ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––– NINH VIẾT SƠN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN LẬP ĐỊA
ĐẾN CHẤT LƢỢNG GỖ KEO LAI (ACACIA HIBRDS)
Ở GIAI ĐOẠN THÀNH THỤC CÔNG NGHỆ
TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN THÁI
học, các thầy giáo, cô giáo thuộc khoa Lâm Nghiệp - trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên . Nhân dịp này , tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giú p
đỡ quý bá u đó .
Trướ c hế t, tác giả xin dành tình cảm chân thành của mình tới thầy giáo ,
TS. Nguyễn Văn Thái - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn và
truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ, nhân viên Chi cục Kiểm lâm
Thái Nguyên - nơi tác giả trực tiếp công tác và làm việc, UBND huyện
Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong
suốt quá trình học tập và triển khai thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ
đề tài luận văn.
Cuố i cù ng, tác giả xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp
đỡ của người thân trong gia đình và các bạn bè, đồng nghiệp trong suốt thời
gian học tập và thực hiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 2012
Tác giả Ninh Viết Sơn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu 31
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu 31
3.3. Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu 32
3.3.1. Các chỉ tiêu xác định tính chất của gỗ Keo lai 32
3.3.2. Nội dung nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến
tính chất gỗ Keo lai 32
3.4. Phương pháp nghiên cứu 33
3.4.1. Phương pháp luận 33
3.4.2. Phương pháp kế thừa số liệu 33
3.4.3. Phương pháp thí nghiệm 33
3.4.4. Phương pháp tổng hợp kết quả và xử lý thống kê toán học 38
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1. Sự ảnh hưởng của điều kiện lập địa trồng rừng đến chất lượng gỗ 41
4.1.1. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa trồng rừng đến tính hút nước tối
đa của gỗ 41
4.1.2. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa trồng rừng đến khối lượng thể
tích gỗ 43
v
4.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa trồng rừng đến tỷ lệ dãn nở gỗ 45
4.1.4. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến độ bền kéo dọc thớ gỗ 47
4.1.5. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến độ bền ép (nén) dọc thớ gỗ 50
4.1.6. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa trồng rừng đến độ bền uốn
tĩnh gỗ 52
4.2. Đánh giá chất lượng gỗ keo lai 8 tuổi ở 3 vị trí lập địa nghiên cứu 55
4.2.1. Đánh giá chất lượng gỗ dựa vào tính chất vật lý của gỗ 55
4.2.3. Đánh giá chất lượng gỗ dựa vào tính chất cơ học của gỗ 58
KẾT LẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1. Kết luận 62
x
Trị số trung bình cộng
S
Độ lệch tiêu chuẩn
S%
Hệ số biến động
%
P%
Hệ số chính xác
%
kd
Độ bền kéo dọc thớ
MPa
nd
Độ bền nén dọc thớ
MPa
ut
Độ bền uốn tĩnh
MPa
MC
Độ ẩm
%
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Mẫu kiểm tra tính hút nước tối đa, tỷ lệ dãn nở và khối lượng
thể tích gỗ 41
Hình 4.2. Biểu đồ so sánh tính hút nước của gỗ ở các vị trí lập địa
khác nhau 43
Hình 4.3. Biểu đồ so sánh khối lượng thể tích của gỗ Keo lai ở các vị trí
lập địa khác nhau 45
Hình 4.4 Biểu đồ so sánh tỷ lệ dãn nở của gỗ ở các vị trí lập địa khác nhau 47
Hình 4.5. Mẫu thí nghiệm kiểm tra độ bền kéo dọc thớ gỗ 48
Hình 4.6. Biểu đồ so sánh độ bền kéo dọc thớ của gỗ ở các vị trí lập địa
khác nhau 49
Hình 4.7. Biểu đồ so sánh độ bền ép dọc thớ của gỗ ở vị trí lập địa
khác nhau 51
Hình 4.8. Mẫu thí nghiệm kiểm tra độ bền uốn tĩnh gỗ 52
Hình 4.9. Biểu đồ so sánh độ bền uốn tĩnh của gỗ ở vị trí lập địa khác nhau 53 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây việc sử dụng gỗ rừng trồng thay thế cho gỗ
tự nhiên ngày càng được quan tâm. Thực hiện Chỉ thị số 19/1999/CT-TTg
của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/7/1999 về việc thực hiện các biện pháp đẩy
mạnh tiêu thụ gỗ rừng trồng; Chỉ thị số 19/2004/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ngày 01/6/2004 về một số giải pháp phát triển ngành chế biến gỗ
và xuất khẩu sản phẩm gỗ và Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ngày 05/2/2007 về chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai
mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh để nâng cao năng
suất và chất lượng rừng trồng. Một trong những loài cây nguyên liệu có khả
năng sinh trưởng nhanh được đề cập đến đó là cây Keo lai (Acacia hybrids).
