CHƯƠNG 1:
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC CỦA TRÂU BÒ
1. Đặc điểm tiêu hóa
1.1. Đặc điểm tiêu hóa dạ cỏ
Tính đặc thù của đường tiêu hoá ở gia súc nhai lại là kết quả của quá trình tiến
hoá theo hướng tiêu hoá cỏ và thức ăn thô nhờ sự cộng sinh của vi sinh vật.
* Miệng
Miệng có vai trò lấy thức ăn, tiết nước bọt, nhai và nhai lại. Tham gia vào quá
trình lấy và nhai nghiền thức ăn có môi, hàm răng và lưỡi.
* Thực quản
Thực quản là ống nối liền miệng qua hầu xuống tiền đình dạ cỏ, có tác dụng
nuốt thức ăn và ợ các miếng thức ăn lên miệng để nhai lại. Thực quản còn có vai trò
ợ hơi để thải các khí thừa sinh ra trong quá trình lên men dạ cỏ đưa lên miệng để thải
ra ngoài.
* Dạ dày và rãnh thức quản
Đường tiêu hoá của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4
túi.
- Dạ cỏ là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành
đến xương chậu. Dạ cỏ chiếm tới 85-90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường
tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào lộn và lên men phân giải thức ăn.
- Dạ tổ ong là phần kéo dài của dạ cỏ có niêm mạc được cấu tạo trông giống
như tổ ong và có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được
nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách. Dạ tổ
ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn ợ qua thực quản lên miệng để nhai lại.
Sự lên men trong dạ tổ ong tương tự như ở dạ cỏ.
1
- Dạ lá sách có niêm mạc gấp nếp nhiều lần (tăng diện tích tiếp xúc), có
nhiệm vụ chính là nghiền nát các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, cùng các ion Na +,
* Động vật nguyên sinh (Protozoa)
Protozoa xuất hiện trong dạ cỏ khi gia súc bắt đầu ăn thức ăn thực vật thô.
Protozoa có một số tác dụng chính như sau: Tiêu hoá tinh bột và đường, xé rách
màng tế bào thực vật, tích luỹ polysaccarit...
* Nấm
Chức năng của nấm trong dạ cỏ là:
- Mọc chồi phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật. Sự phá vỡ này tạo điều kiện
cho vi khuẩn bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải xơ.
- Bản thân nấm cũng tiết ra các loại men phân giải hầu hết các loại gluxit, sự
có mặt của nấm giúp làm tăng tốc độ tiêu hoá xơ.
1.3. Sự nhại lại
- Khi ăn thức ăn thô trâu bò thường ăn vào dưới dạng các mẩu thức ăn với kích
lớn nên vi sinh vật dạ cỏ khó có thể tấn công và lên men hoàn toàn. Phần thức ăn
chưa được nhai kĩ có kích thước lớn nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong thỉnh thoảng được
ợ lên theo từng miếng vào thực quản và trở lại xoang miệng. Trong miệng phần chất
lỏng được nuốt ngay còn thức ăn thô được thấm nước bọt và nhai kỹ lại trước khi
được nuốt trở lại dạ cỏ để lên men tiếp.
- Hiện tượng nhai lại bắt đầu xuất hiện khi bê nghé được cho ăn thức ăn thô.
Trong điều kiện yên tĩnh gia súc sẽ bắt đầu nhai lại (sau khi ăn) nhanh hơn. Cường
độ nhai lại mạnh nhất vào buổi sáng và buổi chiều. Mỗi ngày trâu bò chăn thả
thường dành khoảng 8 giờ để nhai lại, tức bằng với thời gian gặm cỏ. Mỗi miếng ợ
lên nhai lại được nhai 40-50 lần, do vậy thức thô được nghiền nhiều hơn trong quá
trình nhai lại so với trong quá trình ăn.
