1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trên thế giới nhu cầu sử dụng gỗ cho công nghiệp khoảng 1,5
tỷ mét khối mỗi năm (trích dẫn bởi Phạm Xuân Hoàn)[3]. Tuy nhiên do diện
tích và chất lượng rừng tự nhiên ngày một giảm nên một số quốc gia, trong đó
có nước ta đã giảm khai thác rừng tự nhiên, thay thế dần gỗ rừng tự nhiên
bằng gỗ rừng trồng. Trên thế giới xu hướng tiêu thụ gỗ rừng trồng, bảo vệ
rừng tự nhiên ngày càng được khẳng định rõ nét với việc quy định cấp chứng
chỉ rừng, quy định tiêu thụ sản phẩm gỗ thân thiện với môi trường. Do đó đẩy
mạnh việc trồng rừng bằng các loài cây mọc nhanh là tất yếu. Dự án trồng
mới 5 triệu ha rừng đã đạt ra mục tiêu trồng mới 2 triệu ha rừng sản xuất,
trong đó có 1,4 triệu ha rừng nguyên liệu. Keo lai là một trong những loài cây
được chọn để đáp ứng nhu cầu này vì có nhiều ưu thế trong trồng rừng
nguyên liệu, là cây ưa sáng mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói
mòn, có thể sinh trưởng tốt trên nhiều loại đất, thậm chí trên các loại đất xấu.
Mức tăng trưởng một số dòng Keo lai hiện nay có thể đạt 30 - 35 m
3
/ha/năm
và có thể khai thác sau 6 đến 7 năm trồng với năng suất đạt 200 -250 m
3
/ha .
Hiện tại trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã có 4 nhà máy chế biến gỗ rừng
trồng với công suất khoảng 6.000.000 m
3
gỗ các loại. Sản lượng gỗ như vậy
tương đương với việc khai thác khoảng 30.000 ha Keo lai mỗi năm. Đây là
nhu cầu vô cùng lớn đối với việc trồng rừng nguyên liệu của tỉnh Bình Phước.
Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra mục tiêu trồng 30.000 ha cây Keo lai,
để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Do đó trong thời gian tới
tỉnh Bình Phước.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lập địa đối với sinh trưởng của
rừng trồng
1.1.1. Trên thế giới
1.1.1.1. Lập địa và phân chia lập địa
Có khá nhiều khái niệm về lập địa nhưng về bản chất thì “Lập địa là
một phạm vi lãnh thổ nhất định với tất cả những yếu tố của ngọai cảnh, ảnh
hưởng tới sinh trưởng của cây cối”. Lập địa theo nghĩa hẹp bao gồm 3 thành
phần là: khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng; lập địa theo nghĩa rộng hơn bao
gồm 4 thành phần là: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và thế giới động thực
vật [15].
Pogrebnhiac đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định
các kiểu rừng dựa trên hai chỉ tiêu chính là độ phì và độ ẩm của đất. Độ phì
được chia làm 4 cấp: rất xấu (A), xấu (B), trung bình (C), tốt (D). Độ ẩm đất
được chia làm 6 cấp: rất khô (0), khô (1), ẩm vừa (2), ẩm (3), ướt (4), lầy (5).
Các kiểu lập địa được tổng hợp từ hai chỉ tiêu trên như bảng sau:
Bảng 1.1 Các kiểu lập địa theo phân chia của Pogrebnhiac
Độ phì
Độ ẩm
0
1
2
3
(Đỗ Đình Sâm và ctv, 2005) [15] 4
1.1.1.2. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đối với sinh trưởng của rừng trồng
Tổng kết các nghiên cứu ở các nước nhiệt đới Tổ chức nông lương
quốc tế (FAO, 1994), khẳng định khả năng sinh trưởng của rừng trồng phụ
thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là khí
hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì (Trích dẫn bởi Trần Thị Duyên,
2008) [1].
