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng.
Nghiên cứu chuyên sâu về phòng ngừa NCTN vi phạm pháp luật có thể
kể đến đó là “Cẩm nang về phòng ngừa tội phạm và tội phạm chưa thành
niên”, xuất bản năm 1987 của E. Johnson [117]. Tác giả đã tập trung phân
tích, làm rõ các phương pháp phòng ngừa tội phạm và tội phạm CTN, sự phân
loại, cách tiếp cận phòng ngừa và những ảnh hưởng đối với NCTNPT đồng
thời khẳng định vai trò quan trọng của sự định hướng trong việc phòng ngừa
tội phạm và tội phạm CTN. Tác giả đã đưa ra quan điểm phòng ngừa tội
phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm là người chưa thành niên nói riêng
phải được nghiên cứu dài hạn để có thể đưa ra các chỉ số làm cơ sở cho việc
so sánh và đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng ngừa.
Công trình nghiên cứu về “Tư pháp người chưa thành niên và sự
phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật”, xuất bản năm 1995
của Geraldine Van Bueren [120]. Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra khái
niệm về người chưa thành niên và NCTN vi phạm pháp luật đồng thời trên cơ
sở các chuẩn mực quốc tế về NCTN bị coi là phạm tội, tác giả đã đưa ra vấn
đề về xử lý NCTN vi phạm pháp luật theo hướng là nhân đạo, khuyến khích
phòng ngừa và áp dụng trình tự xử lý phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của
NCTN. Đặc biệt tác giả đi sâu phân tích phương pháp phòng ngừa NCTN vi
10
phạm pháp luật trong đó khẳng định điều quan trọng của việc phòng ngừa
NCTN vi phạm pháp luật là sự định hướng, các chương trình cộng đồng, sự
linh hoạt trong việc phòng ngừa.
Các nghiên cứu chuyên sâu gồm: Phòng ngừa NCTN vi phạm pháp luật
qua ngày 29/11/1985 [37];
2. Hướng dẫn Riyadh về việc phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 (gọi tắt là Hướng
dẫn Riyadh) [36];
3. Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa
thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua
ngày 14/12/1990 (gọi tắt Quy tắc 1990) [38].
Ba văn kiện này có tính hướng dẫn đưa ra những khuyến nghị về việc
thiết lập một hệ thống tư pháp NCTN trong khuôn khổ pháp luật ở mỗi quốc
gia nhằm vừa tôn trọng quyền và bảo vệ trẻ em vừa duy trì trật tự, an toàn xã
hội. Do đó các văn kiện này giúp các quốc gia hoạch định chính sách về tư
pháp NCTN đồng thời để giải thích cách áp dụng trong thực tế những quy
định của Công ước về quyền trẻ em liên quan đến tư pháp NCTN.
Quy tắc Bắc Kinh đã đưa ra các khái niệm người chưa thành niên,
NCTN phạm pháp, khái niệm và mục tiêu của tư pháp NCTN. Theo đó tư
pháp NCTN là một bộ phận của nền tư pháp quốc gia bao gồm các quy định
pháp luật và việc áp dụng các quy định đó đối với NCTN phạm pháp do một
hệ thống các cơ quan tài phán và một đội ngũ những người tham gia vào các
hoạt động tư pháp thực hiện theo nguyên tắc coi hạnh phúc và sự cải tạo của
NCTN là mục tiêu hàng đầu đồng thời duy trì trật tự công cộng và đạo đức xã
hội, đảm bảo việc xử lý NCTN phạm pháp luôn phù hợp, tương xứng với
hoàn cảnh, động cơ và hành vi phạm pháp của họ.
Để thực thi một hệ thống tư pháp NCTN theo nghĩa trên, Công ước
quyền trẻ em đã xây dựng các chuẩn mực quốc tế về quyền của những trẻ em
12
bị tước quyền tự do (Điều 37) và của những trẻ em bị tình nghi, bị quy là phạm
tội (Điều 40), nhằm giúp hình thành ở mỗi quốc gia - thành viên một hệ thống
những vụ án này. Trong khi bị tạm giam, NCTN được giam giữ riêng, cách
biệt với người thành niên đã bị kết án và có các quyền:
1. Có Luật sư bào chữa và được thường xuyên tiếp xúc với Luật sư
của mình;
2. Được cung cấp, nếu có thể, các cơ hội tiếp tục có việc làm, được
nhận thù lao, tiền công, được tiếp tục đào tạo, giáo dục;
3. Được nhận và giữ các thứ phục vụ cho việc vui chơi, giải trí thích
hợp (mục 18).