2. Đặc điểm sinh sản
Trâu bò là động vật đơn thai, năng suất sinh sản thấp:
- Chu kỳ sản xuất của trâu bò dài, cho nên chậm thu hồi vốn đầu tư. Bò cái
thường đẻ lứa đầu vào khoảng 27 - 28 tháng tuổi, trâu cái đẻ muộn hơn.
- Thời gian mang thai kéo dài 280 - 285 ngày ở bò, 310 - 320 ngày ở trâu. Do
vậy, khoảng cách giữa các lứa đẻ dài.
bào diễn ra mạnh mẽ, bầu vú căng to, khoang tuyến bào chứa đầy thành phần sữa
đầu.
Tuyến sữa tiếp nhận nguyên liệu từ máu đưa đến, chủ động chuyển hoá thành
sữa với đặc tính, thành phần khác hẳn máu. Trong sữa đường gấp 90 lần trong máu,
mỡ gấp 9 lần, protit ít hơn 2 lần, K nhiều gấp 5 lần, Ca gấp 13 lần, P gấp 10 lần, Na
ít hơn 7 lần... Qua nghiên cứu người ta thấy: để hình thành 1 lít sữa cần có 400 - 500
lít máu chảy qua tuyến sữa.
Mỡ sữa: Chủ yếu do các axit béo tạo nên. Đường sữa: gồm 2 phân tử glucose
và galactose kết hợp với nhau tạo thành. galactose một phần được tạo thành từ
glucose, một phần từ axit béo.
4
Protit: Cazein và globulin được tuyến sữa tổng hợp từ các axit amin do máu
chở tới, zactalbumin và lactglobulin do tuyến vú tổng hợp. Tuyến sữa lợi dụng
albumin có sẵn trong máu để tạo albumin sữa. Kháng thể trong sũa do máu đưa tới.
Trong quá trình hình thành sữa các kích tố của tuyến Yên, tuyến Giáp, buồng
trứng... có tác dụng nhất định kích thích quá trình tạo sữa, trong đó tuyến Yên đóng
vai trò quan trọng.
5
CHƯƠNG 2:
GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG TRÂU BÒ
1. Giới thiệu các giống trâu bò
1.1. Các giống bò cho thịt
* Bò Brahman
- Giống bò thịt nhiệt đới được tạo ra ở Mỹ. Bò có màu lông trắng gio hoặc đỏ.
- Khi trưởng thành bò đực nặng khoảng 680-900kg, bò cái nặng 450-630kg.
Bò B.B.B (Blanc-Bleu-Belge)
* Bò B.B.B (Blanc-Bleu-Belge)
- Giống bò chuyên dụng thịt của Bỉ. Màu lông chủ yếu là màu trắng, xanh lốm
đốm, trắng lốm đốm. Bò có cơ bắp rất phát triển.
- Khi trưởng thành bò đực có khối lượng 1100 - 1200kg, bò cái 710-720kg.
Bê đực nuôi dưỡng tốt giết thịt lúc 14- 16 tháng tuổi cho tỷ lệ thịt xẻ 66%.
*
Bò Arberdin Angus
- Giống bò chuyên dụng thịt được tạo ra ở Scotland. Bò có màu lông đen hoặc
đỏ sẫm. Có thể có đốm trắng dưới bụng, bầu vú, bao tinh hoàn. Bò không có sừng,
chân thấp.
- Khi trưởng thành khối lượng bò đực 1000-1300kg, bò cái 650-800kg. Bê
đực nuôi tốt giết thịt lúc 14-16 tháng tuổi có tỷ lệ thịt xẻ 68-69%.
Bò Arberdin Angus
Bò Santa Gertrudis
* Bò Santa Gertrudis
7
Hình 2.15:
Bò BlancBleuBelge
- Giống bò chuyên dụng thịt của Australia. Bò có màu lông đỏ sẫm.
Âm hộ có nhiều nếp nhăn. Lưng ngắn, ngực sâu, mông dốc. Bầu vú khá phát triển.