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài thông Pinus.Patula ở
Swaziland, Evan (1992) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao
của loài cây này có quan hệ khá chặt với các yếu tố địa hình và đất thông qua
phương trình tương quan sau:
Y= -18,75 + 0,0544x
3
– 0,000022x
2
3
+ 0,0185x
4
+ 0,0449x
5
+ 0,5346x
11
(1.1)
Phương trình có hệ số xác định R = 0.81, trong đó:
Y là chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m).
X
hình thành các kiểu rừng khác nhau nên đã đề xuất tiêu chí mức độ khô hạn
mùa khô cùng mức độ thoát nước để xác định các nhóm lập địa ở Việt nam.
Mức độ khô hạn được chia làm 4 cấp: rất khô, khô, ẩm và ẩm thường xuyên
dựa trên chế độ nhiệt ẩm, đai cao so với mặt nước biển, đặc điểm đất, địa
hình. Các nhóm lập địa đất rừng chính ở Việt Nam theo tác giả phân chia là:
- Nhóm lập địa thoát nước mạnh, rất khô hạn
- Nhóm lập địa thoát nước mạnh, khô hạn mùa khô;
- Nhóm lập địa thoát nước mạnh, ẩm thường xuyên;
- Nhóm lập địa thoát nước, rất khô hạn
- Nhóm lập địa thoát nước, khô hạn;
- Nhóm lập địa thoát nước, ẩm thường xuyên;
- Nhóm lập địa thoát nước không tốt, rất khô hạn
- Nhóm lập địa thoát nước không tốt, ẩm;
- Nhóm lập địa thoát nước yếu, ẩm;
- Nhóm lập địa thoát nước yếu, khô hạn
Từ 1991 đến 1995 đề tài cấp nhà nước “Đánh giá tiềm năng sản xuất
đất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa”, Đỗ Đình Sâm và
cộng sự [15] đã xác định hệ thống tiêu chuẩn phân chia dạng lập địa và đề
xuất 3 nhóm yếu tố tham gia phân chia lập địa như sau:
- Nhóm yếu tố thổ nhưỡng: gồm 3 yếu tố là nhóm và loại đất, thành
phần cơ giới và độ dày tầng đất.
6
- Nhóm yếu tố địa hình: gồm 2 yếu tố là vị trí và độ dốc. Vị trí được
phân theo 3 cấp là chân, sườn, đỉnh. Độ dốc được phân chia tùy theo điều
kiện cụ thể.
- Nhóm yếu tố chế độ thoát nước và ngập nước: gồm 2 yếu tố là chế độ
thoát nước và chế độ ngập nước. Chế độ thoát nước có 4 cấp đánh giá là thoát
nước mạnh, thoát nước trung bình, thoát nước yếu và thoát nước rất yếu. Đối
với yếu tố chế độ ngập nước thì các cấp phân chia phụ thuộc vào đối tượng và
/cây/năm).
DD: Độ dày tầng đất (cm).
Pdt: Lân dễ tiêu (ppm).
OM: Mùn tổng số (%).
Khi nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để đề xuất
hướng sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Đồng Phú, tỉnh Bình
Phước ,Trần Quốc Hoàn (2007) [2] đã đưa ra yêu cầu sử dụng đất và mức độ
thích hợp của một số loại cây trồng như bảng 1.2.
Bảng 1.2: Yêu cầu sử dụng đất và khả năng thích hợp
của các loại hình sử dụng đất.