Cây Keo lai là 1 trong 48 loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được
Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận tại Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN
ngày 15/03/2005. Keo lai không chỉ là giống có ưu thế sinh trưởng nhanh,
biên độ sinh thái rộng, có khả năng thích ứng với nhiều loại đất mà còn có
khả năng cải tạo đất, cải thiện môi trường sinh thái. Gỗ Keo lai được sử dụng
làm ván sàn, ván dăm, trụ mỏ và đặc biệt hơn cả là được sử dụng nhiều trong
công nghiệp giấy. Keo lai có khối lượng gỗ lấy ra lớn gấp 2-3 lần Keo tai
tượng và Keo lá tràm, hàm lượng xenluylô trong gỗ cao, lượng lignin thấp, do
đó có hiệu suất bột giấy lớn, chất lượng bột giấy tốt.
Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện lập địa tới chất lượng gỗ Keo lai,
qua đó làm cơ sở đánh giá chất lượng của loại gỗ này, từ đó có thể thay thế
cho một số loại gỗ tự nhiên khác để làm nguyên liệu cho các sản phẩm mà
vẫn giữ được hình thức, chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, hạ
giá thành sản phẩm…Bên cạnh đó, việc nghiên cứu cơ bản cấu tạo, tính chất
cơ, lý, hóa của gỗ Keo lai để làm cơ sở khoa học cho việc định hướng sử dụng
đối với loài cây này một cách tổng hợp có hiệu quả. Từ đó có thể mở rộng qui
mô phát triển, gây trồng đối với cây gỗ Keo lai, nâng cao vai trò của rừng
3
trong việc cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và các
ngành khác vừa là yêu cầu cấp bách khoa học, vừa là yêu cầu của thực tiễn
sản xuất.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về cây Keo lai về sinh trưởng và chất
lượng gỗ như: nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, độ tuổi,…Tuy nhiên cho tới
nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của lập địa đến
chất lượng gỗ (tính chất vật lý, cơ học của gỗ). Do đó việc sử dụng gỗ Keo lai
chưa đạt hiệu quả cao trong lĩnh vực sản xuất chế biến đặc biệt là nguyên liệu
trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn (Lê
Đình Khả, 2006) [31].
Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát
hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội với
bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới
cành lớn (Lê Đình Khả, 2006). Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể
đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988); Gan.E và Sim Boom Liang
(1991) các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn
5
Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của
Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở
lá thứ 8-9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5-6. Bên cạnh đó là sự
phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ
phận sinh sản (Bowen, 1981) [44].
