DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Ý nghĩa Đơn vị
RTSX Rừng trồng sản xuất
RSX Rừng sản xuất
TN Thái nguyên
ĐHKH TN Đại học khoa học thái nguyên
KLTT Khối lượng thể tích gam/ cm³
LĐ Lập địa Cây/ ha
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
M Khối lượng
h giờ
σ
ed
Độ bền ép dọc thớ MPa
σ
kd
Độ bền kéo dọc thớ MPa
σ
ut
Độ bền uốn tĩnh MPa
Χ
Trị số trung bình cộng
S Độ lệch tiêu chuẩn %
S% Hệ số biến động %
P% Hệ số chính xác
Y
o
Khối lượng thể tích cơ bản gam/ cm³
Yt Tỷ lệ giãn nở mm
ĐHLNVN Đại học lâm nghiệp Việt Nam
i
Nghiên cứu ảnh hưởng của lập địa, đến chất lượng gỗ keo tai tượng
(Acacia manggium) 9 tuổi trồng tại huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang.
1
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về gỗ Keo tai tượng
* Đặc điểm [6]
Keo tai tượng (Acacia mangium Willd), tên đồng nghĩa
(Racospermamangium (Willd) Pedley (1987). Tên địa phương Brown
salwood, black wattle, hickory wattle (En). Tên phổ thông ở, Indonesia:
Tongke hutan, mangge hutan. Malaysia: Mangium. Thái lan: Krathin thepha.
Phân bố: Keo tai tượng được thấy ở đảo Sula, Seram, Aru, các tỉnh
miền tây của Papua New Guinia và miền Đông Bắc Quennland, đã được trồng
rải rác ở vùng Malesian, đặc biệt là ở Sabah và peninsula của Malaisia. Keo
tao tượng được nhập vào Việt Nam từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ
XIX và hiện nay được trồng ở hầu hết các tỉnh ở trong nước.
Đặc điểm nhận biết: Cây gỗ trung bình đến cây gỗ lớn, có cây cao đến
35m, chiều cao dưới tán cao tới 20m, đường kính có thể đạt đến 90cm. Bề mặt
vỏ gần gốc bị nứt, vỏ mầu nâu xám đến nâu đậm, lớp vỏ phía trong nâu nhạt.
Tán hình trứng hoặc hình tháp, thường phân cành thấp, cành nhỏ có cạnh nhẵn,
màu xanh lục. Trên cây mầm có lá kép lông chim 2 lần, cuống lá thường bẹt.
Cây trưởng thành có dạng, lá đơn, phiến lá hình trứng hoặc trái xoan
dài, đầu lá có mũ lồi tù, chiều dài của lá dài từ 15-25cm, chiều rộng từ 5-
10cm, khá dầy, 2 mặt lá xanh đậm, có 4 gân dọc song song nổi rõ. Hoa tự
hình bông dài gần bằng lá, mọc lẻ hoặc tập trung từ 2-4 hoa tự, ở nách lá, hoa
lưỡng tính, tràng hoa màu vàng, nhị nhiều vươn dài ra ngoài hoa. Quả đậu
xoắn, hạt hình trái xoan, màu đen, hơi dẹt.
Đặc tính sinh học và sinh thái học: Hầu hết các loài keo sinh trưởng
nhanh. Nhiều số liệu điều tra sinh trưởng của cây keo tai tượng cho thấy, Keo
tai tượng có thể đạt tăng trưởng đường kính hàng năm trung bình 5 cm và tăng
3
hướng vây quanh mạch hình cánh, đặc biệt với lỗ mạch nhỏ, mỗi dây tế bào
mô mềm dọc có 2-4 tế bào. Tia gỗ rộng 1-2-3 hàng tế bào, cao 0,2-,0,4mm, số
lượng 4-6-8 tia/mm, tia gỗ cấu tạo đồng nhất. Tinh thể hình lăng trụ có trong
ruột của các tế bào mô mềm xếp dọc thân cây. Gỗ không có silic, phát quang
khi có tia cực tím.
