ẢNH HƯỞNG của ÔNG bà đến XUNG đột tâm lý GIỮA CHA mẹ với CON TUỔI THIẾU NIÊN - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----&----

PHM TH THOA

ảNH HƯởNG CủA ÔNG Bà ĐếN XUNG ĐộT TÂM Lý
GIữA CHA Mẹ VớI CON TUổI THIếU NIÊN
Chuyờn ngnh: Tõm lý hc
Mó s: 60.31.04.01

LUN VN THC S KHOA HC TM Lí

Ngi hng dn khoa hc: TS. Lấ MINH NGUYT


HÀ NỘI - 2013

2


Lời cảm ơn!
===**===

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo khoa Tâm lý – Giáo dục trường ĐHSP Hà Nội đã giảng dạy, tạo mọi
điều kiên giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn
khoa học TS. Lê Minh Nguyệt đã quan tâm, tận tình giúp đỡ em hoàn thành
luận văn Thạc sĩ của mình
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ và các em thiếu niên

TB
ĐTB
THPT


Xin đọc là
Trung học cơ sở
Xung đột tâm lý
Xung đột
Trung bình
Điểm trung bình
Trung học phổ thông
Mức độ

8

AH

Ảnh hưởng


DANH MỤC BẢNG


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự phát triển tâm lý trẻ em được diễn ra trong quá trình trẻ hoạt động
và tương tác với môi trường bên ngoài của trẻ. Trong quá trình tương tác đó
vừa có sự tương hợp và xung đột tâm lý giữa trẻ với các yếu tố thuộc môi
trường xung quanh nhưng đồng thời vừa diễn ra sự xung đột tâm lý giữa trẻ

phải quan tâm chăm sóc của cha mẹ, cha mẹ thường kiểm soát các hoạt động
của thiếu niên. Điều này, tạo ra không ít những mâu thuẫn, thậm chí dẫn đến
xung đột trong mối quan hệ giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên
Những biểu hiện thường thấy ở thiếu niên khi mâu thuẫn với cha mẹ là
các em ngại tiếp xúc, trò chuyện tương tác với cha mẹ, nhất là những chuyện
tình cảm thầm kín riêng tư, nghiêm trọng hơn có nhiều em bỏ học, bỏ nhà đi
lang thang, trầm cảm, bạo lực và mắc các chứng rối nhiễu tâm lý khác.
Ronald Kessles trường Đại học Y của Đại học Havard đã tiến hành nghiên
cứu trên 8.000 người Mỹ có độ tuổi từ 25 – 45, thì chỉ có 2% trong số họ

có dấu hiệu trầm cảm khi ở cuối giai đoạn thanh niên. Trong khi đó ở
nhóm người được nghiên cứu có độ tuổi từ 15 – 24, có tới 23% bị trầm
cảm nặng trước khi họ 20 tuổi. Ngày nay bệnh trầm cảm được người ta
nói tới như chứng bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ và đặc biệt là thanh thiếu
niên. Tỷ lệ tự tử ở trẻ em thanh thiếu niên đã tăng gấp 4 lần từ năm 1950
đến 1995 [1; 214]. Một trong những nguyên nhân là cha mẹ và con có
những mâu thuẫn bất đồng dẫn đến con cái xa lánh cha mẹ, trầm cảm
hoặc tham gia nhiều hơn vào các nhóm xã hội khác nhau.
Một nghiên cứu khác của Mottot Florence thực hiện ở Châu Âu
đăng trên tạp chí Sciences Humaines của Pháp (số tháng 2/ 2008) khẳng
định có đến 61% nạn nhân của bạo lực học đường có ý định tự tử bởi
không tìm ra lối thoát, tâm lý các em lúc nào cũng lo sợ. Ở THCS, tỉ lệ

