LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho
trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình
Chiểu là một đề tài mới mẻ, có thể nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, ở
các mức độ nông – sâu khác nhau. Nên khi tiến hành thực hiện chúng tôi gặp
rất nhiều khó khăn. Đặc biệt là trong việc thu thập tài liệu về phương pháp
Dosaho. Nhưng được sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô, đặc biệt là thầy
giáo hướng dẫn và sự hợp tác nhiệt tình của các cán bộ giáo viên Trường
PTCB Nguyễn Đình Chiểu, Phòng Khoa học, sau đại học và Hợp tác Quốc tế
và các chuyên gia Nhật Bản nên chúng tôi đã hoàn thành được đề tài này
trong thời gian cho phép.
Xin chân thành cảm ơn!
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự tồn tại của trẻ khuyết tật là một thực tế khách quan, xã hội càng phát
triển thì sự quan tâm của xã hội đến trẻ khuyết tật càng được nâng cao. Ở Việt
Nam, việc đảm bảo quyền cho trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng rất
được chú trọng. Điều này thể hiện trong các văn bản pháp quy mà Việt Nam
đã kí và cam kết thực hiện như Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước
về Giáo dục cho mọi người. Hơn nữa, trong Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học,
Luật chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật giáo dục, Pháp lệnh về Người tàn tật
và Luật Người khuyết tật 2010 đã đề cập đến vấn đề trẻ khuyết tật có quyền
như mọi trẻ em khác.
Trong Nghị quyết TW Đảng khoá VI và Chiến lược phát triển giáo dục
2001- 2010 đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục trẻ khuyết tật.
Theo đó, Bộ Giáo dục và đào tạo đã áp dụng các mô hình trẻ khuyết tật khác
nhau và đã thu được những kết quả nhất định. Đồng thời, Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội đã có các chính sách dành cho trẻ khuyết tật và gia
sở có số lượng trẻ khuyết tật đông tại thành phố Đà Nẵng. Trong nhiều năm
qua, công tác chăm sóc & giáo dục trẻ khuyết tật đã đạt được nhiều thành tựu.
Trường cũng nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của nhiều tổ chức trong và
ngoài nước, đã có nhiều chương trình, dự án được triển khai ở đây. Trong số
những chương trình đó, có chương trình tập huấn “Phương pháp vận động
lâm sàng dành cho trẻ khuyết tật” do Nhóm chuyên gia Nhật Bản phối hợp
với Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng
thực hiện. Phương pháp này bước đầu đã cho thấy những kết quả khả quan
đến lĩnh vực vận động của trẻ khuyết tật.
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thực trạng
vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ
khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – Tp.Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu
Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn
Đình Chiểu để đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của phương
pháp này, góp phần vào việc xây dựng mô hình trị liệu trong phục hồi chức
năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho theo hướng lâu dài
tại Nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể
Quá trình trị liệu trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.
3.2. Đối tượng
Phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ trẻ
khuyết tật tại TRường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – Tp. Đà Nẵng.
4. Giả thuyết khoa học
Hầu hết các cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu đều
nhận thức được vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho sau khi được tập
khái niệm công cụ của đề tài. Đồng thời, tiến hành dịch một số tài liệu về
phương pháp Dosaho.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên theo 2 hình thức để
khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho.
* Phương pháp quan sát
Sử dụng phiếu quan sát để đánh giá thực trạng tiến hành thực hiện
phương pháp Dosaho. Quan sát để đánh giá sự tiến bộ của trẻ.
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy, hồ sơ trẻ được lập vào tháng
9/2010.
* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động để
đánh giá tình trạng hiện tại của 6 trẻ điển hình. Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếu
với hồ sơ trước đây.
8. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần
nội dung chính của đề tài gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong
phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu
- Tp.Đà Nẵng
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi
chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho theo hướng
lâu dài tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu - Tp. Đà Nẵng.
chương trình phục hồi chức năng thể chất mà còn trong các chương trình
chăm sóc sức khỏe tâm thần và tâm lý trị liệu. Trong thực tế, đã xảy ra không
ít trường hợp một số trẻ em đã được chẩn đoán sẽ nằm liệt suốt đời do những
tổn thương về thể chất và tâm lý, nhưng sau đó các em lại có thể đứng thẳng,
đi lại thoải mái và thậm chí theo học các lớp bình thường. Cũng trong các
trường hợp sử dụng liệu pháp tâm lý, đã có báo cáo khoa học khẳng định một
trường hợp bệnh nhân sử dụng bài tập Dosaho nhanh chóng cải thiện triệu
chứng trầm cảm. Hiện nay, các chương trình chăm sóc sức khỏe dựa trên
phương pháp tâm lý sử dụng hệ thống các tác động vận động Dosaho làm
công cụ được gọi là chương trình phục hồi chức năng dựa vào liệu pháp tâm
lý, và trong hơn 20 năm qua, phương pháp tập luyện vận động Dosaho được
xem là chương trình phục hồi chức năng dựa vào liệu pháp tâm lý hiệu quả
nhất ở Nhật Bản.
Các chuyên gia tâm lý, các bác sĩ điều trị, các nhà nghiên cứu khoa học
quan tâm đến mối quan hệ không thể tách rời giữa thể chất và tinh thần đã
ứng dụng phương pháp Dosaho tại các trại huấn luyện, trong các chương trình
điều trị bệnh, trong các chương trình hoạt động học tập và chăm sóc sức khỏe.
Hiện nay, cơ sở lý thuyết của phương pháp tập luyện Dosaho đã được khẳng
định, và các nhà khoa học đã phát hiện các phương pháp mới như: Phương
pháp Dosaho thể thao cho các vận động viên thể thao chuyên nghiệp được sử
dụng như là một phương pháp rèn luyện tinh thần, Phương pháp Dosaho
trong giáo dục được ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục chuyên biệt... Tại Nhật
Bản, số người bị mắc các chứng bệnh về tâm thần đang ngày càng tăng. Vì
vậy, việc sử dụng “Phương pháp chăm sóc sức khỏe Dosaho” hay “ Liệu pháp
Dosaho” như là một phương pháp duy trì sự cân bằng của tình trạng sức khỏe
thể chất – tâm thần cho người bình thường đang trở thành khuynh hướng lớn
trong lĩnh vực tâm lí học lâm sàng ở Nhật Bản. Liệu pháp Dosaho được
nghiên cứu nhiều nhất bởi các nhà tâm lí học trị liệu, các bác sĩ ở các trường
sở vật chất tương đối hiện đại. Tuy nhiên, ở các trường và cơ sở dạy trẻ
khuyết tật thì vấn đề này chưa được chú trọng và đầu tư nhiều.
1.2. Một số vấn đề chung về trẻ khuyết tật
1.2.1. Trẻ khuyết tật
1.2.1.1. Khái niệm
“Người khuyết tật là người do khiếm khuyết hoặc tình trạng sức khoẻ
bị giảm chức năng và/hoặc hạn chế sự tham gia sinh hoạt, lao động, học tập
và đời sống xã hội“
Khái niệm này cũng tương đương với khái niệm khuyết tật của WHO
khuyến cáo sử dụng theo phân loại ICF, tương đương với khái niệm khuyết
tật được đề cập trong dự thảo Công ước Quốc tế về Quyền người khuyết tật
và không mâu thuẫn với tinh thần của Pháp lệnh về Người tàn tật của Việt
Nam.
1.2.1.2. Phân loại
Căn cứ vào tình hình khuyết tật cụ thể của Việt Nam và kế thừa những
phân loại cũ và phân loại chức năng theo ICF, loại khuyết tật được chia thành
các nhóm như sau:
1. Khuyết tật (giảm chức năng) vận động
2. Khuyết tật (giảm chức năng) về nghe, hoặc nghe và nói kết hợp
3. Khuyết tật (giảm chức năng) nhìn
4. Giảm cảm giác (bao gồm giảm cảm giác do bệnh Phong gây ra, giảm
vị
giác, khứu giác,… do các nguyên nhân khác nhau).