Theo nghiên cứu của Rufeld (1987) [49], thì không tìm thấy một sự sai
khác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ. Các tính trạng của chúng
đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật
sự. Tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân,
có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo tai
tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém
hơn Keo tai tượng. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Pinso Cyril và
Robert Nasi, (1991) [47] thì trong nhiều trường hợp cây Keo lai có xuất xứ ở
Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng. Về ưu thế lai thì có thể
có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 02 yếu tố di truyền
lẫn điều kiện lập địa. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo lai
tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đồng
đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng. Khi đánh giá về các
chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai, Pinso và Nasi (1991) [47] thấy rằng độ
thẳng của thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân,…đều tốt hơn
đã cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-
20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt
đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30m3/ha/năm. Kết quả này lại một lần
nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng
khác nhau. Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng
trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và
đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng
suất và chất lượng của rừng trồng.
7
1.1.4. Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng rừng trồng
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ
thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở
những nơi đất xấu. Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt
đầu từ những năm 1950. Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân
đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan. Đến năm
1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (Ngô
Đình Quế, 2004) [38]. Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới
quan tâm và đi sâu nghiên cứu, điển hình là công trình nghiên cứu của Mello
(1976) [46] ở Brazin, tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá
tốt ở công thức không bón phân, nhưng nếu bón phân NPK thì năng suất rừng
trồng có thể tăng lên trên 50%. Một nghiên cứu khác của Schonau (1985) [51]
ở South Africa về vấn đề bón phân cho Bạch đàn Eucalyptus grandis đã kết
luận công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N:P:K = 3:2:1 có thể nâng chiều
cao trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất.
Tại Colombia, Bolstand và cộng sự (1988) [45] cũng đã tìm thấy một
vài loại phân có phản ứng tích cực đối với rừng trồng Thông P. caribeae, đó
là Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium. Tại Cu Ba, cũng với đối
tượng là rừng Thông P. caribeae, khi nghiên cứu các công thức bón phân cho
đối tượng này Herrero và cộng sự (1988) [54] đã kết luận bón phân Phosphate
trồng mật độ thấp (750 cây/ha - 1.075 cây/ha) có đường kính trung bình đạt từ
20,1 - 20,9cm, số cây đạt đường kính (D1.3) > 10cm chiếm từ 84% - 86%; Ở
công thức mật độ cao đường kính chỉ đạt từ 16,6 - 17,8cm, số cây có đường
kính (D1.3) > 10cm chỉ chiếm từ 71% - 76%. Từ các kết quả nghiên cứu trên
cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ
kinh doanh, vì vậy cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác
định mật độ trồng cho thích hợp.
9
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Cây Keo lá tràm và Keo tai tượng được nhập vào nước ta từ những
năm 1960 nhưng mãi đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước, giống Keo lai
mới được phát hiện và tập trung nghiên cứu từ các khâu chọn tạo giống cho
đến trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu điển hình sau:
1.2.1. Đặc điểm cây Keo lai (A. Hybrids)
Ở Việt Nam, cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn
và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) phát
hiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992.
Tiếp theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến
hành nghiên cứu về cải thiện giống cây Keo lai, đồng thời đưa vào khảo
nghiệm một số giống Keo lai có năng suất cao tại Ba Vì (Hà Tây cũ) được ký
hiệu là BV; Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng chọn lọc một số
dòng được ký hiệu là KL.
Lê Đình Khả và các cộng sự (1993, 1995, 1997, 2006) [31, 32, 33, 34]
khi nghiên cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của Keo lai đã kết luận
Keo lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài bố
mẹ. Keo lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm,
điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4,5 năm tuổi ở Ba Vì (Hà Tây
cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 - 1,6 lần về
chiều cao và từ 1,3 - 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích. Tại Sông
thức bón phân khác nhau. Kết quả là công thức bón phân phối hợp 2kg phân
chuồng với 100gam phân Themophotphat cho 1 gốc cây thì cho sinh trưởng
tốt nhất, tiếp theo là công thức bón 1 kg phân chuồng với 100 gam
Themophotphat cho 1 gốc cây. Sinh trưởng của Keo lai ở 2 công thức này sau
3 năm trồng có thể tích vượt trội so với công thức đối chứng là 78,7 - 45,3%.
11
Trong một nghiên cứu khác với 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Keo lai từ 1,5
- 5,5 năm tuổi ở 5 tỉnh khác nhau, Nguyễn Đức Minh và cộng sự (2004) [37]
đã chỉ ra rằng rừng trồng được bón phân tốt hơn rừng trồng không được bón
phân mặc dù Keo lai là cây cố định đạm. Tuy nhiên, ở giai đoạn rừng non
cũng cần bón một lượng phân nhất định để thúc đẩy quá trình sinh trưởng.
Ngoài ra, tác giả còn cho thấy rừng trồng Keo lai được bón lót 100g NPK/cây
và bón thúc 100g NPK/cây vào năm thứ 2 cho lượng tăng trưởng cao hơn
rừng chỉ bón lót khi trồng. Đặc biệt hơn cả là công trình nghiên cứu bón phân
cho Bạch đàn Urophylla ở Đại Lải - Vĩnh Phúc của Nguyễn Huy Sơn (2006)
[40] với 8 công thức thí nghiệm bón lót khác nhau và bón thúc năm thứ 2 vào
đầu mùa mưa lặp lại như khi bón lót. Xử lý thực bì và làm đất toàn diện bằng
cơ giới, cày toàn diện sâu 25cm, cày rạch hàng sâu 40cm. Sau 6 tháng trồng
kết quả thu được cho thấy tỷ lệ sống ở các công thức thí nghiệm đều cao
(>98%); Sau 30 tháng tuổi tỷ lệ sống vẫn đạt từ 97,22 - 98,15%. Khả năng
sinh trưởng của Bạch đàn Urophylla khá nhanh và khác nhau rõ rệt giữa các
công thức thí nghiệm cả về đường kính lẫn chiều cao, sau 6 tháng tuổi đường
kính gốc đạt từ 2,54 - 3,14cm và chiều cao đạt từ 1,87 - 2,06m; sau 30 tháng
tuổi, đường kính ngang ngực (D1.3m) đạt từ 6,32 - 7,23cm và chiều cao (H)
đạt từ 8,21 - 9,66m. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công thức bón phân tốt nhất
thuộc về các công thức có mặt đồng thời cả phân NPK, vi sinh và vôi bột. Cụ
thể đối với nghiên cứu trên thì khi bón lót và bón thúc vào năm thứ 2 tốt nhất
là ở công thức 100g NPK (5:10:3) + 200g vi sinh + 100g vôi bột, tiếp theo là
công thức 100g NPK (5:10:3) + 400g vi sinh + 50g vôi bột.
nhỏ nên trồng với mật độ 1.111 cây/ha.
Tại một nghiên cứu khác của Nguyễn Huy Sơn (2006) [40] về xác định
mật độ trồng Keo lai thích hợp trên đất feralit phát triển trên phiến thạch sét ở
Quảng Trị. Các thí nghiệm được bố trí với 3 công thức mật độ khác nhau
(1.330 cây/ha, 1.660 cây/ha, 2.500 cây/ha). Kết quả phân tích cho thấy sau 1
năm trồng tỷ lệ sống khá cao, đạt từ 98,15 - 100%, sau 2 năm tỷ lệ sống ở các
công thức thí nghiệm có giảm nhưng vẫn đạt từ 91,67 - 93,52%. Kết quả
13
nghiên cứu cho thấy khả năng sinh trưởng tốt nhất ở công thức mật độ
1.660cây/ha và kém nhất ở công thức mật độ 2.500 cây/ha
1.2.4. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của
rừng trồng
Nghiên cứu điều kiện lập địa tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa khả
năng sinh trưởng của thực vật rừng với các yếu tố của môi trường thông qua
khí hậu, địa hình, đất đai. Xác định lập địa nghĩa là tìm hiểu các yếu tố ngoại
cảnh ảnh hưởng và quyết định tới sự hình thành các kiểu quần thể thực vật
khác nhau và năng suất sinh trưởng của chúng (Ngô Quang Đê và cộng sự,
2001) [28].