LUT
Yếu tố chẩn đoán
Phân cấp thích nghi theo các yếu tố (*)
S
1
S
2
S
3
N
Cao
su
Loại hình thổ nhưỡng
Fk, Fu
Fp, X
tr
ru
Điều
Loại hình thổ nhưỡng
Fk, Fu,
X, Fp, Fs
Xg, D
Độ dốc địa hình
0 - 15
o
15 - 25
o
> 25
oĐộ dày tầng đất
>100 cm
50 - 100 cm
< 50 cm
Thành phần cơ giới
c, d, e
b
> 50 cm
< 50 cm
8
Thành phần cơ giới
d, e,c
b Khả năng tưới
T F
Trạng thái thực vật
nn, dn
tr
ru
Cây
ăn
trái
Loại hình thổ nhưỡng
Fk, Fu
Fp, X
Fs, Xg
ru
Keo
lai
Loại hình thổ nhưỡng
Fk, Fp, Fu
X , Fs
D, Xg
Độ dốc địa hình
< 25
o
> 25
o
Độ dày tầng đất
> 50 cm
< 50 cm Thành phần cơ giới
c
b, c, e Khả năng tưới
Thành phần cơ giới
b, c
d, e Khả năng tưới
F,T
Trạng thái thực vật
dn, ru
tr, nn Dầu
rái
Loại hình thổ nhưỡng
Fk,Fp, Fu
X , Fs
D, Xg
Độ dốc địa hình
< 25
o
> 25
o
Độ dốc địa hình
< 25
o
> 25
o
Độ dày tầng đất
> 50 cm
< 50 cm Thành phần cơ giới
d
b, c, e Khả năng tưới
F, T
Trạng thái thực vật
nn, tr
dn, ru
Trạng thái thực vật
tr, nn,
dn, ru Xoan
ta
Loại hình thổ nhưỡng
Fk, Fp, Fu
X , Fs
D, Xg
Độ dốc địa hình
<25
o
> 25
o
Độ dày tầng đất
> 50 cm
< 50 cm Thành phần cơ giới
b, c
e, d
Độ dày tầng đất
> 100 cm
50 - 100 cm
< 50 cm
Thành phần cơ giới
b, c
e,d Khả năng tưới
F, T
Trạng thái thực vật
dn, ru
nn, tr
(*) Ghi chú:
S1: rất thích nghi; S2: thích nghi vừa; S3: kém thích nghi; N: không
thích nghi
T: có khả năng tưới; F: không có khả năng tưới;
b: cát pha; c: thịt nhẹ; d: thịt trung bình - nặng; e: sét;
nn: cây ngắn ngày; dn: cây dài ngày; tr: đất trống (I
A
, I
B
hầu hết các dạng đất, nơi có lượng mưa từ 1.500 - 2.000 mm/năm. Mọc tốt
trên đất có độ pH từ 3 đến 7, phân bố ở độ cao dưới 800 m so với mực nước
biển. Là cây ưa sáng mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất. Keo lai phân bố
thích hợp trong những vùng có điều kiện: Nhiệt độ bình quân từ 22
0
C đến
28
0
C, lượng mưa trung bình trên 1.000 mm, tối thích 1.600 mm, số tháng mưa
bình quân: 4 tháng, tối thích: 6 tháng.
- Đất đai: Chủ yếu trồng trên loại đất feralit, tầng dầy tối thiểu 35 cm.
Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không bị ngập nước đều
có thể trồng được (Kỹ thuật trồng Keo lai, 2001)[11].
11
1.2.2.2. Ảnh hưởng điều kiện lập địa đến sinh trưởng của cây Keo lai
Nghiên cứu về quan hệ giữa Keo lai với điều kiện lập địa trước đây chủ
yếu tập trung theo hướng khảo nghiệm đánh giá khả năng thích nghi của Keo
lai trên những điều kiện lập địa mới, nhằm mở rộng diện tích trồng rừng Keo
lai cung cấp gỗ nguyên liệu. Hướng nghiên cứu này hầu hết là thành công vì
Keo lai có khả năng thích nghi với rất nhiều loại lập địa, ngay cả những nơi
có điều kiện khó khăn rất cực đoan.
Nguyễn Huy Sơn (năm 2006) khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng
của Keo lai trên đất bazan thoái hóa ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai cho thấy
các dòng Keo lai tự nhiên BV5, BV10 và BV33 được nhân giống bằng
phương pháp giâm hom được trồng trên các loại đất phát triển trên đá ba zan
bị thoái hóa ở các mức độ khác nhau, đất có độ ẩm thấp, chua, bí chặt, tỷ
trọng và dung trọng đều rất cao với các trị số tương ứng là 2,68 và 1,02 thì
đến năm thứ 6 tỷ lệ sống của cây Keo lai biến động từ 75 - 87 % (trung bình
đạt 80,2 %), đường kính trung bình 10,59 cm chiều cao bình quân đạt 11,72
khô lâm phần Keo lai tập trung chủ yếu ở tầng cây gỗ, sinh khối khô tầng cây
gỗ giảm dần theo cấp đất tiếp theo là vật rơi rụng và cuối cùng là cây bụi
thảm tươi, hai loại sinh khối này có xu hướng tăng theo cấp đất, (Tạp chí
NN&PTNT, 9/2010)[15].