5. Rối loạn chức năng nhận thức: các dạng chậm phát triển trí tuệ,
Down
6. Rối loạn chức năng tâm thần – hành vi: tự kỷ, các dạng bệnh tâm
thần, rối loạn hành vi…
7. Các khuyết tật (giảm chức năng) khác thuộc hệ thống tuần hoàn, hô
- Hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng như: Giao tiếp/ liên cá
nhân, tự phục vụ, sống tại gia đình, xã hội, sử dụng các tiện ích tại cộng đồng,
tự định hướng, kỹ năng học đường chức năng, giải trí, lao động, sức khỏe, và
an toàn,…
- Hiện tượng này xuất hiện trước 18 tuổi.
Theo Grossman, nhà bác học Mỹ: “CPTTT là tình trạng chức năng trí
tuệ tổng quát thấp hơn mức bình thường dẫn đến hành vi thích ứng kém và
xảy ra trong giai đoạn phát triển. Theo ông, trẻ CPTTT có đủ hai yếu tố:
chức năng trí tuệ thấp và hành vi thích ứng kém.”
1.2.3.2. Nguyên nhân gây khuyết tật CPTTT
* Trước khi sinh
- Di truyền: Bố, mẹ hoặc một trong hai người CPTTT thì có thể sẽ di truyền
cho các thế hệ tiếp sau.
- Do sự đột biến nhiễm sắc thể làm cho cấu trúc gen bị sai lệch dẫn đến một
số hiện tượng như: Bệnh Tớc-nơ(nữ), Clai-phen-tơ(nam), Đao(ba nhiễm sắc
thể ở cặp thứ 21),…
- Người mẹ bị mắc một số bệnh trong thời gian mang thai như: cúm, sởi
Rubela,…
- Thai nhi suy dinh dưỡng, thiếu i-ốt, …
- Yếu tố môi trường độc hại: Thai nhi bị nhiễm độc, ngộ độc, bố/ mẹ bị
nhiễm phóng xạ, các chất gây nghiện ( do hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma
túy),…
- Sự mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ.
* Trong khi sinh
Những rủi ro trong quá trình sinh: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt,…có can
thiệp y tế nhưng không đảm bảo dẫn đến những tổn thương não bộ.
* Sau khi sinh
- Trẻ bị mắc các bệnh về não như: Viêm não, viêm màng não để lại di
các ham thích rập khuôn.
Như vậy có nhiều khái niệm về trẻ tự kỷ. Tuy nhiên các khái niệm này
không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hoàn chỉnh về
trẻ tự kỷ.
Theo chúng tôi, học sinh mắc rối loạn tự kỷ là những học sinh có những rối
loạn phát triển lan tỏa phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngôn
ngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác. Có 5 phân nhóm chẩn
đoán trong phổ tự kỷ: Tự kỷ điển hình, hội chứng Aperger, Rối loạn Rett, rối
loạn phân rã ở trẻ thơ, rối loạn phát triển lan tỏa – không điển hình.
1.2.4.2. Nguyên nhân gây khuyết tật tự kỷ
* Tổn thương não hoặc não bộ kém phát triển do:
Đẻ non tháng dưới 37 tuần.
Cân nặng khi sinh thấp dưới 2.500g.
Ngạt hoặc thiếu ô xy não khi sinh.
Chấn thương xọ não do can thiệp sản khoa.
Vàng da sơ sinh.
Chảy máu não- màng não sơ sinh.
Nhiễm khuẩn thần kinh như viêm não, viêm màng não.
Thiếu ô xy não do suy hô hấp nặng.
Chấn thương xọ não.
Nhiễm độc thủy ngân.
* Yếu tố di truyền:
Bất thường về nhiễm sắc thể.
Bệnh di truyền theo gen hoặc nhóm gen.
* Yếu tố môi trường:
Môi trường trẻ đang sống kích thích lên sự phát triển của trẻ trong 24
tháng đầu: cho trẻ xem vô tuyến truyền hình, quảng cáo, âm nhạc, các đồ chơi
1.3.3.2. Phương pháp vật lý trị liệu: là phương pháp phòng hoặc/và chữa bệnh
bằng cách sử dụng các tác nhân vật lí tự nhiên hay nhân tạo như: nước, không
khí, nhiệt độ, khí hậu, độ cao, điện, tia X, tia cực tím, tia hồng ngoại, siêu âm,
các chất đồng vị phóng xạ, xoa bóp, thể dục - thể thao, đi bộ, dưỡng sinh.
1.3.3.3. Phương pháp mát – xa: Theo gốc Hy Lạp, từ massage có nghĩa là xoa
bóp, với quan niệm rằng cơ thể con người có một dòng chảy năng lượng còn
gọi là "khí". Sự lưu chuyển tốt của khí giúp cơ thể duy trì được sức khỏe và
sinh lực còn khi dòng khí này bị ngưng trệ là lúc cơ thể yếu đuối và nảy sinh
nhiều bệnh tật. Massage chính là cách vận khí, chuyển khí để dòng chảy này
lưu thông tốt nhất trong cơ thể con người, khơi thông lại nguồn năng lượng
tiềm năng này trong cơ thể.
1.3.3.4. Phương pháp thôi miên: là phương có thể làm thay đổi hoặc kiểm
soát trạng thái tinh thần của một người đến mức người đó phải làm theo các
chỉ thị của người thôi miên.
1.3.4. Các hình thức phục hồi chức năng
1.3.4.1. PHCN tại viện: Là hình thức PHCN nội trú hoặc ngoại trú tại các
khoa PHCN trong các bệnh viện đa khoa, tại các trung tâm hay viện PHCN.
- Ưu điểm:
+ PHCN sớm.
+ Có điều kiện kỹ thuật cao về trang bị máy móc và cán bộ.
+ Tiến hành công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học.
- Nhược điểm:
+ Số lượng thu dung ít.
+ Trở ngại về vấn đề đi lại của người tàn tật.
+ Thời gian tiến hành PHCN ngắn.
1.3.4.2. PHCN ngoại viện: Là hình thức mà cán bộ PHCN đến điều trị tận nhà
cho người tàn tật.
- Ưu điểm:
căng thẳng hoặc sự vận động về mặt thể chất của cơ thể mà còn chỉ những
hiện tượng tâm lý đuợc tạo ra bởi nỗ lực của con nguời (đôi khi xảy ra một
cách vô thức) nhằm thích nghi với cuộc sống thường ngày. Nói một cách
chính xác, Dosaho được định nghĩa như là một quá trình tổng thể bao gồm ý
địng của một người, nỗ lực nhằm hiện thực hóa vận động của cơ thể, và kết
quả có thể nhìn thấy đuợc của vận động thể chất của cơ thể.
Nguời ta cho rằng, tất cả mọi nguời đều có những phuơng thức vận động
Dosaho để tiếp nhận cuộc sống từ khi mối đuợc sinh ra, nhưng những phuơng
thức vận động đó không phải lúc nào cũng phù hợp với họ. Loại lỗi vận động
Dosaho này sớm muộn sẽ gây ra những căng thẳng có hại cho các bộ phận
của cơ thể như gây đau mình, tê cứng, thậm chí gây ra những tình trạng bất
lợi cho cơ thể như trạng thái trầm cảm. Trong các chuơng trình sử dụng
phuơng pháp trị liệu Dosaho, các nhà vận động đã phát hiện thấy các phuơng
thức vận động Dosaho của một số nguời không phù hợp với sự thích ứng của
nguời đó đối với đời sống hàng ngày. Phần lớn các lỗi Dosaho đuợc gây ra do
nguời bệnh không đạt những vận động thể chất phù hợp hơn. Vì vậy các nhà
trị liệu Dosaho sử dụng cách tác động vào các nỗ lực Dosaho của nguời bệnh,
huớng dẫn họ thay đổi phuơng thức vận động sai để chuyển sang những cách
vận động phù hợp và thoải mái hơn khi hợp tác với các chuyên gia trị liệu để
thực hiện các bài tập Dosaho.
1.4.2. Cơ sở vận dụng Dosaho
Từ cơ sở lý thuyết trên cộng với những thành quả mà phương pháp trị
liệu Dosaho đã đạt được, chúng ta có thể thấy được lợi ích của phương pháp
này.
Với trẻ khuyết tật thì ngoài những khuyết tật chính, đi kèm theo đó còn
có một số khuyết tật khác. Hơn nữa, do những khuyết tật mà trẻ không có
điều kiện để phát huy những khả năng còn lại, phục hồi những chức năng đã
mất. Do đó, trẻ dễ phát sinh nhiều hành vi bất thường hoặc cũng có thể bị tê
1.4.3.2. Tiến trình chung của một bài tập Dosaho
Bước 1: Đánh giá ban đầu: chuyên gia trị liệu kiểm tra những vấn đề mà
nguời bệnh đang gặp phải, và đánh giá những phuơng thức vận động Dosaho
đuợc xem là không phù hợp với người ấy.
Buớc 2: Thỏa thuận đồng ý: chuyên gia trị liệu thông báo với người bệnh về
phuơng pháp vận động Dosaho (chú ý vấn đề giới tính khi phải động chạm
vào cơ thể người bệnh, đặc biệt là khi người bệnh có giới tính khác với
chuyên gia trị liệu).
Buớc 3: Xác định bài tập Dosaho: chuyên gia điều trị đề ra một phác đồ trị
liệu, chọ bài tập Dosaho trong tất cả các kĩ thuật sử dụng cho nguời bệnh.
Bước 4: Kiểm tra truớc khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình
trạng cơ thể trước khi bắt đầu liệu pháp để nhằm mục đích sau này đánh giá
hiệu quả của việc điều trị.
Bước 5: Điều trị bằng liệu pháp Dosaho: chuyên gia trị liệu giới thiệu và
huớng dẫn người bệnh về các bài tập Dosaho, khuyến khích và phản hồi về
những nỗ lực của người bệnh.
Bước 6: Kiểm tra sau khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình
trạng cơ thể của họ và so sánh với kết quả kiểm tra trước khi điều trị. Dựa trên
các câu trả lời, chuyên gia trị liệu điều chỉnh các bài tập Dosaho cho đợt điều
trị sau.
1.4.3.3. Giới thiệu một số bài tập Dosaho đơn giản
Có tất cả 64 phương pháp trị liệu Dosaho, mỗi một phương pháp lại có
nhiều bài tập thực hành khác nhau, nhưng tất cả các phương pháp này đều tác
động vào 13 vị trí trên 4 vùng sau: vùng mặt, vùng thân, vùng chi trên, vùng
chi dưới.
* Thực hành xác định 13 vị trí
Người điều trị(NĐT)
- Nằm sấp, hai tay úp xuống nền - Giữ 2 bên bắp tay
trước ngực
- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng
- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần).
tại vị trí đặt tay.
- Nghiêng mặt sang trái
- Đặt tay ở nốt cổ (trên)
- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần).
- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng
- Làm nhiều lần theo yêu cầu của tại vị trí đặt tay.
NĐT
- Yêu cầu NĐĐT nghiêng đầu sang
- Nghiêng đầu sang phải rồi thực hiện phải rồi đặt tay ở nốt cổ (dưới)
lại tương tự theo yêu cầu của NĐT
- Đặt hai tay giữ bắp tay và yêu cầu
- Quay đầu lại vị trí ban đầu rồi gồng gồng – nới
– nới.
- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng
- Nới lỏng – gồng lên
tại vị trí đặt tay. (có đôi lúc ngắt
- Làm nhiều lần theo yêu cầu của quãng)
NĐT
- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi
- Kết thúc theo yêu cầu của NĐT
- Hỏi: cảm giác thế nào?
- Vị trí số 6
Người được điều trị nằm ngửa, thả lỏng người. Người điều trị ngồi bên phải
của NĐĐT:
Lần 1: Luồn chân trái sang phía dưới vị trí thắt lưng của NĐĐT. Để cho
NĐĐT nằm thả lỏng như vậy trong 2 phút. Đồng thời NĐT kiểm tra những vị
trí bị cứng của NĐĐT. Sau 2 phút thì rút chân ra. Hỏi NĐ ĐT có cảm giác thế
nào?
Lần 2: Cho NĐ ĐT nằm thả lỏng sau khoảng 3 phút thì thực hiện một
lần nữa. Hỏi NĐ ĐT có cảm giác thế nào?
- Vị trí số 7
NĐĐT
Nằm duỗi thẳng
NĐT