Đối với NCTN đã bị kết án, để đảm bảo mục tiêu chính là cải tạo và
khuyến khích, tạo điều kiện để giúp NCTN tái hòa nhập xã hội sau khi chấp
hành án, Quy tắc 1990 quy định các bộ phận của công tác cải tạo là:
1. Giáo dục đào tạo (bao gồm cả giáo dục văn hóa và giáo dục nghề
thích hợp) theo những chương trình chuẩn quốc gia và một đội ngũ giáo viên
có đủ trình độ (mục 38-42);
2. Lao động tự nguyện, có trả lương, ở mức độ được phép và được đảm
bảo các tiêu chuẩn an toàn lao động nhằm hình thành thái độ đúng đắn, tích
cực đối với lao động và ở mức độ có thể, những kỹ năng có ích cho NCTN
sau khi rời trại (mục 43-46);
3. Giải trí, sinh hoạt tinh thần, tôn giáo và chăm sóc sức khỏe (mục 47-58);
4. Tôn trọng nhân phẩm, các quyền tinh thần, tình cảm (liên hệ với gia
đình, cộng đồng) (mục 59-62) và quyền sở hữu cá nhân của NCTN (mục 35-36);
5. Thu xếp và cung cấp các dịch vụ giúp NCTN tái hòa nhập thành
công vào cộng đồng (mục 79-80).
Quy tắc 1990 cũng đưa ra những tiêu chuẩn về môi trường, thiết kế nơi
ăn, ở trong trại giam (mục 31-34, 37); các quy trình, thủ tục tiếp nhận, đăng
ký, di chuyển, phân loại và sắp xếp nơi ở, quản lý hồ sơ (mục 19-28) cũng
14
pháp lý hoặc sự giúp đỡ thích hợp khác để chuẩn bị trình bày sự bảo vệ của
mình (mục bII);
4. Tại phiên tòa xét xử: Trẻ em phải được sự giúp đỡ pháp lý để tham
gia cùng với cha mẹ hoặc người giám hộ pháp lý vào một cuộc tường trình,
thẩm vấn công bằng, đúng pháp luật trước một Hội đồng xét xử có thẩm
quyền, độc lập, vô tư và có khả năng ra quyết định một cách không chậm trễ
(mục bIII);
5. Đối với việc làm chứng: Trẻ em không bị ép buộc làm chứng hay
nhận tội; có quyền thẩm vấn hay nhờ người thẩm vấn những nhân chứng
chống lại mình đồng thời có quyền đưa ra những người làm chứng cho mình
trong những điều kiện bình đẳng (mục bIV);
6. Quyền được kháng cáo đối với những quyết định sơ thẩm để được
xét xử phúc thẩm bởi một Hội đồng xét xử có thẩm quyền cao hơn, độc lập và
vô tư (mục bV);
7. Quyền của trẻ em được có người phiên dịch miễn phí trong những
trường hợp cần thiết (mục bVI);
8. Quyền của trẻ em được giữ bí mật những điều riêng tư trong suốt quá
trình tố tụng (mục VII);
Phần II của Quy tắc Bắc Kinh về "Điều tra và truy tố" nêu những quy
tắc hành động từ phía các cơ quan có thẩm quyền ở các giai đoạn tố tụng
"trước Tòa án" này để đảm bảo các quyền của trẻ em bị tình nghi là phạm tội
như quy định tại Điều 40 (2) (b) của Công ước.
Phần III - "Xét xử và quyết định" nêu các quy tắc hành động của các cơ
quan có thẩm quyền tại giai đoạn xét xử và thi hành án nhằm đảm bảo các
quyền của trẻ em bị quy là phạm tội theo Điều 40 (2) (b). Các quy tắc đó
không mang tính áp đặt mà là những nguyên tắc chỉ đạo thực tế để lựa chọn
cách xử lý phù hợp nhất được quốc tế thừa nhận. Các quy tắc đó là:
17
NCTN phạm pháp là phải coi trẻ em và phúc lợi của trẻ em là trung tâm của
bất cứ một chương trình phòng ngừa nào. Với cách hiểu rằng hành vi của trẻ
em không phù hợp với các chuẩn mực và giá trị xã hội chung thường chỉ là
một phần của quá trình trưởng thành và có xu hướng mất đi ở hầu hết mọi cá
nhân khi trở thành người lớn, cho nên, theo Hướng dẫn Riyadh: Phòng ngừa
NCTN phạm pháp là việc giúp các em có nguy cơ vi phạm cao phát triển các
thái độ không dẫn đến việc phạm pháp thông qua sự thu hút các em tham gia
vào các hoạt động hợp pháp, hữu ích về mặt xã hội với một định hướng và
cách nhìn nhân đạo đối với cuộc sống. Để làm việc này thành công đòi hỏi
những cố gắng của toàn xã hội thông qua các chương trình hành động cộng
đồng nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa về nhân cách của các em ngay từ
tuổi thơ ấu.