Nghiên cứu sinh trưởng Keo lai trồng trên hai loại đất khác nhau ở
Đông Nam bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) nhận thấy Keo lai cho
năng suất khác nhau trên các lập địa khác nhau. Sau 7 năm trồng năng suất
Keo lai đạt 33 m
3
/ha/năm ở đất đỏ vàng trên phiến sét tại trạm Phú Bình,
trong khi ở đất xám trên phù sa cổ tại trạm Bàu Bàng năng suất chỉ đạt 25
m
3
/ha/năm. Như vậy, mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc
như nhau, nhưng trên đất nâu đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù
sa cổ [10].
Nghiên cứu về các biện pháp thâm canh rừng trồng Keo lai tại Đồng
Hỷ, Thái Nguyên, Trần Thị Duyên (2008) [1] nhận thấy các biện pháp kỹ
thuật như mật độ trồng, bón phân, bón vôi, chăm sóc hợp lý đều có tác dụng
nâng cao năng suất và chất lượng gỗ Keo lai, đồng thời cải thiện tính chất lý
hóa của đất theo hướng tích cực hơn.
13
1.3. Nhận xét chung về tổng quan nghiên cứu
1.3.1. Một số vấn đề đã được giải quyết
Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và thế giới động thực có quan hệ rất mật
thiết và ảnh hưởng qua lại với nhau và 4 nhóm yếu tố này được gọi chung là
điều kiện lập địa. Khi nghiên cứu sinh trưởng và phát triển của thực vật nói
nghiệp.Việc xác định ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng và
năng suất rừng trồng cũng là cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh rừng
trồng.
1.3.2. Một số vấn đề tồn tại chưa được đề cập
Mặc dù Keo lai là một loài cây quan trọng trong chiến lược trồng rừng
nguyên liệu và các công trình nghiên cứu về cây Keo lai đã cho thấy năng
suất và hiệu quả của việc trồng Keo lai có quan hệ chặt chẽ với cấp đất. Tuy
nhiên ở Bình Phước chưa có nghiên cứu nào đánh giá về ảnh hưởng của điều
kiện lập địa đến sinh trưởng của Keo lai. Vì vậy việc quy hoạch vùng trồng
Keo lai còn thiếu những cơ sở khoa học.
Từ những nhận xét nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này,
nhằm đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lập địa tới sinh trưởng của rừng trồng
Keo lai trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Trên cơ sở đó đề tài bước đầu phân
hạng đất trồng Keo lai, đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao năng suất
Keo lai trên những dạng lập địa đó. Đây là cơ sở để quy hoạch vùng trồng
Keo lai tập trung, nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên đất, phục vụ cho chương
trình phát triển cây Keo lai trên địa bàn tỉnh Bình Phước. 15
Chương 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Bình Phước là một tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ có tổng diện
tích tự nhiên là 6.871,5 km
2
xã Phước long và phía Đông bắc huyện Đồng Phú. Có cao độ tuyệt đối phổ
biến trong khoảng từ 300 – 500 m. Tạo thành từ các núi sót, rải rác thuộc
phần cuối của dãy Trường Sơn từ Tây Nguyên đổ xuống. Địa hình chia cắt
mạnh, dốc nhẹ đến khá dốc, độ dốc phổ biến từ 8-30
0
. Đất đai phổ biến là đất
nâu vàng, nâu đỏ trên đá bazan và đất đỏ vàng trên đá phiến.