Tính chất: Gỗ keo tai tượng là loại gỗ lá rộng có khối lượng thể tích
trung bình, gỗ có hàm lượng Cululose chiếm tổng 78%, alpha Cululose chiếm
46,5%, lignin 27%, pentozan 14% và tro 0,2%, hàm lượng các chất tan trong
cồn Benzen 3,8%, trong nước nóng 3,3% và trong xút 13,4%.
Công dụng: Gỗ keo tai tượng được dùng trong xây dựng, đóng tàu,
làm nội thất và khung hộc, ván mỏng, ngoài ra còn là nguyên liệu rất tốt trong
sản xuất vàn dăm.
Gỗ keo tai tượng cho bột giấy tốt, có thể so sánh được với gỗ bạch
đàn. Ở Australia thí nghiệm nấu sunphát với dăm keo tai tượng rừng trồng 9
năm tuổi cho thấy chỉ cần lượng kiềm trung bình cho hiệu suất bột trên 50%.
Hiệu suất bột giấy thậm chí còn đạt cao hơn tới 75%, với quá trình nấu sun
phít trung tính nửa hóa học và bột giấy dễ tẩy trắng đạt đến độ trắng dùng cho
sản suất giấy chất lượng cao.
Triển vọng: Sử dụng gỗ Keo tai tượng trong sản xuất ván dăm và ván
sợi có thể tích trung bình (MDF) trong tương lai sẽ tăng và chất lượng ván
dăm đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất bột giấy và giấy. Hiện nay, vấn đề
mục lõi có thể được hạn chế bằng cách trồng xen loài, lựa chọn, nhân giống
hay lai giống. Mức độ mục lõi cao có thể là do mùa mưa ngắn.
1.2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu Keo tai tượng
Trong những năm 1980, các loài Keo Acacia đã được đưa vào thử
nghiệm ở nhiều nước vì khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất,
4
Theo tác giả R.M.H.J Lemmen, I.soerianegara and W.C. Wong
(1995). Đã xác định, mặc dù trong thành phần của gỗ keo tai tượng có chứa
nhiều chất màu, tanin, gỗ có màu sẫm v.v, song sợi gỗ của gỗ keo tai tượng
lại rất dễ tẩy trắng. Do đó gỗ keo tai tượng là nguồn nguyên liệu tốt cho công
nghiệp sản xuât giấy thông dụng. Vì gỗ keo tai tượng là loại gỗ có chiều dài
sợi không lớn (Chiều dài sợi từ 0,7-0,9mm) nên không thể sản xuất các loại
giấy có chất lượng cao. Hiện nay trên thế giới có nhiều nơi sử dụng gỗ keo tai
tượng để sản xuất giấy.
1.2.1.2. Nghiên cứu về lập địa, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và chất
lượng rừng trồng
Lập địa rừng trồng cũng là một trong những biện pháp, kỹ thuật lâm
sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi lập địa,
mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí
cây trồng khác nhau. Về vấn đề này đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu
với nhiều loài cây khác nhau trên các lập địa khác nhau, điển hình là các công
trình nghiên cứu của Julian Evans (1992) khi nghiên cứu mật độ và lập địa
trồng rừng cho Bạch đàn E. deglupta ở papua New Guinea đã bố trí theo các
lập địa. Số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của
các công thức thí nghiệm cũng có kết quả tăng khác nhau.
1.2.2. Ở Việt nam
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng keo tai tượng
Nghiên cứu loài keo tai tượng được bắt đầu năm 1980. Theo Nguyễn
Hoàng Nghĩa (1991), một số xuất xứ của 4 loài keo đã được đưa vào thử
nghiệm ở nước ta cho thấy, tiềm năng sinh trưởng đáng khích lệ, ở 2 điạ điểm
Ba Vì (Hà Nội), Hóa Thượng (Thái Nguyên), keo tai tượng sinh trưởng khá
nhất cả về chiều cao và đường kính.