Xét theo quan điểm trên thì mặc dù Công ước Quyền trẻ em không có
điều khoản riêng quy định trực tiếp việc phòng ngừa trẻ em phạm tội nhưng
qua các Điều 5, 18, 19, 27 Công ước đã khẳng định trách nhiệm của cha, mẹ,
gia đình, người giám hộ, nhà trường và toàn cộng đồng trong việc hướng dẫn,
chỉ bảo trẻ em phát triển theo cách phù hợp với nhịp phát triển và khả năng
của trẻ em.
Dù là trong gia đình, nhà trường hay ngoài xã hội, một nguyên tắc
phòng ngừa NCTN phạm pháp được nhấn mạnh là vai trò tích cực, "tự cứu"
của bản thân cá nhân NCTN cũng như của tập thể, tổ chức thanh, thiếu niên
khi tham gia vào các chương trình của cộng đồng hoặc hưởng thụ các dịch vụ
hỗ trợ của Nhà nước.
Nhà nước chịu trách nhiệm ban hành và thực hiện các đạo luật để tiếp
tục bảo vệ tốt hơn quyền của trẻ em, để phòng ngừa việc đối xử tàn nhẫn, bóc
lột hay sử dụng NCTN vào các hoạt động tội phạm, để hạn chế NCTN tiếp
cận với những đối tượng và phương tiện gây tội, đặc biệt là với các chất gây
tổ chức bộ máy Toà án xét xử NCTN, một số quy định cơ bản nhất về trách
19
nhiệm hình sự của NCTN, đường lối xét xử đối với NCTN, hoạt động phòng
ngừa NCTNPT ở một số quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó tác giả đã đi sâu
nghiên cứu một số công trình về NCTN vi phạm pháp luật, về tội phạm là
NCTN, các biện pháp xử lý NCTN của một số tác giả ở Hàn Quốc, Nhật, Thái
lan, Philippin… Tựu chung việc xử lý NCTN vi phạm pháp luật trên bình
diện quốc tế đều theo xu hướng khuyến khích nhiều hơn những hoạt động
phòng ngừa, áp dụng những trình tự xử lý đặc biệt phù hợp với từng lứa tuổi
của NCTN; tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức ở các lứa tuổi khác nhau, hạn
chế đến mức thấp nhất các chế tài mang tính giam giữ, trừng phạt.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Qua khảo sát các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài
cho thấy chưa có công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ cũng như các
luận án, luận văn nào nghiên cứu trực tiếp về đề tài hoạt động của TAND
trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện. Những công trình khoa học
có liên quan gián tiếp đến đề tài luận án lại tương đối phong phú.
Trong cuốn sách chuyên khảo “Phòng ngừa người chưa thành niên
phạm tội” của các tác giả Vũ Đức Khiển, Bùi Hữu Hùng, Phạm Xuân Chiến,
Đỗ Văn Hãn, Trần Phàn, xuất bản năm 1987 [34] được coi là một trong
những nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam về vấn đề NCTNPT, kết quả nghiên
cứu đã đánh giá tác động của môi trường gia đình, nhà trường và xã hội đối
với hiện tượng xã hội tiêu cực này đồng thời xác định môi trường xã hội
chính là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới quá trình phạm tội của NCTN. Trên
cơ sở đó, nhóm tác giả đã đưa ra các biện pháp phòng ngừa tình trạng
NCTNPT.
Sách chuyên khảo “Phòng ngừa thanh thiếu niên phạm tội - Trách
an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình
hình hiện nay” do tác giả Đỗ Bá Cở thực hiện năm 2000 [18]. Kết quả nghiên
cứu luận án đã nêu lên và giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về
21
NCTNPT, hoạt động phòng ngừa NCTNPT, xác định rõ các chủ thể tham gia,
mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể và trách nhiệm là chủ thể trực tiếp,
nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân. Trên cơ sở khảo sát thực trạng
NCTNPT và thực trạng hoạt động phòng ngừa NCTNPT của lực lượng Công
an nhân dân, luận án đã rút ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
NCTNPT, đánh giá những ưu, khuyết điểm và nguyên nhân trong hoạt động
phòng ngừa NCTNPT chưa đạt hiệu quả trong những năm qua. Trên cơ sở
khoa học, tác giả đã dự báo xu hướng tội phạm chưa thành niên trong thời
gian tới, những vấn đề khách quan và chủ quan làm cho tình hình tội phạm ở
lứa tuổi này có diễn biến phức tạp đồng thời đưa ra phương hướng hoàn thiện
để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa NCTNPT.
