Tiếp theo phần Lịch sử thế giới, sau đây là phần tài liệu tham khảo ôn thi tốt nghiệp
Lịch sử 12 phần Lịch sử Việt Nam.
Lưu ý, phần Lịch sử Việt Nam chúng ta học từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất nên
sẽ có các giai đoạn sau đây:
1. Giai đoạn 1919 - 1930
2. Giai đoạn 1930 - 1945
3. Giai đoạn 1945 - 1946
4. Giai đoạn 1946 - 1954
5. Giai đoạn 1954 - 1975
* * * * *
Trước hết là giai đoạn 1919 - 1930:
VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1919 – 1930)
1- Sự chuyển biến về kinh tế, chính trị-xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần
thứ nhất
a- Sự chuyển biến về kinh tế:
- Nguồn gốc: Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tuy là nước thắng trận nhưng
bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế kiệt quệ. Để bù đắp những thiệt hại do chiến tranh
gây ra, Pháp tiến hành “Chương trình khai thác thứ hai” ở Đông Dương, trong đó có
Việt Nam.
- Nội dung:
+ Pháp tăng cường đầu tư vào Việt Nam. Từ 1924 đến 1929, tổng số vốn đầu tư vào
Đông Dương tăng gấp 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh.
+ Nông nghiệp: Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp, chủ yếu là đồn điền cao
su. Năm 1927, số vốn đầu tư vào nông nghiệp tăng gấp 10 lần trước chiến tranh.
Diện tích trồng cao su tăng và nhiều công ti cao su lớn ra đời như công ti Đất đỏ,
công ti Misơlanh, …
+ Công nghiệp: Pháp cũng bỏ vốn nhiều nhất vào khai mỏ, chủ yếu là mỏ than.
Nhiều công ti than mới cũng ra đời như công ti than Hạ Long – Đồng Đăng, công ti
than Đông Triều, … Ngoài ra, Pháp cũng chú ý đến công nghiệp chế biến (sợi, rượu,
diêm, gạo, …)
+ Thương nghiệp: Pháp đánh thuế nặng vào hàng ngoại nhập, nhờ vậy hàng hóa
chống Pháp khi có điều kiện.
- Giai cấp tư sản:
+ Ra đời sau chiến tranh, bị tư bản Pháp chèn ép, kìm hãm nên số lượng ít, thế lực
kinh tế yếu.
+ Giai cấp tư sản phân hóa thành hai bộ phận: tầng lớp tư sản mại bản có quyền lợi
gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ về chính trị với chúng; tầng lớp tư sản dân
tộc có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc và phong kiến, nhưng thái độ không
kiên định, dễ thỏa hiệp khi đế quốc mạnh.
- Giai cấp tiểu tư sản:
+ Ra đời sau chiến tranh, bị Pháp chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ nên đời sống bấp bênh,
dễ bị phá sản, thất nghiệp.
+ Bộ phận trí thức, học sinh sinh viên có tinh thần hăng hái cách mạng, là lực lượng
quan trọng của cách mạng nước ta.
- Giai cấp nông dân:
+ Chiếm trên 90% dân số, bị hai tầng áp bức, bóc lột của đế quốc và phong kiến nên
bị bần cùng hóa và phá sản trên quy mô lớn.
+ Là lực lượng hăng hái và đông đảo nhất của cách mạng.
- Giai cấp công nhân:
+ Ra đời trước chiến tranh, phát triển nhanh về số lượng và chất lượng. Năm 1929,
tổng số công nhân tăng hơn gấp đôi so với trước chiến tranh.
+ Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế (lực lượng sản xuất
tiến bộ, điều kiện lao động và sinh sống tập trung, …), giai cấp công nhân Việt Nam
có những đặc điểm riêng: bị 3 tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến, tư sản
mại bản; có quan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân; kế thừa truyền thống
yêu nước anh hùng và bất khuất của dân tộc. Đặc biệt, giai cấp công nhân Việt Nam
sớm tiếp thu ảnh hưởng của phong trào cách mạng thế giới, nhất là ảnh hưởng của
Cách mạng tháng Mười Nga và của chủ nghĩa Mác – Lênin.
=> Hoàn cảnh và đặc điểm ra đời, phát triển dẫn đến giai cấp công nhân Việt Nam
sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập, thống nhất, tự giác trong cả nước,
nhanh chóng vươn lên nắm quyền lãnh đạo cách mạng nước ta.
nhận rõ giai cấp công nhân và nhân dân các nước đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở
đâu cũng là thù.
- 11/1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã có ảnh hưởng quyết định đến
xu hướng hoạt động của Người.
- 6/1919, Nguyễn Ai Quốc gửi tới hội nghị Vecxai bản yêu sách đòi Pháp phải thừa
nhận các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam. Tuy không được chấp nhận nhưng đã
có một tiếng vang lớn.
- 7/1920, Người đọc bản Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Từ
đó, Người tin theo Lênin và đứng về Quốc tế III.
- 12/1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp ở Tua, Người tán thành Quốc tế III, tham
gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
=> Như vậy, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại, Người đã tìm ra con đường cứu nước
đúng đắn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con
đường cách mạng vô sản.
- 1921, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” ở Pari để tuyên truyền, tập
hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc.