6
Cuối năm 1980. Keo tai tượng đã trở thành loài được ưa chuộng nhất
ở nước ta. Vì bên cạnh, nó có khả năng sinh trưởng cao, còn có khả năng duy trì
độ phì nhiêu của đất, chống xói mòn. Nhìn chung ở Miền Nam lớn nhanh hơn ở
phù hợp với nguyên liệu sản xuất ván ghép thanh. Nhưng khi sản xuất ván
ghép thanh chỉ nên dùng để sản xuất ván lõi cho loại sản phẩm dạng ván ghép
thanh có phủ mặt. Tỷ lệ kết cấu theo phương chiều dày sản phẩm (R) hợp lý
giữa lớp mặt và lớp lõi khi sản xuất ván ghép thanh với ván lõi và keo tai
tượng, ván phủ mặt là ván mỏng từ gỗ trám trắng là R=24-35%.
- Theo tác giả Lê Xuân Tình (1993). Đã đưa ra nghiên cứu và đưa ra
cấu tạo và tính chất cơ lý của gỗ Keo tai tượng, từ đó ứng dụng loại keo này
vào sản xuất ván dăm.
- Tác giả Trần Ngọc Thiệp (1993). Đã tiến hành nghiên cứu sản xuất ván
mộc từ gỗ Keo tai tượng để thay thế chi tiết mộc. Kết quả tác giả đã kết luận gỗ
keo tai tượng hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu trong sản xuất đồ mộc dân dụng.
Bên cạnh đó cũng có nhiều tác giả ở Việt Nam đã tiến hành nghiên
cứu sử dụng gỗ keo tai tượng trong công nghệ sản xuất các loại ván nhân tạo
và mộc thông dụng.
Tuy nhiên, với những kết quả trên ta thấy, lập địa có ảnh hưởng như
thế nào đến chất lượng gỗ Keo tai tượng chưa được làm rõ. Vì vậy, việc tôi
tiến hành làm đề tài này là cần thiết.
1.2.2.2. Ảnh hưởng của lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng Keo
tai tượng
Điều kiện lập địa là sự sắp xếp không gian của một số lượng cây nhất
định trên một đơn vị diện tích. Rừng trồng gỗ nguyên liệu thì sản phẩm lấy ra
từ rừng chủ yếu là gỗ. Muốn có sản lượng gỗ cao, đảm bảo quy cách, phẩm
chất đáp ứng được yêu cầu và mục đích sử dụng thì điều kiện lập địa cần phải
phù hợp. Vì vậy, có thể nói điều kiện lập địa là một trong những biện pháp kỹ
thuật quan trọng trong trồng rừng.
8
Trên thực tế, rừng trồng nguyên liệu gỗ nhỏ ở Tuyên Quang hiện nay,
trồng ở nhiều lập địa khác nhau. Sự ảnh hưởng của các lập địa này đến chất
lượng gỗ Keo như thế nào và sử dụng gỗ ở những lập địa như thế nào, cho
đến nay chưa có công trình nào khẳng định chắc chắn. Chính vì vậy, để có cơ
những nhân tố hạn chế độ phì của đất.
- Để nghiên cứu sự ảnh hưởng của điều kiện sinh trưởng đến chất
lượng gỗ (tính chất cơ lý của gỗ) việc tách riêng sự ảnh hưởng của một nhân
tố nào đó để nghiên cứu thì khó có thể thực hiện được.
- Sự ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu đến tính chất cơ - lý của gỗ
cho phép giả định rằng: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu có liên
quan đến vùng phân bố đến các loài gỗ. Mức độ ảnh hưởng rõ ràng đối với
các loài gỗ có vùng phân bố rộng rãi (Thông rụng lá, Bạch dương), đối với
các loài phân bố hẹp yêu cầu điều kiện sinh trưởng cao hơn (Sồi, Bạch lạp) thì
ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu ít rõ ràng.
- Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đưa ra một kết
luận chung cho tất cả các loài cây. Đã có một số công trình nghiên cứu cho
từng loại gỗ riêng biệt. Những kết luận của các tác giả không phù hợp với
nhau, được giải thích như thế nào là điều kiện khó khăn, vì bản thân của
những công trình nghiên cứu đó cũng chưa được hoàn thiện. Tuy nhiên, đa số
những công trình nghiên cứu về loài gỗ lá kim (Thông), các loài gỗ lá rộng
(mạch xếp vòng: Sồi mạch phân tán, Thủy thanh cương, Sơn dương) đưa đến
kết luận sau đây. Ở đất tốt gỗ được hình thành có chất lượng tốt, song một số
công trình nghiên cứu khác cho biết, gỗ Thông sinh trưởng ở điều kiện trung
bình có tính chất gỗ cao nhất (điều kiện đất tốt và xấu đều gây lên làm giảm
chất lượng gỗ, song xu thế điều kiện đất tốt giảm ít hơn so với đất xấu), còn
đối với gỗ Sồi ở đất khô thì tính chất của gỗ tốt hơn.
10
Điều đó cho thấy, với từng loài gỗ khác nhau trong cùng một điều
kiện sinh trưởng sẽ cho chất lượng gỗ là khác nhau. Cùng một loài gỗ, được
trồng tại khu vực có điều kiện sinh trưởng khác nhau sẽ cho ta chất lượng gỗ
khác nhau. Cây có điều kiện sinh trưởng tốt sẽ phát triển nhanh hơn sẽ phát
triển nhanh hơn cây có điều kiện sỉnh trưởng không tốt, do đó cây sinh trưởng
tốt sẽ có chất lượng gỗ thường kém hơn.
Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của lập địa
sớm. Do đó, tỷ lệ gỗ muộn càng nhiều thì khối lượng thể tích càng lớn và
ngược lại.
- Vòng tăng trưởng hàng năm (vòng năm): Đối với cây gỗ lá rộng
mạch vòng, vòng tăng trưởng hàng năm càng lớn thì tỷ lệ gỗ muộn càng
nhiều, nên khối lượng thể tích càng cao. Đối với gỗ lá rộng mạch phân tán,
vòng năm rộng thì tỷ lệ gỗ sớm và gỗ muộn là một hằng số nên khối lượng
thể tích không thay đổi.
* Ảnh hưởng đến tỷ lệ co dãn của gỗ [21]
Cấu tạo gỗ là một nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ co dãn của gỗ, cấu tạo
gỗ là nhân tố gây ra sự chênh lệch về co dãn giữa chiều dọc và chiều ngang
thớ, gây sự chênh lệch giữa chiều tiếp tuyến và chiều xuyên tâm. Từ đó gây
lên hiện tượng gỗ bị cong vênh, nứt nẻ.
- Cấu trúc vách tế bào: Trong thân cây đại đa số các tế bào xếp theo
chiều dọc thân cây. Trong mỗi tế bào, vách thứ sinh chiếm phần chủ yếu.
Cách sắp xếp các mixen trong vách thứ sinh đặc biệt là lớp giữa của vách thứ
sinh, các mixen xếp song song với trụ dọc của tế bào. Mặt khác bản chất của
quá trình co dãn là sự thay đổi về khoảng cách giữa các mixen. Từ đó dẫn đến
co dãn theo chiều ngang thớ lớn hơn nhiều so với chiều dọc thớ gỗ.
- Tia gỗ: Do tia gỗ dẫn đến co dãn theo chiều tiếp tuyến lớn hơn 2 lần
so với chiều xuyên tâm. Các tế bào cấu tạo nên tia gỗ nằm vuông góc với trục
dọc thân cây, cùng chiều với các đường kính. như vây, với mỗi tia gỗ đại bộ
phận tế bào xếp xen theo chiều dọc tia gỗ. Trong mỗi tế bào mô mềm đại bộ
12
phận mixen sếp song song với trục tế bào. Do đó trong mỗi tia gỗ đại bộ phận
mixenxenlulo xếp song song với trục tia gỗ. Do vậy, khi co dãn sự thay đổi
theo chiều ngang tia gỗ lớn hơn nhiều so với chiều dọc tia gỗ, chiều ngang tia
gỗ là chiều tiếp tuyến của cây, chiều dọc tia gỗ là chiều xuyên tâm của cây.