Đuôi dài, chót đuôi thường không có xương. Màu lông thường là vàng hoặc sẫm,
một số ít con có vá trắng.
8
- Khối lượng bò lúc trưởng thành 250-350kg đối với con cái, 400-450 kg đối
với con đực. Năng suất sữa khoảng 1200-1400kg/240-270 ngày, mỡ sữa: 5-5,5%. Tỉ
lệ thịt xẻ 48-49% (bò thiến). Bò này có khả năng cày kéo tốt: sức kéo trung bình
560-600N, tối đa: cái 1300-2500N, đực 2000-3000N.
Bò Lai Sin
Bò Sin (Red Sindhi)
* Bò Sin (Red Sindhi)
- Bò Sin là một giống bò có nguồn gốc từ vùng Sindhi (Pakistan). Bò có màu
lông đỏ cánh dán hay nâu thẫm.
- Khi trưởng thành bò đực có khối lượng 450-500kg, bò cái 350-380kg. Sản
lượng sữa trung bình khoảng 1400-2100kg/chu kỳ 270-290 ngày.Tỷ lệ mỡ sữa 55,5%.
* Bò Sahiwal
- Bò Sahiwal là giống bò u của Pakistan. Bò có màu lông đỏ vàng hay vàng thẫm.
- Khi trưởng thành, bò cái có khối lượng 360-380kg, bò đực 470- 500kg. Sản
lượng sữa khoảng 2100-2300kg/ chu kỳ 9 tháng. Tỷ lệ mỡ sữa 5-5,5%.
9
Bò Sahiwal
khoảng 500-600kg đối với con cái và
700-750 kg đối với con đực. Tỷ lệ thịt
xẻ khoảng 48-52%. Sản lượng sữa trung
bình khoảng 1400-2000kg/chu kỳ. Tỷ lệ
mỡ sữa cao (7%).
10
2. Công tác giống trâu bò
2.1. Chọn giống trâu bò sinh sản
* Chọn trâu bò đực giống
- Toàn thân phát triển cân đối, chắc khỏe,
thể hiện rõ đặc điểm của phẩm giống, tính đực,
lông dày, da mịn và đàn hồi tốt. Cơ quan sinh
dục phát triển, hai hòn cà to và đều.
- Đầu to trán rộng, trán lồi hoặc phẳng,
sừng to, cổ to dầy và dài vừa phải, kết nối một
cách tự nhiên. Bốn chân chắc khỏe, tư thế vững
vàng, không vòng kiềng không chạm khoeo.
* Chọn trâu bò cái
- Trâu bò cái sinh sản tốt nhìn chung là
những con có sức khỏe tốt, các bộ phận thân
mình cân đối, đặc biệt là phần mông, khung chậu
to và vú đều phát triển tốt. Cụ thể là: đầu và cổ
phải thanh cân đối, ngực sâu rộng và nở nang,
lưng thẳng dài và rộng, bụng to tròn. Mông nở
nang rộng và dài, khoảng cách giữa hai xương
chậu rộng. Bầu vú phát triển, 4 núm vú phân đều
đặn. Bốn chân vững chắc không vòng kiềng.
đâu to sừng dài mắt to; cổ ngắn và dày; bốn
chân chắc khỏe, thẳng, móng tròn, đều, hình
bát úp.
2.5. Công tác phối giống cho trâu bò
* Tuổi bắt đầu phối
Tuổi bắt đầu phối giống thích hợp cho bò cái sinh sản khoảng 18 - 22 tháng
tuổi. Khối lượng bắt đầu phối phải đạt 65 - 70% so với khối lượng khi trưởng thành.
Tuổi bắt đầu phối giống thích hợp cho trâu cái khoảng 30 tháng tuổi.
* Các hình thức phối giống
- Phối tự nhiên: Chăn thả trâu bò đực và cái chung trong một đàn, cho chúng
tự giao phối với nhau. Hình thức này có ưu điểm là không tốn công, tỷ lệ thụ thai
cao. Hạn chế là không theo dõi, quản lý được, dễ lây lan dịch bệnh.