+ Địa hình đồi núi thấp: diện tích 231.517 ha (33,69 % DTTN); phân bố
chủ yếu ở phần trung tâm tỉnh. Cao độ tuyệt đối từ 100 – 300 m, có bề mặt
lượn sóng nhẹ. Các đồi có đỉnh bằng, sườn dốc thoải, độ dốc phổ biến dưới
15
0
. Đất đai phổ biến là đất nâu vàng, nâu đỏ trên đá bazan và một ít đất đỏ
vàng trên đá phiến. Trên kiểu địa hình này rất thuận tiện cho việc bố trí sử
dụng đất nông nghiệp nói chung.
+ Địa hình bậc thềm: diện tích 157.476 ha (22,92 % DTTN); phân bố ở
phía Nam và viền ranh phía Tây, Tây Bắc tỉnh. Địa hình dạng bậc thềm khá
bằng phẳng hoặc nghiêng nhẹ, độ dốc phổ biến dưới 8
0
, độ cao phổ biến từ 30
– 50 m, đất đai phổ biến là đất xám và đất nâu vàng trên phù sa cổ
+ Địa hình bằng trũng: diện tích 25.021 ha (3,64% DTTN); phân bố rải
rác xen kẽ giữa 3 dạng địa hình chính nêu trên. Đây là vùng địa hình thấp
thuộc các vùng đất tích tụ, là các bồi trũng, các vùng phẳng. Các loại đất
chính là đất phù sa, đất dốc tụ và đất xám glây.
Nhìn chung: địa hình Bình Phước đa số có độ dốc < 15
0
, thuận lợi cho sử
dụng đất trong nông nghiệp chiếm 70 % diện tích tự nhiên, địa hình không
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ có khoảng 15,6% diện tích tự nhiên
18.84
Thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
IV (15-20
o
)
92.987
13.98
Ít thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
V (20-25
o
)
28.901
4.34
Không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
VI (>25
o
)
74.891
11.26
Không có khả năng sản xuất nông nghiệp
Tổng
665.180
100%
nhiên mùa mưa có thể xuất hiện các cơn lốc có vận tốc 20 - 25 m/s gây tác hại
cục bộ cho cây trồng và nhà cửa.
2.1.4. Thủy văn
Tổng lượng nước mưa rơi bình quân hàng năm của tỉnh khoảng 16 tỷ m
3
.
Tuy nhiên nguồn nước này phân phối không đều.
Nước mặt cung cấp cho sản xuất và đời sống thông qua hệ thống sông
suối của tỉnh. Trên địa bàn tỉnh Bình Phước có 4 lưu vực sông lớn chảy qua,
đó là Sông Sé; sông Sài Gòn; sông Đồng Nai; sông Măng. Trong đó sông Bé
và sông Đồng nai là hai hệ thống sông chính, đã được khai thác xây dựng
nhiều công trình thủy điện và thủy lợi. Hệ thống các hồ thủy lợi và thủy điện
lớn trên các sông này như hồ Thác Mơ, hồ Dầu Tiếng, hồ Cần Đơn, hồ sork
Phu Miêng, hồ Phước Hòa góp phần tích cực trong việc điều hòa nguồn nước
tưới, độ ẩm đất, độ ẩm không khí trong khu vực. Hệ thống sông hồ trên địa
bàn tỉnh đặc biệt có ý nghĩa trong mùa khô Bình phước có tới 4 tháng trong
năm lượng mưa hầu như không đáng kể.
Chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh tương đối tốt, tuy nhiên tại một số
khu vực gần các khu dân cư nước có hiện tượng bị ô nhiễm do các chất thải.
19
2.1.5. Đất đai
Kết quả điều tra, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỉnh Bình Phước tỷ lệ
1/100.000 năm 2010 cho thấy tỉnh Bình Phước có 11 loại đất thuộc 6 nhóm
đất chính, cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Diện tích các loại đất trên địa bàn tỉnh
Tên Việt nam
90.117,94
13,20
- Đất xám trên phù sa cổ
X
87.107,33
12,68
- Đất xám gley
Xg
3.610,61
0,53
III. Nhóm đất dốc tụ
20.578,27
2,99
- Đất dốc tụ thung lũng
D
20.578,27
2,99
IV. Nhóm đất đen
1.765,47
0,26
- Đất nâu thẩm trên đá bọt và bazan
Ru
1.765,47
0,26
V. Nhóm đất phù sa
832,08
20
cây trồng. Đây là thuận lợi cơ bản để Bình Phước phát triển sản xuất nông
lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao.