2


học sinh bị bắt nạt là từ 3% - 10%, với mức độ cao đột biến ở độ tuổi 13
– 14, khi các em học sinh bắt đầu tuổi dậy thì đến cấp THPT nạn bạo lực
học đường có xu hướng giảm đi.
Cùng với đó sự thay đổi mạnh mẽ của xã hội đã tác động không nhỏ

số biện pháp tâm lý nhằm hạn chế các xung đột tâm lý giữa cha mẹ với con
tuổi thiếu niên.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ ảnh hưởng của ông bà đến xung đột tâm lý giữa cha mẹ với
con thiếu niên
3.2. Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 92 gia đình có ba thế hệ (ông bà, cha
mẹ và thiếu niên) ở Hà Nội. Cụ thể là: 92 thiếu niên, 92 bố (mẹ), 92 ông (bà)
có con học ở trường THCS Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội.
4. Giả thyết khoa học
Trong gia đình có ba thế hệ XĐTL giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên
ở các mức độ khác nhau. Ông bà có ảnh hưởng đến xung đột tâm lý giữa cha
mẹ với con tuổi thiếu niên ở mức độ trên TB và có thể làm tăng mức độ
XĐTL giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên. Có nhiều nguyên nhân tác động
đến mức độ ảnh hưởng, trong đó chủ yếu từ thuộc về yếu tố chủ quan từ phía
ông bà (nghề nghiệp, quan điểm, lối sống, tính cách, độ tuổi, trình độ…). Nếu
có các biện pháp thử nghiệm tác động tâm lý phù hợp sẽ làm cải thiện mức độ
ảnh hưởng của ông bà đến xung đột giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên theo
chiều hướng tốt hơn
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về xung đột, xung đột tâm lý, ảnh
hưởng của ông bà đến xung đột tâm lý giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phát hiện được những xung đột tâm lý giữa cha mẹ với con tuổi thiếu
niên trong gia đình ba thế hệ qua các lĩnh vực: Học tập, giao tiếp ứng xử,
quan điểm, lối sống
5.2.2. Phát hiện được mức độ ảnh hưởng của ông bà đến xung đột tâm lý
4

Chương 1
LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA CHA MẸ VỚI
CON TUỔI THIẾU NIÊN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề xung đột tâm lý
Xung đột là một hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội và tinh thần
của con người. Trong quá trình con người hoạt động và tương tác với nhau thì
không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, những xung đột giữa các cá nhân với
nhau hay giữa cá nhân với nhóm thậm chí xung đột giữa các quốc gia dân tộc
với nhau. Chính vì thế xung đột là vấn đề được nhiều nhà khoa học trong và
ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Như chúng ta đã biết, C. Mac và Ph. Ăng ghen có những công trình
nghiên cứu đồ sộ về chính trị - xã hội. Trong đó, có học thuyết về các quy luật
phát triển của tự nhiên và xã hội với hàng loạt phạm trù khoa học như: Mâu
thuẫn, vận động, ý thức xã hội và tồn tại xã hội…đã trở thành nền tảng về lý
luận quý báu cho các tác giả khi nghiên cứu về xung đột.
- Hướng nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu những xung đột trong nhóm
nhỏ, trong tập thể cũng như ảnh hưởng của nó tới bầu không khí tâm lý của
nhóm và của tập thể. Có thể kể đến công trình của các tác giả như:
A.Rapport (1974); Ja.Cob.Becrcovich (1984) đi sâu nghiên cứu ảnh
hưởng của xung đột tới bầu không khí tâm lý trong tập thể. Các tác giả này,
xung đột thường nảy sinh trong nhóm và tập thể. Trong những tập thể phát
triển nhanh, có tính ổn định thì xung đột có vẻ ít xuất hiện hơn. Ngược lại
trong những nhóm, tập thể đang ở giai đoạn hình thành và phát triển thì mâu
thuẫn kết thúc bằng sự xung đột là không ít. Xung đột nhìn chung có liên
quan tới bầu không khí tâm lý của tập thể, của nhóm
Ph.Sam-bô (1991) cho rằng sự phát triển nhóm là kết quả của sự đụng
độ giữa những khuynh hướng đối lập nhau do bất đồng hành vi của thủ lĩnh
6