* Ảnh hưởng đến sức hút nước của gỗ [21]
Gỗ hút nước nhanh hay chậm, nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào cấu tạo
gỗ. Gỗ có độ rỗng lớn khả năng hút nhanh, nhiều và ngược lại. Ngoài ra, gỗ hút
lá rộng do sợi gỗ đảm nhận. Nói chung đây là những tế bào vách dày có kích
thước bé nên có ruột rỗng rất nhỏ, có loại ruột hoàn toàn bị bịt kín. Do đó, nếu
tổ chức cơ học mà phát triển thì tính chất cơ lý của gỗ sẽ tăng lên đáng kể.
Tỷ lệ xenlulo và linhin: Xenlulo là thành phần chủ yếu của gỗ, chiếm
trung bình 50% thể tích gỗ, là phần tử chủ yếu sinh sản ra nội lực của gỗ. Nội lực
xenlulo tạo ra đều là những ứng lực lớn nhất (kéo dọc, nén dọc, uốn tĩnh). Linhin
là thành phần thứ hai cấu trúc nên vách tế bào, linhin có cấu trúc vô định hình
nên ứng lực nào do linhin tạo ra nội lực đều là những lực nhỏ nhất (ép ngang,
trượt dọc, trượt ngang, tách vv). trong cấu trúc vách tế bào, linhin là một chất
bám trên sườn xenlulo, vì vậy linhin tạo ra độ nhẵn của gỗ. Nói cách khác, gỗ
nào ở vị trí nào trong cây nếu hàm lượng linhin cao thì gỗ đó sức chịu ép cao.
1.3.2. Cơ sở đánh giá chất lượng của gỗ
1.3.2.1. Khối lượng thể tích của gỗ
Khối lượng thể tích là cơ sở hợp lý cho việc đánh giá giá trị của gỗ
trong lĩnh vực sử dụng khác nhau. Khối lượng thể tích có mối liên quan mật
thiết với các tích chất vật lý, cơ học khác của gỗ.
Khối lượng thể tích liên quan chặt chẽ đến sức co dãn của gỗ, theo các
chiều thớ khác nhau, ảnh hưởng của khối lượng thể tích là khác nhau.
Khối lượng thể tích là nhân tố quan trọng đối với khả năng truyền
nhiệt của gỗ, gỗ nặng có khả năng truyền nhiệt cao hơn gỗ nhẹ.
14
Khối lượng thể tích cũng ảnh hưởng tới độ cứng của gỗ, gỗ có khối
lượng thể tích càng lớn thì độ cứng càng cao đồng thời có khả năng chịu mài
mòn cao. Khối lượng thể tích của gỗ nặng hay nhẹ là do cấu tạo của gỗ quyết
định, do đó khối lượng thể tích có ảnh hưởng đến hầu hết các tính chất vât lý,
cơ học của gỗ. Gỗ có khối lượng thể tích thấp thì cường độ cơ học của gỗ
cũng thấp. Khối lượng thể tích là một nhân tố quan trọng trong việc sử dụng
nguyên liệu gỗ. Trong sản xuất ván dán, thích hợp nhất là sử dụng những loại
gỗ có khối lượng thể tích từ 0.4 - 0.6 g/cm³. Trong sản xuất giấy bột và giấy
thường sử dụng những loại gỗ có khối lượng thể tích nhỏ hơn 0.6 g/cm³.
nấu bột giấy, dịch nấu dễ dàng thẩm thấu vào gỗ. Tuy nhiên, trong sản xuất
ván nhân tạo, lượng keo dễ bị thấm sâu, nhiều, gây thiếu keo trên bề mặt dán
dính nếu điều chỉnh độ nhớt dính của keo không phù hợp.