- 1922, Người xuất bản tờ báo “Người cùng khổ” để vạch trần chính sách đàn áp, bóc
lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên
đấu tranh tự giải phóng. Sau đó, Người còn tham gia viết bài cho báo Nhân đạo, Đời
sống công nhân, … đặc biệt là viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
- 6/1923, Người sang Liên Xô dự Hội nghị quốc tế nông dân và được bầu vào Ban
chấp hành. Người vừa làm việc ở QTCS vừa tham gia viết bài cho báo Sự thật, tạp
chí Thư tín quốc tế.
- 1924, tại Đại hội QTCS lần thứ V, Người trình bày lập trường, quan điểm của mình
về vị trí, chiến lược của cách mạng thuộc địa, về mối quan hệ giữa cách mạng chính
quốc và thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân thuộc địa.
=> Như vậy, trong thời gian này, Người dốc sức truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin
vào nước ta.
- 11/1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) tiếp xúc với các nhà cách mạng Việt
Nam ở đây.
Dương cộng sản đảng được thành lập.
+ 7/1929, các hội viên tiên tiến trong bộ phận Hội VNCMTN ở Trung Quốc và ở Nam
Kì cũng đã thành lập An Nam cộng sản đảng.
+ 9/1929, các hội viên tiên tiến của Tân Việt cách mạng đảng cũng tách ra thành lập
Đông Dương cộng sản liên đoàn.
- Ý nghĩa lịch sử:
+ Ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt
Nam.
+ Đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam.
+ Là bước trực tiếp chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Một số câu hỏi và gợi ý trả lời:
1- Nguyên nhân và mục đích của cuộc khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt
Nam? Cuộc khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm cho nền kinh
tế – xã hội Việt Nam biến động như thế nào?
=> Gợi ý trả lời: Trình bày sự chuyển biến về kinh tế – xã hội Việt Nam sau Chiến
tranh thế giới thứ nhất.
2- Tình hình phân hóa xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất như thế
nào? Thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp trong xã hội Việt Nam
sau chiến tranh?
=> Gợi ý trả lời: Trình bày sự chuyển biến về xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế
giới thứ nhất.
3- Tình hình thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã ảnh hưởng tới cách mạng
Việt Nam ra sao?
=> Gợi ý trả lời: Trình bày sự ảnh hưởng của tình hình thế giới sau Chiến tranh thế
giới thứ nhất tới cách mạng Việt Nam.
4- Tại sao lại nói Nguyễn Ai Quốc đã trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ
chức cho sự ra đời chính đảng vô sản ở Việt Nam?
=> Gợi ý trả lời: Trình bày vai trò của Nguyễn Ai Quốc đối với việc chuẩn bị về chính
trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời chính đảng vô sản ở Việt Nam.
5- Những nét chính về quá trình hình thành ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam, ý nghĩa
gọi chung là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
- Cương lĩnh đầu tiên của Đảng vạch rõ:
+ Tính chất: Cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng tư sản dân
quyền (sau gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) và cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
+ Nhiệm vụ: Đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và giai cấp tư sản phản cách
mạng; làm cho nước Việt Nam được độc lập. Trong các nhiệm vụ dân tộc và dân chủ,
chống đế quốc và chống phong kiến thì nổi bật lên là nhiệm vụ chống đế quốc và tay
sai phản động, giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc.
+ Lực lượng: công nhân, nông dân, đồng thời lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông
…
+ Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng
lợi của cách mạng Việt Nam.
+ Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.
=> Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ai Quốc
soạn thảo là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo.
c- Luận cương 10/1930:
- 10/1930, hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành trung ương lâm thời của Đảng họp
tại Hương Cảng (Trung Quốc) quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành
Đảng Cộng sản Đông Dương, cử Trần Phú làm Tổng bí thư, thông qua Luận cương
chính trị do Trần Phú khởi thảo.
- Luận cương chính trị khẳng định:
+ Tính chất: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền,
sau là cách mạng xã hội chủ nghĩa.
+ Nhiệm vụ: Đánh đổ phong kiến, đế quốc Pháp; làm cho Đông Dương hoàn toàn
độc lập.
+ Lực lượng: công nhân, nông dân.
+ Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương là điều kiện cốt yếu cho
sự thắng lợi của cách mạng Đông Dương.
+ Phải liên lạc mật thiết với vô sản và các dân tộc thuộc địa.
- Phong trào đấu tranh của nông dân cũng diễn ra ở Hà Nam, Thái Bình, … đã xuất
hiện truyền đơn, cờ đỏ búa liềm.
- Phong trào nổ ra mạnh mẽ nhất là ở Nghệ – Tĩnh, nơi có truyền thống đấu tranh
cách mạng.
- 1/5/1930, nhân ngày Quốc tế lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An, công nhân Bến Thủy đã biểu tình đòi tăng lương, giảm giờ làm, ...
- 1/8/1930, nhân ngày quốc tế chống chiến tranh, công nhân Vinh – Bến Thủy đã tổ
chức cuộc tổng bãi công đánh dấu “một thời kì mới, thời kì đấu tranh kịch liệt đã
đến”.
- Phong trào đấu tranh của nông dân cũng diễn ra quyết liệt ở Nam Đàn, Thanh
Chương, … dưới hình thức biểu tình có vũ trang tự vệ.
- 12/9/1930, cuộc biểu tình của 2 vạn người nổ ra ở Hưng Nguyên (Nghệ An) để
phản đối chính sách khủng bố của bọn thực dân và tay sai.