- Phối có hướng dẫn: Tiến hành chăn thả đực cái riêng, khi con cái động dục
tăng cường theo dõi và cho đực phối vào thời điểm thích hợp. Hình thức này có ưu
điểm là nắm được ngày phối từ đó xác định được tháng có thai và có chế độ nuôi
dưỡng hợp lý. đồng thời chủ động điều khiển sinh sản theo mùa vụ, hạn chế sự lây
lan bệnh tật, tiết kiệm được đực giống.
- Thụ tinh nhân tạo: Áp dụng cho những nơi gần cơ sở nuôi đực giống và trong
công tác lai tạo.
12
* Kỹ thuật phối giống
Trứng rụng và di chuyển từ buồng trứng đến vị trí 1/3 ống dẫn trứng phía trên, cần
6 - 12h, đó cũng là thời gian có khả năng thụ thai. Nếu trứng đã di chuyển xuống phía
dưới, trứng đã già đi và có màng albumin bao bọc gây khó khăn cho quá trình thụ tinh.
Tinh trùng đến vị trí 1/3 ống dẫn trứng phía trên cần 10 - 14 giờ.
Căn cứ vào đặc điểm di chuyển của trứng và tinh trùng, thời gian trứng rụng, chúng
ta có thể phối giống vào cuối giai đoạn 2 hoặc đầu giai đoạn 3. Tức là lúc buồng trứng có
noãn bào chín và sắp rụng trứng, cổ tử cung mở to, niêm dịch trắng đục, con cái chịu đực
động trong phạm vi 9-25m2.
2. Kỹ thuật xây dựng chuồng nuôi trâu bò
2.1. Chọn địa điểm
Khi chọn địa điểm xây dựng chuồng trại cần xem xét cẩn thận những yếu tố
sau đây:
- Có đủ nguồn nước chất lượng tốt cho trâu bò uống và vệ sinh chuồng trại.
- Nền đất phải cao ráo, chắc chắn, mực nước ngầm phải thấp hơn chỗ thấp
nhất của nền chuồng.
- Cần biết hướng gió tự nhiên để định hướng chuồng và bố trí chuồng nuôi sao
cho thông thoáng tự nhiên và hợp vệ sinh chung.
14
- Vị trí chuồng trại phải đảm bảo khả năng tiếp cận giao thông và thị trường
được tốt, nhưng đồng thời phải đảm bảo được an ninh.
- Phải lợi dụng địa hình được không để xây dựng chuồng trai mà không làm
ngược lại vì việc đào đắp san lấp rất tốn kém. Phải lợi dụng độ dốc làm đường rãnh
thoát nước.
- Phải có đủ diện tích đất trồng cỏ nuôi bò và có đủ diện tích đất để mở rộng
quy mô chăn nuôi nếu cần.
2.2. Thiết kế mặt bằng
Việc thiết kế một khu chuồng trại chăn nuôi trâu bò phải phối hợp được các bộ
phận cấu thành sau đây thành một hệ thống hoạt động hoàn chỉnh:
- Hệ thống đồng cỏ
- Hệ thống chăm sóc quản lý
- Hệ thống cung cấp thức ăn
- Hệ thống xử lý phân nước thải
- Đặc trưng của kiểu chuồng này là các dãy ô chuồng song song được sắp xếp
cuốn vòng theo đường bình độ của sườn đồi. Lối cung cấp thức ăn đi vào một phía
(trước) của dãy ô chuồng, còn rãnh thoát và đường đi của bò thoát ra khỏi phía kia
của hãy ô chuồng (phía thấp hơn).
* Kiểu chuồng hình răng cưa
- Đây là kiểu chuồng gần giống kiểu chuồng trên, chỉ khác là các dãy ô chuồng
được xếp thẳng hàng.