1.3.2.4. Giới hạn bền khi nén (ép)
Gỗ chịu nén dọc thớ: Khi gỗ chịu nén dọc thớ, trong gỗ sản sinh ra nội lực
chống lại keo theo chiều dọc thớ. Do đại bộ phận các tế bào sắp xếp song song với
trục dọc thân cây nên khi có lực tác động theo chiều dọc thì các bó
mixenxenluloza sản sinh ra nội lực chống lại tác động đó. Khả năng liên kết giữa
các mixenxenluloza bởi linhin và lớp keo màng giữa các tế bào làm cho các
mixenxenluloza ổn định vị trí khi chịu lực. Sức hút tương hỗ giữa các phần tử cấu
tạo nên gỗ, tạo cho nó một khối vững chắc và chính nó tạo ra ứng lực cho gỗ. [21]
Gỗ chịu nén ngang thớ: Trong một giới hạn nhất định, khi chịu nén ngang
thớ gỗ biến dạng đàn hồi, trong giới hạn đó sức hút và sức đẩy tương hỗ giữa các
mixenxenluloza cân bằng nhau, làm cho khối gỗ vững chắc theo phương nằm
ngang. Gỗ được cấu tạo bởi các tế bào hình ống, rỗng ruột nên khi lực bên ngoài
vượt quá giới hạn đàn hồi (chủ yếu là phía đầu các tế bào) làm cho các tế bào
(trước hết là tế bào mạch gỗ, tế bào mô mềm, quản bảo gỗ sớm) bị phá hoại.
16
Giới hạn bền khi nén ngang thớ toàn bộ liên quan chặt chẽ đến tỷ suất
nén trong sản xuất ván nhân tạo (đặc biệt là sản xuất ván dán), nếu giới hạn
bền khi nén ngang thớ toàn bộ nhỏ thì tỷ suất nén sẽ lớn, tiêu tốn nhiều
nguyên liệu trong khâu ép ván.
1.3.2.5. Giới hạn bền khi uốn tĩnh
Giới hạn bền khi uốn tĩnh là một trong hai chỉ tiêu cơ học quan trọng
để đánh giá cường độ của gỗ.
Modul đàn hồi uốn tĩnh cũng đánh giá khả năng chống lại tác dụng
của ngoại lực đối với gỗ. [21]
Từ các giá trị về giới hạn bền khi uốn tĩnh và modul đàn hồi uốn tĩnh
của gỗ, ta có thể lấy đó làm cơ sở cho việc tính toán và chọn kết cấu cho phù
hợp trong việc sử dụng gỗ làm dầm, ván vv, cũng như việc lựa chọn phươngg
Chiêm Hóa là huyện miền núi nên có địa hình nhiều dãy núi cao như:
Khau Bươn, núi quạt Phia Gioòng, Chạm Chu vv, giữa các vùng đồi núi là
những thung lung sâu, đất đai màu mỡ. Sông suối có độ dốc cao, độ cao phổ
biến từ 200 - 600m và giảm dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 25ºC.
* Khí hậu
Theo số liệu của trung tâm khí tượng thủy văn huyện Chiêm Hóa, tỉnh
Tuyên
18
Quang. Chiêm Hóa thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa rõ rệt.
- Mùa mưa: Trung bình từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, số lượng ngày
mưa trung bình trong năm 120 ngày đến 160 ngày trong năm, lượng mưa trung
bình năm đạt 1500 - 1700mm và tập trung chủ yếu vào tháng 7, tháng 8 hàng năm.
- Mùa khô: Từ tháng 11 trong năm đến tháng 3 năm sau, khí hậu hanh,
có sương mù vào tháng 1, tháng 2 năm sau.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân trong năm từ 22 - 24ºC. Nhiệt độ tối
cao hàng tháng trung bình 25ºC, Nhiệt độ tối thấp hàng tháng trung bình
12ºC. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 8 (37ºC), Tháng có ngày nhiệt độ
thấp nhất là tháng 2 (5ºC). Số ngày nắng trung bình tháng từ 12 - 17ngày/
tháng. Tổng ngày nắng trong năm 155 ngày/ năm. Độ ẩm không khí bình
quân từ 65% - 85%. Chế độ gió, chủ yếu là gió mùa Đông Bắc và gió Đông
Nam, lưu lượng gió thổi từ 2m/giây đến 4m/giây. Hàng năm có sương muối
từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau.