2.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.1. Dân số
Theo Niên giám thống kê tỉnh Bình Phước năm 2010 thì tính đến ngày
31/12/2010 dân số trên địa bàn tỉnh 893,3 ngàn người, bằng khoảng 1,2 % dân
số toàn quốc, mật độ dân số 130 người/km
2
.
- Tốc độ tăng dân số khá cao, nhưng có chiều hướng giảm trong những
năm gần đây. Năm 2000, tỷ lệ tăng dân số là 5,23 %/năm, năm 2003 là 3,57
%, năm 2004 là 2,78 %, năm 2005 là 1,65 % và năm 2009 là 1,62 %.
- Giới tính: Nam chiếm 50,47 %; Nữ: 49,53 %.
Dân cư tập trung với mật độ cao ở thị xã Đồng Xoài, huyện Bình Long,
Chơn Thành. Huyện Bù Đăng và huyện Bù Gia Mập là hai huyện có mật độ
dân số thấp nhất tỉnh. Đây là hai huyện thuộc vùng sâu của tỉnh, điều kiện sản
xuất và giao thông đi lại còn nhiều khó khăn
Về phân bố dân cư theo địa bàn 83,21% dân số thuộc vùng nông thôn,
16,79% dân số thuộc các khu dân cư thành thị. Như vậy tỉnh Bình phước là
tỉnh nông nghiệp với đa số dân cư tập trung nông thôn
2.2.2. Lao động
Nguồn lao động có 484,6 ngàn người (chiếm 54,2% dân số), trong đó ở
độ tuổi lao động là 466,6 ngàn người (có khả năng lao động là 458,0 ngàn
người). Phân bố nguồn lao động: lao động trong các ngành kinh tế: 401,0
ngàn người; trong độ tuổi lao động: 33,3 ngàn người; không việc làm: 50,3
ngàn người.
22.176
21.340
2
Cây công nghiệp
3.872
1.947
1.537
1.309
B
Cây lâu năm
236.894
313.806
323.057
343.457
1
Điều
92.071
131.866
143.481
144.413
2
Cà Phê
9.636
10.215
10.350
10.978
3
Cao su
77.489
86.598
Có thể nhận thấy đến năm 2010, thế mạnh của tỉnh Bình phước là cây
công nghiệp lâu năm với 85% diện tích trong cơ cấu cây trồng của tỉnh, tiếp
đến là cây hàng năm với 13%, cây ăn trái chỉ chiếm 2%. Trong số các loại cây
lâu năm thì cây Điều và cây Cao su được ưu tiên phát triển và chiếm tới 71%;
Cây Điều chiếm 42% diện tích, cây cao su chiếm 29%. Lý do là các loài cây
Điều và Cao su ngoài việc phù hợp với đất đai khí hậu của tỉnh, chúng đều là
những loài cây dễ tính, không đòi hỏi thâm canh cao; các loài cây khác như
Cà phê, Hồ tiêu và cây ăn trái tuy cho thu nhập khá, nhưng đòi hỏi phải có
nước tưới và thâm canh cao, nên chỉ phát triển được tại một số khu vực có
khả năng chủ động tưới nước.