Đề cập đến vấn đề này, tại Việt Nam đã có khá nhiều các công trình
nghiên cứu, điển hình là các công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng
sự (1994) [41], khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông
Nam Bộ, các tác giả đã căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau đó là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp
của cây trồng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam Bộ có tiềm
năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát
triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%, đặc biệt là các loài cây cung
cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài Bạch đàn và Keo.
Khi nghiên cứu phương pháp đánh giá về sản lượng rừng trồng Keo lai
ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và Hồ Văn Phúc (2004) [12] đã chỉ ra
biển, hướng dốc khác nhau, dẫn đến điều kiện ánh sáng khác nhau [11].
- Nhiệt độ là điều kiện tất yếu để cây rừng tiến hành các quá trình sinh
lý, nhiệt độ cao thấp, thời gian dài ngắn quyết định thời kỳ sinh trưởng và tình
hình phát triển thực vật, vì vậy có ảnh hưởng quyết định đến sản lượng và
chất lượng rừng. Cùng trong một điều kiện ánh sáng, tình hình nhiệt độ nơi
trồng rừng có thể khác nhau, đặc biệt là miền núi, trong một phạm vi hẹp,
nhiệt độ có thể thay đổi rõ rệt do khác nhau về độ cao với mặt biển, hướng
dốc, vị trí của dốc [11].
15
- Nước có vai trò quyết định trong đời sống cây trồng, nhờ có nước
thực vật mới hấp thụ được các chất dinh dưỡng, mới duy trì được nhiệt độ cơ
thể…. ở vùng núi, nước trong đất không chỉ thay đổi do đặc điểm của đất mà
còn thay đổi do địa hình (độ cao so với mặt nước biển, độ dốc, hướng dốc, vị
trí của dốc) [11].
- Độ phì của đất cao hay thấp là do hai nhân tố quyết định: dung lượng
và chất lượng các chất khoáng có trong đất. Dung lượng là chỉ độ dày của đất,
mức độ các chất khác lẫn trong đất. Chất lượng là hàm lượng và thành phần
chất khoáng có trong một đơn vị thể tích của đất nhiều hay ít. Vùng đồi núi
trọc ở nước ta, lớp đất mặt thường mỏng, tỷ lệ đá lẫn lớn, thường là những
nhân tố hạn chế độ phì của đất
Để nghiên cứu sự ảnh hưởng của điều kiện sinh trưởng đến chất lượng
gỗ (tính chất cơ - lý của gỗ) việc tách riêng sự ảnh hưởng của một nhân tố nào
đó để nghiên cứu thì khó có thể thực hiện được
Sự ảnh hưởng của các nhân tố khi hậu đến tính chất cơ - lý của gỗ cho
phép giả định rằng: mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu có liên quan
đến vùng phân bố đến các loài gỗ. Mức độ ảnh hưởng rõ ràng đối với các loài
gỗ có vùng phân bố rộng rãi (thông, thông rụng lá, bạch dương); đối với các
loài gỗ vùng phân bố hẹp yêu cầu điều kiện sinh trưởng cao hơn (sồi, bạch
lạp) thì ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu ít rõ ràng
đổi về tính chất (cơ học, vật lý) trong cùng một thân cây: biến đổi theo chiều
cao của gỗ, biến đổi theo đường kính của gỗ. Do vậy với đường kính gỗ khác
nhau, chiều cao khác nhau của gỗ sẽ làm cho gỗ có sự khác nhau về chất
lượng của gỗ.
Trong đề tài chúng tôi tiến hành phân tích sự ảnh hưởng của điều kiện lập
địa đến chất lượng gỗ Keo lai 8 tuổi tại 3 vị trí lập địa là: Chân, Sườn và Đỉnh.