* Thủy Văn
Huyện Chiêm Hóa có hệ thống sông suối chính chảy qua: Sông Gâm
bắt nguồn từ huyện Nà Hang chảy theo hướng bắc nam qua các xã Yên Lập,
Hùng Mỹ, Ngọc Hội, Vĩnh Lộc, Trung Hòa, Hòa An, Vinh Quang, Nhân Lý,
Bình Nhân chảy vào huyện Yên Sơn xuôi về thành phố Tuyên Quang. Ngoài
ra còn có hệ thống suối lớn bắt nguồn từ các khe núi, đồi đổ ra Sông Gâm,
trong đó: Suối Na Héc bắt nguồn từ xã Trung Hà, Tân Mỹ chảy theo hướng
Bắc - Nam qua các xã Hùng Mỹ, Xuân Quang Vĩnh Lộc và đổ vào Sông
% tổng số lao động, lao động phi nông nghiệp chiếm 22,55% tổng số lao
động. Qua số liệu thống kê hàng năm năm 2011 của huyện cho thấy, người
lao động chỉ sử dụng khoảng 70% quỹ thời gian lao động do thiếu việc làm,
có khoảng 10- 15% lao động thường xuyên không có việc làm và khoảng
40% lao động nông nghiệp không có việc làm khi kết thúc thời vụ mùa màng.
20
- Kinh tế: Theo Báo cáo năm 2011 của huyện Chiêm Hóa, tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm đạt 11,75%
+ Nông nghiệp: Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp đạt
được tốc độ tăng trưởng ổn định từ 1,6%, giải quyết được nhu cầu lương thực,
thực phẩm của nhân dân. Năm 2011 giá trị kinh tế ngành trồng trọt đạt 77.600
tấn, nâng cao năng suất 62.2 tạ/ha. trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Có
được những kết quả như trên là nhờ huyện Chiêm Hóa đã có những biện pháp
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất, tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
+ Lâm nghiệp và hiện trạng tài nguyên rừng: Tình hình sản xuất lâm
nghiệp của huyện trong những năm gần đây đã có những bước phát triển rất
lớn. Người dân đã được phần nào nhận thức vai trò, lợi ích của rừng trong
việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội. Do đó, ngày càng có
nhiều hoạt động tích cực hơn trong công tác gây trồng và bảo vệ rừng. Chính
vì vậy, diện tích rừng ngày càng tăng lên, diện tích đất trống đồi núi trọc được
thu hẹp lại, chất lượng rừng cũng được tăng lên. Năm 2011 rừng được trồng
mới thêm 5.450 ha, nâng độ che phủ của rừng lên trên 70% và khai thác gỗ
rừng trồng 141.000 m3, khai thác tre nứa 21.500 tấn.
Theo Theo Báo cáo năm 2011 của huyện Chiêm Hóa. Đất đai ở các xã
vùng cao của Chiêm Hoá phù hợp với việc khoanh nuôi rừng tự nhiên và
trồng rừng, phát triển kinh tế lâm - nông nghiệp, còn các xã phía Nam của
Chiêm Hoá có độ dốc phổ biến 10 - 25
0
, thích hợp trồng cây công nghiệp dài
các xã trên địa bàn toàn huyện. Hơn 90% dân số sắm được tivi để xem đài
truyền hình, 75% dân số có đài nghe phát thanh. 100% các xã có điện thoại và
có trạm bưu điện để liên lạc và giao dịch. Toàn huyện có 5 trạm sóng viễn
thông, có 50 trạm sóng BTS, 4.000 thuê bao điện thoại cố định, hơn 300 km
đường dây cáp quang, 1.500 thuê bao internet tốc độ cao, 1.000 thuê bao
22