- Xây dựng kiểu chuồng này dễ dàng hơn và việc phân phát thức ăn cũng
thuận tiện hơn so với kiểu chuồng trên. Kiểu chuồng này phù hợp với chăn nuôi quy
mô lớn ở những nơi có nền đất đồng đều với độ dốc tự nhiên 2-4%.
* Kiểu chuồng đối đầu/đối đuôi
- Kiểu chuồng này thường được áp dụng với quy mô chăn nuôi khá lớn.
- Các dãy ô chuồng xếp thẳng hàng và cứ hai dãy thì có một lối đi ở giữa để
cung cấp thức ăn, máng ăn và máng uống bố trí dọc theo hai bên lối đi. Nếu có nhiều
dãy, phía sau hai dãy đối đuôi có lối vào thu dọn phân và rãnh thoát ở giữa. Kiểu
chuồng này phù hợp với những nơi bằng phẳng (độ dốc tự nhiên dưới 1%).
* Các kiểu chuồng chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ
16
Trong điều kiện chăn nuôi bò nông hộ quy mô nhỏ, kiểu chuồng nuôi có thể
thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh (số lượng bò, diện tích đất, điều kiện thời tiết, khí hậu,
vốn đầu tư…). Chuồng có thể làm rất đơn giản. Tuy nhiên, cần đảm bảo được những
nguyên tắc cơ bản về xây dựng và vệ sinh chuồng nuôi.
Kiểu chuồng một dãy là kiểu chuồng thích hợp cho chăn nuôi nông hộ quy mô
nhỏ. Ưu điểm của nó là có thể tận dụng, tiết kiệm được nguyên vật liệu, dễ đặt vị trí.
2.4.
và tiêu
cần phải tính toán sao cho không bị mưa hắt và gió lạnh thổi vào.
- Vật liệu làm mái có thể là ngói, tranh, tre, nứa, lá, tôn hay fibroximăng. Đối
với những chuồng lớn, khẩu độ mái rộng thường phải dùng mái tôn, nhưng cần làm
mái cao và thoáng. Vật liệu làm mái có ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ trong chuồng.
* Máng ăn
Trong điều kiện chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ cần phải có máng ăn trong
chuồng cho trâu bò để đảm bảo vệ sinh. Máng ăn nên xây bằng gạch láng xi măng.
Không xây máng ăn quá sâu, dễ gây tồn đọng thức ăn và khó vệ sinh. Các góc của
máng ăn phải lượn tròn và trơn nhẵn, đáy máng phải dốc và có lỗ thoát nước ở cuối
để thuận tiện cho việc rửa máng. Thành máng phía trong (phía bò ăn) phải thấp hơn
thành máng ngoài để thức ăn không rơi vãi ra lối đi.
2-3%
Trong điều kiện chăn nuôi quy mô lớn có cơ giới hoá việc phân phát thức ăn
thì có thể không cần làm máng ăn như trên. Thức ăn được cung cấp dọc theo lối đi
phía trước mỗi dãy chuồng trên dải nền cao hơn mặt nền chuồng (thường rải băng
Khu vực nghỉ ngơi
Lối cấp
thức ăn
18
thảm nhựa) và có gờ cao phía trong để ngăn thức ăn rơi vào trong chỗ đứng của con
vật.
Chiều rộng chỗ ăn cho các loại bò bê khi phân phát thức ăn thủ công có thể
như sau:
- Ngăn bức xạ mặt trời trực tiếp lên cơ thể bò thông qua việc làm các mái hay
lán che mát ngoài khu vực chuồng nuôi.
- Làm mát trực tiếp cho cơ thể gia súc bằng hệ thống quạt thông gió và/hay hệ
thống phun nước.
19
- Làm mát gián tiếp môi trường chuồng nuôi bằng phun nước áp suất cao cách
tạo sương mù trong chuồng.
* Sân chơi và đường đi
Cần có sân chơi có hàng rào để trâu bò có thể vận động tự do. Sân có thể lát
bằng gạch hoặc đổ bê tông với diện tích khoảng 15-20m2/con. Trong sân chơi cũng
bố trí máng ăn, máng uống và cây bóng mát.