7


gia xung đột. Theo J.Piaget, sự phát triển tâm lý trẻ em là sự phát triển các sơ
đồ nhận thức “Sự phát triển nhận thức bắt nguồn từ sự đan xen thường xuyên
giữa đồng hóa và điều ứng. Đồng hóa duy trì và bổ sung cho các năng lực hữu
hiệu và các bài học đã học được. Còn điều ứng thì bắt nguồn từ những vấn đề
mới là môi trường đặt ra. Nhưng sự không thống nhất giữa những ý tưởng cũ
với những trải nghiệm mới của trẻ là một tác nhân động lực mới quan trọng
tạo thành những thay đổi trong quá trình phát triển nhận thức. [2]
Xung đột không tự nhiên xuất hiện và tự nhiên mất đi. Trong mỗi hoạt
động và mỗi hành vi nào đó của con người đều được thúc đẩy bởi một hệ thống
động cơ. Quan điểm về động cơ xung đột nhóm (M.Deutch, Mc.Clintock C.G,
Mr.Granth J.E…) gợi ý ra ý tưởng về sự trái ngược, đối lập những mong muốn,
mục đích, dự kiến của các thành viên; chúng điều khiển hành vi khi tham gia
hoạt động nhóm. Sự trái ngược trong hệ thống động cơ này tạo cơ sở cho hành
vi cạnh tranh (ganh đua), trong đó các thành viên cản trở nhau trong việc đạt
mục đích đặt ra, nghi kị lẫn nhau khi trao đổi, tiếp nhận thông tin, hình thành
tâm thế tiêu cực đối với nhau. Dù sự cạnh tranh này không nhất thiết dẫn đến
XĐ nhưng việc nghiên cứu hành vi cạnh tranh cho phép cung cấp những tư liệu
kinh nghiệm để giải thích hiện tượng xung đột trong nhóm.
- Kurt Lewin (1953) trong công trình nghiên cứu của mình cũng nhấn
mạnh đến vấn đề động cơ. Theo ông: Xung đột là sự đối lập của các lực lượng
tương đồng. Ông cho rằng, có ba trường hợp cơ bản của XĐ như sau:
Đứa trẻ cùng đứng giữa hai hóa trị dương, tức là những điều cùng
muốn thực hiện.
Trẻ đối mặt với những điều cùng một lúc có cả hai hóa trị dương và
âm, tức là những điều vừa muốn vừa không.
Trẻ đứng giữa hai hóa trị âm, tức là những điều không muốn mà vẫn
phải chọn lấy một.

trẻ. Để thực hiện điều này không chỉ là cải tổ lại những thông tin đã có mà còn
phải hình thành ở trẻ một sơ đồ nhận thức mới phù hợp với hiện thực.
A.I. Arginanova (1951) khi nghiên cứu về khó khăn trong quan hệ
của trẻ và đầu tiên là hiện tượng không cởi mở của trẻ (biểu hiện của
9


XĐTL) là sự phá vỡ sâu sắc quá trình giao tiếp. Theo bà, việc XĐ này là do
các nguyên nhân sau:
• Điều kiện giáo dục không thuận lợi trong gia đình (sự dọa nạt và hình
phạt, sự không cởi mở và ít giao tiếp của bố mẹ)
• Sự tổn thương tâm lý khác nhau (mất cha mẹ, sự quá sợ hãi, những
trường hợp bất hạnh)
• Sự trêu trọc của những người xung quanh do trẻ bị khuyết tật gì đó
về thân thể.
• Do sự giáo dục không đầy đủ của nhà trường.
D.E Way (1953), Brett Laursen (1989) cũng nghiên cứu về XĐ ở trẻ
em trong đó có lứa tuổi thiếu niên. Theo các tác giả này, những biểu hiện XĐ
của trẻ rất đa dạng và phong phú. Cùng xuất phát từ một nguyên nhân nhưng
biểu hiện hành vi XĐ lại rất khác nhau như: Cãi lại, lý sự, bỏ đi lang thang
hoặc những chứng trầm cảm…
B. Laursen (1989), Van dell, Bailey và Hurtup W.W (1992) đã nghiên
cứu về ảnh hưởng của XĐ đến đời sống của trẻ. Các tác giả này cho rằng,
không phải bất cứ XĐ nào trong các mối quan hệ của trẻ cũng mang ý nghĩa
tiêu cực. XĐ không những làm cho các mối quan hệ bị phá vỡ mà XĐ được
xem như là rất cần thiết đối với việc hình thành và duy trì việc gắn bó giữa
các cá nhân. Bởi vì sau khi XĐ xảy ra và đã được giải quyết thỏa đáng thì hai
bên sẽ hiểu nhau hơn, gắn bó với nhau và có quan hệ tốt hơn.
Cùng với đó, tác giả G.P. Sedronixki và R.G. Nadetxki (1996) đã
khuyên những nhà giáo dục không nên bỏ qua những tình huống XĐ trong

XĐTL trong lãnh đạo, quản lý bộ đội nhằm xây dựng quân đội vững mạnh.
Cũng liên quan đến vấn đề này, có công trình nghiên cứu của tác giả Ngô Minh
Tuấn [34] và Nguyễn Văn Tuân [33]. Trong công trình nghiên cứu của mình,
họ đã tìm hiểu những biểu hiện của xung đột giữa các cá nhân trong tập thể
quân nhân và ảnh hưởng của xung đột tới bầu không khí tâm lý trong tập thể.
- Những vấn đề xung đột trong nhóm nhỏ, đặc biệt là trong gia đình cũng
là vấn đề mang tính chất thời sự và được quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả.
11


Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1983) cũng quan tâm đến hiện tượng xung
đột. Ông đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm xung đột, nêu ảnh hưởng của xung
đột đối với những tâm bệnh của trẻ em và chứng nhiễu tâm ở người lớn. [36]
Tác giả Ngô Công Hoàn (1993) đã nghiên cứu về xung đột thế hệ, xung
đột giữa các thành viên trong gia đình nhưng ông chỉ tập trung nghiên cứu
chủ yếu giữa thế hệ ông bà với cha mẹ, xung đột trong quan hệ vợ chồng. [12]
Tác giả Cao Thị Huyền Nga (2000) với công trình nghiên cứu: “Sự
xung đột tâm lý trong quan hệ vợ chồng” cũng đã làm rõ được những biểu
hiện của xung đột tâm lý trong quan hệ vợ chồng ở các gia đình. Tác giả
cho rằng, xung đột tâm lý là nguyên nhân chính dẫn đến việc ly hôn giữa
các cặp vợ chồng [18]
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa (2002) với công trình nghiên cứu về xung
đột tâm lý của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi đã làm nổi bật được ý
nghĩa của xung đột tâm lý đối với sự phát triển của trẻ em. [26]
Ở Việt Nam, vấn đề XĐ ở lứa tuổi thiếu niên cũng có một số tác giả
nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (1997), trong tác phẩm “Khi con đến
tuổi dậy thì” đã cung cấp cho cha mẹ một số biểu hiện vè lứa tuổi thiếu niên
và đưa ra một số câu chuyện về sự XĐ giữa thiếu niên với cha mẹ nhằm giúp
cha mẹ có kinh nghiệm thêm trong giáo dục con cái.
Các luận văn thạc sỹ từ trước đến nay khi nghiên cứu về XĐTL, mỗi

biên [22] thì xung đột được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa thứ nhất: Xung đột là đánh nhau giữa các lực lượng đối nghịch
- Nghĩa thứ hai: Xung đột là va chạm, chống chọi nhau do có mâu
thuẫn gay gắt
Cách hiểu thứ nhất mang nhiều màu sắc triết học, còn cách hiểu thứ hai
mang nhiều màu sắc tâm lý
1.2.1. Xung đột dưới góc độ triết học
Theo quan điểm duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng của thế giới
vật chất có quá trình hình thành, tồn tại và biến đổi từ trạng thái này sang
trạng thái khác. Có những biến đổi làm cho sự vật mới ra đời, cũng có biến
đổi dẫn đến sự tan rã, tiêu vong của các vật thể. Sự phát triển và đổi mới là

13


hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Nguồn gốc
của nó là sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập nằm trong bản thân
sự vật hiện tượng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật quan
trọng nhất của phép biện chứng. Nó vạch ra nguồn gốc bên trong của sự vận
động và phát triển. Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng: Mọi sự vật
trong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong. Trong suốt quá trình phát triển
của chúng, không có một sự vật hiện tượng nào không có mâu thuẫn, không
có một giai đoạn phát triển nào của sự vật hiện tượng lại không có mâu thuẫn.
Mâu thuẫn này mất đi mâu thuẫn khác hình thành. Ngược lại khi hai mặt của
mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt, nếu có điều kiện chín muồi, thì hai mặt
đối lập sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Kết quả là sự
thống nhất của hai mặt đối lập cũ bị phá hủy, sự thống nhất của hai mặt đối
lập mới được hình thành cùng với mâu thuẫn mới.
Theo “Từ điển triết học” [31] xung đột là “sự va chạm”, “xúc phạm

- Xung đột được hiểu cách khác như là sự phản ánh rối loạn tổ chức
hành vi.
- Xung đột như là sự mất định hướng trong đó cá nhân phải trải qua sự
căng thẳng quyết định hay lựa chọn.
Như vậy dưới góc độ tâm lý học, vấn đề xung đột được hiểu có phần
khác so với triết học ở chỗ:
Thứ nhất, nếu triết học gắn xung đột với tất cả các sự vật hiện tượng
trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội, thì dưới góc độ tâm lý học,
xung đột luôn gắn liền với hiện tượng có ở con người. Vì vậy xung đột luôn
mang màu sắc tâm lý và diễn ra ở các mức độ khác nhau. Do đó, khái niệm
xung đột trong tâm lý học có phạm vi hẹp hơn trong triết học.
Thứ hai, mâu thuẫn dẫn đến xung đột không nhất thiết là mâu thuẫn đối
kháng, không điều hòa được. Bởi lẽ, mỗi con người có một nhân cách, nhận
thức, quan điểm, thái độ riêng… và nhiều khi đối lập với người khác. Vì thế,
trong hoạt động cùng nhau, sự va chạm, bất đồng giữa người này với người
khác là điều khó tránh khỏi. Những xung đột đó thường chỉ là sự khác biệt về
ý kiến và lợi ích mâu thuẫn dẫn đến xung đột có thể điều hòa được. Trên cơ
sở hiểu xung đột dưới góc độ tâm lý học như vậy có thể đưa ra khái niệm.
Xung đột tâm lý là sự va chạm hay đấu tranh giữa những xu hướng tâm
15


lý khác nhau trong một cơ cấu thống nhất của những cá nhân khác nhau hay
trong bản thân một chủ thể.
Cùng với khái niệm này, vấn đề xung đột tâm lý giữa cha mẹ với con
tuổi thiếu niên có thể định nghĩa như sau:
Xung đột tâm lý giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên là sự đụng độ và va
chạm, xích mích thậm chí chống đối lại cha mẹ của thiếu niên do giữa cha mẹ
với con tuổi thiếu niên có sự khác biệt về định hướng giá trị, nhu cầu, sở thích,
tính cách, quan niệm sống. Xung đột này xảy ra nếu không được giải quyết tốt

XĐTL giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên là sự phản ánh mối quan
hệ thực giữa hai cá nhân khác biệt (cha mẹ và con tuổi thiếu niên - quan hệ
liên nhân cách). XĐTL giữa cha mẹ với con tuổi thiếu niên luôn vận động
và phát triển ở mức cao không điều hòa được, đòi hỏi phải giải quyết. Việc
giải quyết mâu thuẫn, xung đột sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất trong nhận
thức và thái độ của cha mẹ và thiếu niên và mâu thuẫn này được giải quyết
thì mâu thuẫn mới lại nảy sinh, từ đó bản thân mỗi cá nhân tham gia (cha
mẹ, con thiếu niên) đều không ngừng vận động và phát triển về mặt (nhận
thức – tình cảm – hành động). Mức độ và cách thức giải quyết XĐTL giữa
cha mẹ với con tuổi thiếu niên phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự trải
nghiệm của cha mẹ và con tuổi thiếu niên.
1.3.2. Cơ chế hình thành và giải quyết xung đột tâm lý
* Cơ chế hình thành
- Cơ chế chung: Đó là quá trình tương tác hay dồn nén. Nghĩa là sự tác
động giữa hai yếu tố (hai chủ thể) lẫn nhau. Nếu như hai yếu tố (hai chủ thể)
mà thống nhất, có cùng chung nhu cầu, định hướng giá trị, quan điểm sống sẽ
cùng giải tỏa và ngược lại nếu hai yếu tố (hai chủ thể) có những tác động khác
nhau sẽ dẫn đến dồn nén, sự khác nhau càng lớn thì sự dồn nén càng lớn.
Theo các nhà tâm lý học người Mỹ là Hay (1984) và Shantz (1987) còn gọi là
xung đột liên nhân cách là xung đột bắt đầu từ sự đối lập công khai giữa các
cá nhân kéo dài cho đến khi sự đối lập này chấm dứt. Có thể hiểu cơ chế của
xung đột tâm lý liên nhân cách như sau: Do sự khác nhau về nhu cầu cá nhân,
về sự hiểu biết, về định hướng giá trị và về quan điểm sống giữa các cá nhân
trong hoạt động cùng nhau đã tạo ra mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân.
17


Những mâu thuẫn này thoạt đầu có thể gây ra những tâm trạng khó chịu, bực
bội, vướng víu, khoảng cách riêng tư bị xâm phạm. Sự khó chịu bực bội này
tích tụ dẫn đến một thời điểm nào đó khi mâu thuẫn giữa các cá nhân trở nên

thiết thực đối với nghiên cứu về vấn đề xung đột tâm lý giữa cha mẹ với con
tuổi thiếu niên. Việc nắm được cơ chế của các hiện tượng xung đột sẽ giúp đề
tài nghiên cứu có cơ sở để lý giải đầy đủ và sâu sắc những kết quả nghiên cứu
đã tìm được trong quá trình triển khai.
1.3.3. Phân loại xung đột tâm lý
Xung đột rất đa dạng theo tính chất của nó và được phân chia theo
nhiều cách khác nhau. Nó có thể phân chia theo nguyên nhân mâu thuẫn
giữa sự cố gắng cho xã hội và tính ích kỷ, xung đột còn được phân chia
theo khối lượng, trào lưu chính trị xã hội, hậu quả của xung đột gây ra cho
cá nhân và tập thể…
- Căn cứ vào nội dung của xung đột
Các nhà tâm lý học Xô Viết khi nghiên cứu vấn đề này đã chọn tiêu
chuẩn cơ bản để phân loại là nội dung mâu thuẫn dẫn đến xung đột. Chẳng
hạn như Xmiêcnôp đã đưa ra cách phân loại theo nội dung của các mâu
thuẫn như sau:
+ Xung đột khi có cái mới và cái bảo thủ
+ Xung đột giữa lợi ích của nhóm với lợi ích chung khi người ta chỉ lo
đến quyền lợi của nhóm mà không đếm xỉa đến quyền lợi chung.
+ Xung đột gắn với tính ích kỷ cá nhân
+ Mâu thuẫn về quan điểm chính trị xã hội
+ Xung đột nhiều khi không có căn cứ xác đáng
- Căn cứ vào đối tượng gây ra xung đột chia làm hai loại:
+ Xung đột toàn bộ
Xung đột toàn bộ là loại xung đột động chạm đến mọi người trong tập
thể, lôi cuốn phần lớn tập thể vào xung đột hoặc có thể lôi cuốn từng cá nhân.
Xung đột có thể là do mâu thuẫn giữa người lãnh đạo mới, tiến bộ sáng tạo
với một tập thể lạc hậu, trì trệ, hoặc giữa một tập thể phát triển với người lãnh
đạo mà phẩm chất đạo đức, tâm lý truyền thống tốt đẹp của tập thể. Nó ảnh
hưởng đến bầu không khí tâm lý trong tập thể.
+Xung đột riêng: Là loại xung đột từng cặp, có thể là xung đột giữa các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status