Luận án tiến sĩ luật học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục
tố tụng đối với người chưa thành niên trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam”
của tác giả Đỗ Thị Phượng thực hiện năm 2008 [51]. Luận án đã đề cập đến
những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với NCTN trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam, các khái niệm về NCTN và thủ tục tố tụng hình sự
đối với NCTN. Luận án đã chỉ ra những đặc điểm của thủ tục tố tụng đối với
NCTN và mục đích đặt ra các quy định này đồng thời đã khái quát quá trình
phát triển của thủ tục tố tụng đối với NCTN.
Nghiên cứu Luận án tiến sĩ tâm lý học “Đặc điểm tâm lý của người
chưa thành niên có hành vi phạm tội” do tác giả Đặng Thanh Nga thực hiện
năm 2007 [45]. Luận án cung cấp nhiều tri thức về tâm lý học tư pháp đối với
NCTN có hành vi phạm tội qua các khảo sát về tâm lý NCTN trước, trong và
điều tra thân thiện đối với NCTN” của ThS. Phạm Văn Hùng [32]; “Tái hoà
nhập cộng đồng đối với NCTN vi phạm pháp luật” của tác giả Nguyễn Văn
Hoàn [33]. Các bài viết trên đã nghiên cứu tổng thể thực trạng tư pháp NCTN
ở Việt Nam, bước đầu đưa ra khái niệm tư pháp NCTN, pháp luật quốc tế về
tư pháp NCTN; chính sách, pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp
23
NCTN trong đó nêu các nguyên tắc và đường lối xử lý NCTNPT ở Việt Nam
cũng như thủ tục tố tụng đối với NCTNPT ở Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu các công trình, các đề tài khoa học cũng như các
bài viết đăng trên các tạp chí, các báo về vấn đề NCTNPT được tác giả sưu
tầm, tra cứu, nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng. Những công trình tài liệu nghiên
cứu đó thực sự hữu ích trong việc sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho
việc nghiên cứu của tác giả.
Tổng hợp các vấn đề đã nghiên cứu ở ngoài nước cũng như trong nước
có thể rút ra một số vấn đề cơ bản sau đây:
Vấn đề thứ nhất, TAND là cơ quan có chức năng xét xử các vụ án hình
sự đối với bất kỳ loại tội phạm nào. Cùng với các cơ quan Điều tra, Viện kiểm
sát và các cơ quan hữu quan, TAND góp phần tích cực vào hoạt động phòng
ngừa tội phạm. Đặc biệt thông qua việc xét xử tại phiên toà, Hội đồng xét xử
không chỉ làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo mà còn phát hiện tội phạm mới;
khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của
mình Toà án có trách nhiệm khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát ra
quyết định khởi tố vụ án. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Toà án có nhiệm
vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội; yêu cầu các cơ quan, tổ chức
hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Chức năng xét xử
là chức năng duy nhất của Toà án nước ta và của nhiều nước trên thế giới, bên
cạnh đó một số nước như Pháp: Toà án không chỉ xét xử mà có cả chức năng
nguyên nhân xã hội của tội phạm CTN, TNHS của NCTN, một số vấn đề về
tư pháp của NCTN song những nghiên cứu, đánh giá này được tiếp cận dưới
góc độ nghiên cứu trên cơ sở tình hình phạm tội của NCTN thông qua hoạt
động điều tra của Công an nhân dân, thông qua việc nắm bắt tình hình vi
phạm pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước, của các tổ chức xã hội mà
chưa hề có nghiên cứu nào thông qua công tác xét xử các vụ án hình sự của
Tòa án đối với NCTNPT. Thực tiễn hiện nay và cả trong bình diện giải quyết
25
xét xử tội phạm do NCTN thực hiện của Tòa án chưa có sự thống nhất cao về
tội phạm do NCTN thực hiện trong việc quy định tuổi chịu TNHS, về miễn
TNHS, về các biện pháp tư pháp, về việc áp dụng hình phạt trong quá trình
xét xử, nhằm nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện hình thành phát triển của
tội phạm do NCTN gây ra để có giải pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất với tội
phạm NCTN trước tình hình hiện nay.
Pháp luật của rất nhiều nước trên thế giới đề cập đến biện pháp xử lý
không chính thức xử lý chuyển hướng như Nhật Bản, Thái Lan… Đối với
nước ta chế định này được BLHS năm 1999 [59] quy định dưới góc độ các
biện pháp tư pháp, hình phạt cải tạo không giam giữ và án treo. Điều 70
BLHS năm 1999 quy định “Đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án
có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo dục
phòng ngừa sau đây:
a) Giáo dục tại xã phường thị trấn;
b) Đưa vào trường giáo dưỡng.
Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một đến hai
năm đối với NCTNPT ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng.
Quy định giáo dục tại xã, phường, thị trấn cũng tương tự chế định cải tạo
không giam giữ được quy định tại Điều 31 BLHS và chế định án treo quy