Đường đi cho ăn trong chuồng được bố trí tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại
(vị trí, kiểu chuồng...), phương thức chăn nuôi, phương tiện vận chuyển thức ăn. Phía
ngoài chuồng cũng phải có hệ thống đường đi chắc chắn để vận chuyển thức ăn, chất
thải và đi lại theo dõi quản lý chung. Dọc hai bên đường đi ngoài chuồng cần có cây
bóng mát.
* Hệ thống can thiệp thú y
Trong khu vực một trại cần có chuồng cách ly và phòng thú y. Chuồng thú y
thường đặt ở khu đất riêng biệt, thấp hơn chuồng nuôi, xa khu vực chăn nuôi
(khoảng 200m) và cuối hướng gió.
* Hệ thống vệ sinh và xử lý chất thải
Hệ thống xử lý chất thải phải được thiết kế cẩn thận. Trước hết cần có hệ
thống cống rãnh thoát nước để cho nước bẩn chảy thoát khỏi nền chuồng. Rãnh thoát
nước bẩn làm dọc theo chuồng và tập trung vào hố chứa. Từ hố chứa phân được tập
trung thành từng đợt vào nhà chứa và ủ phân trước khi chuyển đi bón ruộng.
Hố chứa phân phải cách chuồng ít nhất là 5m và cách giếng nước uống ít nhất
là 100m. Hố chứa phân và nước thải phải trát kín để phân và chất thải không thấm ra
Nhu cầu năng lượng trong thời gian mang thai ở bò tăng lên theo sự phát triển
của thai. Ở bò tơ được xác định bằng cách sử dụng nhu cầu duy trì + 30% (có thai
1.4. Nhu cầu Vitamin
Gia súc nhai lại nói chung không có nhu cầu bổ sung vitamin nhóm B và
vitamin K vì vi sinh vật dạ cỏ có khả năng tổng hợp những loại vitamin này.
Đối với trâu bò cần chú ý nhiều đến vitamin A và D. Vitamin A nên cho ăn
khoảng 10 000 -15 000 IU/con/ngày. Nhu cầu vitamin D trong khẩu phần thường
vào khoảng 200-250 UI/kg chất khô.
1.5. Nhu cầu về nước uống
Nhu cầu về nước phụ thuộc vào tính chất thức ăn, nhiệt độ, độ ẩm môi trường,
trạng thái sinh lý của cơ thể.
- Ở vùng ôn đới, bò trưởng thành không tiết sữa cần được cung cấp 3 kg
nước/ 1kg vật chất khô thu nhận. Ở vùng nhiệt đới cần 8 kg nước/ 1kg vật chất khô
thu nhận.
- Ở bò cái mang thai giai đoạn cuối thì tăng 50%, ở bò đang tiết sữa thì cần
cung cấp 0,87 kg nước/ 1kg sữa. Nước uống cho trâu bò phải sạch, không độc và cho
uống tự do ở mọi thời gian.
1.6. Nhu cầu vật chất khô
Trong điều kiện bình thường, lượng vật chất khô thu nhận phụ thuộc vào khối
lượng cơ thể, nồng độ năng lượng của thức ăn, tốc độ tiêu hóa hoặc lên men. Trâu bò
tơ thu nhận lượng vật chất khô khoảng 2,8 - 3% khối lượng cơ thể.
2. Thức ăn và kỹ thuật chế biến sử dụng
2.1. Nguồn thức ăn cho trâu bò
2.1.1. Thức ăn thô
24
- Rơm khô được dự trữ dưới hình thức đánh đống, đây là biện pháp bảo quản
thức ăn dễ thực hiện, cho phép ta dự trữ với khối lượng lớn để chủ động dùng vào
những thời điểm khan hiếm.
- Cỏ khô là loại thức ăn thô dự trữ sau khi đã sấy khô hoặc phơi khô, là nguồn