2.2.4.2. Lâm nghiệp
a) Hiện trạng quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Bình Phước là 687.154,3 ha, diện tích
quy hoạch cho lâm nghiệp là 178.976 ha, chiếm 26,05%. Theo số liệu quy
hoạch ba loại rừng năm 2007, diện tích quy hoạch rừng sản xuất là 102156,6
ha chiếm 57,08% diện tích đất lâm nghiệp, rừng phòng hộ là 45537,5 ha
chiếm 25,44% và rừng đặc dụng là 31281,9 ha chiếm 17,48%. Theo kết quả
điều tra quy hoạch bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2010 – 2020 và kế hoạch
sử dụng đất chi tiết giai đoạn 2010 – 2015, hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp
đến tháng 12/ 2010 như sau:
23
Bảng 2.4: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp đến tháng 12/ 2010
( ĐVT: ha)
33.246,0
8122,7
30.567,6
- Rừng tự nhiên 62.677
20.307,6
12.289,9
10.395,9
1894
30.079,5
- Rừng trồng 100.859
71.291,9
29.078,8
22.850,1
6228,7
488,1
Rừng trồng cây nguyên
liệu
b) Đất chưa có rừng 12.719
9.271,2
2.773,7
2.149,8
623,9
674,4
- Đất chưa có rừng
(I
A
, I
B
, I
C
) 3.904
2.807
655
211
40,0
(Nguồn: Sở NN và PTNT Bình Phước, năm 2011)[12]
b) Trồng rừng
- Trồng rừng mới phòng hộ: Từ năm 1998 đền năm 2010 toàn tỉnh đã
thực hiện 4.948,6 ha trong đó thành rừng 2.374 ha đạt 57 %; tính riêng năm
2010 trồng rừng được 766,74 ha, gồm:
- Trồng mới rừng đặc dụng được 134 ha, thành rừng 45 ha đạt 33 %.
- Trồng mới rừng sản xuất được 11.713 ha, thành rừng 10.283 ha đạt
88%.
24
Công tác trồng rừng được quan tâm tại Bình Phước, từ những năm 1985
tỉnh Sông Bé đã có chương trình bắt buộc trồng lại rừng sau khai thác bằng
nguồn vốn trích từ quỹ nuôi rừng. Chương trình này được nối tiếp đến
Chương trình 327 và mới đây là Dự án 661. Các chương trình trồng rừng đã
để lại một số khu rừng tập trung với diện tích khá lớn với các loài cây bản địa,
hoặc nhập nội có giá trị kinh tế cao như Sao đen, Dầu rái, Xà cừ, Tếch, Keo lá
tràm, Keo lai. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như do nhu cầu
mở rộng đất sản xuất của người dân dẫn đến hiện tượng phá rừng lấn chiếm
đất trồng rừng để canh tác, do việc quy hoạch và quản lý đất trồng rừng chưa
phù hợp và do hiệu quả kinh tế chưa cao nên hiện tại diện tích rừng trồng
thành rừng đạt tỷ lệ khá thấp. Đây cũng là những khó khăn cho công tác trồng
rừng của tỉnh Bình Phước [14].
c) Trồng cây công nghiệp
Với lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loài cây cây công
nghiệp có giá trị như cây cao su, điều, cà phê, hồ tiêu trong những năm qua
tỉnh Bình Phước đã tăng nhanh diện tích những loài cây này, kể cả thực hiện
theo quy hoạch của địa phương và tự phát. Tổng diện tích của các loài cây đa
mục đích trồng trên đất lâm nghiệp hiện nay là 74.722,4 ha,
d) Hoạt động chế biến gỗ và lâm sản
hơn so với các vùng nguyên liệu tại các khu vực khác trong cả nước.
Lực lượng lao động dồi dào đảm bảo đủ nguồn nhân lực cho việc phát
triển nghành trồng rừng và chế biến gỗ.
Hệ thống giao thông khá phát triển và các nhà máy chế biến công suất
cao, đảm bảo cho việc vận chuyển và chế biến gỗ nguyên liệu Bình Phước
thuận lợi. Với vị trí địa lý cửa ngõ thông thương với Cămpuchia qua các cửa
khẩu quốc tế, như: Hoa Lư, Hoàng Diệu, Tà Vạt và là cầu nối giữa Tây
nguyên với các tỉnh phía Nam nên tiêu thụ gỗ và các sản phẩm gỗ rừng trồng
tương đối dễ dàng.
Nhu cầu thị trường lâm sản ngày một tăng mạnh; nền kinh tế - xã hội
của tỉnh và cả nước tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao và