TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ vật lí về lực HƯỚNG tâm THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực và PHÁT TRIỂN NĂNG lực SÁNG tạo - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--------

Lấ TH HUYN DIP

Tổ CHứC HOạT ĐộNG NGOạI KHOá VậT Lí Về LựC HƯớNG TÂM
THEO HƯớNG PHáT HUY TíNH TíCH CựC Và PHáT TRIểN
NĂNG LựC SáNG TạO CủA HọC SINH LớP 10
Chuyờn ngnh

: Lớ lun v phng phỏp dy

hc b mụn Vt lớ
Mó s

: 60.14.01.11

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Ngc Hng

H NI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trong tổ Phương pháp
dạy học Vật lí, các Thầy Cô giáo Khoa Vật lí, phòng quản lí khoa học, các
Thầy Cô giáo trường ĐHSP Hà Nội đã giúp tôi hoàn thành khóa học.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc
Hưng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên

NXB

Chữ viết đầy đủ

Học sinh
Giáo viên
Trung bình
Trung học phổ thông
Trung học cơ sở
Hoạt động ngoại khoá
Bài tập
Thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm
Phó giáo sư, tiến sĩ
Nhà xuất bản


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài.........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.................................................................3
3. Giả thuyết khoa học của đề tài..................................................................3
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài...............................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài................................................................4
7. Đóng góp của đề tài....................................................................................4
8. Cấu trúc luận văn.......................................................................................5
Chương 1.........................................................................................................6
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ.................6
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG...........................................................................6

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng dạy học đang là vấn đề cấp thiết của giáo dục
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta đã và đang có những đổi mới
mạnh mẽ, tích cực về nội dung, phương pháp dạy học. Chất lượng dạy học
sẽ được nâng cao khi nó kích thích được hứng thú, nhu cầu, sở thích và
khả năng độc lập, tích cực tư duy sáng tạo của học sinh. Luật Giáo dục,
Điều 28.2 đã qui định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh..." Để làm được điều đó, bên cạnh việc đổi
mới nội dung, phương pháp dạy học thì sự phối hợp với các hình thức tổ
chức dạy học là việc làm rất cần thiết.
Vật lí học là một môn học bắt buộc trong hệ thống các môn học trong
nhà trường phổ thông ở nước ta hiện nay. Việc đổi mới phương pháp dạy và
học môn vật lí là một điều tất yếu. Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm
nên một trong những khâu quan trọng của quá trình đổi mới phương pháp dạy
và học môn vật lí là tăng cường các hoạt động thực nghiệm của học sinh (HS)
trong quá trình học tập. Do đó, việc đưa các thí nghiệm vào dạy học sẽ giúp
HS tiếp cận với con đường nghiên cứu khoa học và tiếp thu kiến thức một
cách nhanh chóng, dễ dàng hơn. Thông qua việc tiến hành các thí nghiệm, HS
sẽ được rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo, được hình thành và phát triển tư duy
sáng tạo, phát huy tinh thần làm việc tập thể.
Thực tế cho thấy, việc dạy và học theo chương trình nội khoá còn rất
nặng về mặt kiến thức nên chưa kích thích được sự hứng thú học tập và chưa
phát huy được khả năng sáng tạo ở HS. Do đó, để đạt được mục tiêu đã đề ra

1



2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khóa (nội dung, phương pháp dạy
học, hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá) về lực hướng tâm ở lớp 10 sao
cho phát huy được tính tích cực và phát triển được năng lực sáng tạo của HS.
3. Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu hoạt động ngoại khoá (HĐNK) vật lí về lực hướng tâm có nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức hợp lí, sinh động thì có thể phát huy
được tính tích cực và phát triển được năng lực sáng tạo của HS.
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Hoạt động ngoại khoá vật lí về lực hướng tâm ở lớp 10.
- Một số dụng cụ thí nghiệm đơn giản về lực hướng tâm phục vụ cho
hoạt động ngoại khoá.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về:
+ Hoạt động ngoại khóa ở trường THPT.
+ Soạn thảo bài tập thí nghiệm vật lí.
+ Tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS.
+ Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong
dạy học Vật lí ở trường phổ thông
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn
+ Nghiên cứu mục tiêu dạy học và các định hướng đổi mới của chương
trình sách giáo khoa vật lí lớp 10. Nghiên cứu nội dung cơ bản về lực hướng
tâm ở lớp 10 để xác định rõ mục tiêu khi học các kiến thức về lực hướng tâm,
các thí nghiệm cần tiến hành.
+ Thực trạng việc dạy học về lực hướng tâm ở trường THPT Dân tộc
nội trú tỉnh Lạng Sơn, đặc biệt là việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học. Từ
đó, phát hiện ra những sai lầm của HS về lực hướng tâm.

3

4


Quy trình này đã được thực nghiệm sư phạm, sơ bộ khẳng định tính khả thi và
hiệu quả của nó đối với việc phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo
của HS.
- Chế tạo được dụng cụ thí nghiệm đơn giản cho phép tiến hành 10 thí
nghiệm về lực hướng tâm. Các thí nghiệm này được giao cho HS tiến hành dưới
dạng các bài tập thí nghiệm. Những bài tập này có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho giáo viên và HS khi nghiên cứu về lực hướng tâm.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận về hoạt động ngoại khoá vật lí ở trường phổ thông.
Chương 2. Xây dựng quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí về
lực hướng tâm ở lớp 10.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.

5


Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÍ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lí luận về hoạt động ngoại khóa vật lí ở trường phổ thông
1.1.1. Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức
tổ chức dạy học ở trường phổ thông
Hoạt động ngoại khóa là một trong ba hình thức dạy học chủ yếu ở
trường phổ thông hiện nay. HĐNK nói chung và hoạt động ngoại khóa Vật lí
nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục HS trên tất cả các mặt,

1.1.2. Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí
HĐNK Vật lí cũng như HĐNK nói chung có những đặc điểm sau:
- Được thực hiện ngoài giờ học chính khoá.
- Có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể cả lớp, dạng
theo nhóm năng khiếu, dạng thường kì, dạng đột xuất nhân những dịp kỉ
niệm hay lễ hội...
- Nội dung của HĐNK thường liên quan đến nội dung học tập trong
chương trình nội khoá, phù hợp với trình độ và đặc điểm của đối tượng
tham gia.
- Hình thức HĐNK Vật lí rất đa dạng, bao gồm ngoại khoá làm bài tập,
làm thí nghiệm, tham quan công trình Vật lí, hội vui Vật lí…nhằm giúp HS
mở rộng, đào sâu, làm phong phú thêm những kiến thức đã được học trong giờ
nội khóa.
- Cách đánh giá kết quả thông qua những biểu hiện trong quá trình
tham gia hoạt động và sản phẩm của HS…
- HS được làm việc tập thể dễ phát triển khả năng làm việc hơn.
Như vậy, HĐNK không gò bó về thời gian, không gian cũng như trình
tự nội dung như giờ học nội khoá. Do đó, GV có thể dễ dàng kết hợp HĐNK
với những phương pháp, hình thức dạy học khác.

7


1.1.3. Nội dung của hoạt động ngoại khóa vật lí
Nội dung ngoại khóa Vật lí ở trường phổ thông rất đa dạng nhưng có
thể chia thành hai nội dung chính: lí thuyết và thực nghiệm. Cụ thể đó là các
nội dung như:
- Nghiên cứu những kiến thức lí thuyết về vật lí và kĩ thuật.
- Nghiên cứu những ứng dụng của vật lí trong đời sống, kĩ thuật.
- Thiết kế, chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm vật lí.

vụ mà họ đảm nhận. Kiểu định hướng này đòi hỏi học sinh tự xác định những
hành động trong tình huống không phải là đã quen thuộc với họ.
- Định hướng tái tạo: người dạy hướng HS vào việc huy động, áp dụng
những kiến thức, cách thức hoạt động HS đã nắm được hoặc đã được người
dạy chỉ ra một cách tường minh, để HS có thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ
đảm nhận.
- Định hướng khái quát chương trình hóa: phối hợp các đặc điểm của cả
hai kiểu định hướng trên, trong đó trước hết GV cũng gợi ý cho HS tự tìm tòi
nhưng chú ý giúp cho HS ý thức được đường lối khái quát của việc tìm tòi,
giải quyết vấn đề và sự định hướng được chương trình hóa theo các bước hợp
lí: từ tổng quát, tổng thể đến các bộ phận riêng biệt; từ tìm tòi đến tái tạo.
1.1.5. Các hình thức hoạt động ngoại khóa vật lí
Việc chia ra các hình thức ngoại khóa chỉ là tương đối, có thể dựa theo
số lượng HS tham gia, cũng có thể theo nội dung ngoại khóa..., có thể hình
thức này bao gồm cả hình thức tổ chức khác. Hiện nay, người ta thường tổ
chức HĐNK theo những hình thức sau:
- HĐNK ở trường như: hội thi Vật lí, hội vui Vật lí, chuyên đề Vật lí, tổ
chức câu lạc bộ (nhóm) Vật lí, viết báo tường hoặc tập san về Vật lí, luyện giải
bài tập Vật lí...
- HĐNK ở nhà: thiết kế, chế tạo dụng cụ và tiến hành các thí nghiệm
với các dụng cụ đã chế tạo; Sưu tầm tài liệu trên mạng...
- HĐNK ở các nơi khác: Tham quan các công trình kĩ thuật, các nhà máy...

9


Để phù hợp với nội dung ngoại khoá đã chọn, căn cứ vào tình hình thực
tế, hiện nay dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho việc dạy học kiến thức về lực
hướng tâm còn thiếu, việc dạy học trên lớp chưa đáp ứng được yêu cầu đổi
mới, nên chúng tôi lựa chọn hình thức tổ chức HĐNK về lực hướng tâm gồm

khuyến khích các em, đồng thời phát hiện những vấn đề nảy sinh ngoài dự
kiến để điều chỉnh sao cho phù hợp với kế hoạch đã đặt ra.
+ Đối với hoạt động có quy mô lớn như các hoạt động toàn lớp, toàn
khối, giáo viên phải đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn hoạt
động. Đặc biệt, GV phải là người tổ chức để HS thảo luận, tranh luận rộng rãi
những nội dung HĐNK.
+ Đối với các hoạt động có quy mô nhỏ như tổ, nhóm HS thì cần để
cho học sinh hoàn toàn tự chủ cả về việc tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ
được giao. Giáo viên chỉ giúp đỡ khi HS gặp khó khăn, vướng mắc và không
thể tự giải quyết được.
Ở mỗi giai đoạn của HĐNK, GV cần động viên, khuyến kích HS cố
gắng và quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch về thời gian và nội dung công
việc cần hoàn tất.
- Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng
+ Sau khi HS hoàn thành các nhiệm vụ được giao, cần tổ chức cho các em
báo cáo nhiệm vụ và giới thiệu sản phẩm của nhóm mình với mọi người. Đó là
điều kiện để các em thể hiện những kiến thức, kĩ năng các em đã thu được và kết
quả quá trình hoạt động của mình trong đợt ngoại khóa, thể hiện sự sáng tạo, hiệu
quả làm việc nhóm và các kĩ năng báo cáo, thuyết trình.
+ Việc đánh giá hiệu quả của HĐNK phải dựa vào cả quá trình diễn ra hoạt
động. GV đánh giá hiệu quả của HĐNK thông qua sự hứng thú, tính tích cực,
những biểu hiện của sự sáng tạo, những nội dung kiến thức, kĩ năng, tình cảm thái
độ mà HS đạt được và những sản phẩm của HS.

11


+ GV nhận xét, đánh giá quá trình tham gia hoạt động ngoại khóa của HS
và động viên, khích lệ, khen thưởng để học sinh tích cực hơn trong các
hoạt động sau này.

kết quả thí nghiệm. Nếu thực nghiệm xảy ra không như dự đoán, các hiện
tượng hoàn toàn mới lạ, sẽ gây sự ngạc nhiên thú vị, thu hút các em tìm lời
giải thích. Khi giải các BTTN, những cái mới lạ trái với suy nghĩ thông
thường của HS làm cho các em phải suy nghĩ về những điều xảy ra trong TN
và xa hơn nữa là sự liên hệ đến những sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự
nhiên. Các câu hỏi "Tại sao hiện tượng này lại xảy ra như thế?"; "hiện tượng
đó bị cho phối bởi các quy luật nào?"...tự nó sẽ nảy sinh trong óc của các em và
từ đó tạo cho HS nhu cầu học tập.
- Củng cố, khắc sâu và nâng cao chất lượng kiến thức vật lí của HS
Để giải các BTTN vật lí, HS phải vận dụng các kiến thức lý thuyết vào
thực tiễn, điều đó giúp các em củng cố và khắc sâu kiến thức. Nhờ vậy kiến
thức của các em nắm được sẽ chính xác hơn, vững chắc hơn, có tính hệ thống
hơn. Các BTTN cũng có thể sử dụng để nghiên cứu kiến thức mới và hình
thành tri thức vật lí mới, tức là nâng cao kiến thưc vật lí cho HS. Vì vậy việc
thường xuyên giải BTTN sẽ góp phần đáng kể trau dồi kiến thức cho HS.
- Phát triển tư duy sáng tạo và năng lực nhận thức của HS
Để giải các BTTN HS cần phối hợp nhiều bước như là phân tích dữ
kiện đầu bài, lập luận xây dựng phương án TN, lựa chọn dụng cụ, sử dụng
dụng cụ đúng quy cách, lắp đặt TN, tiến hành TN, tự lực thu thập và xử lí số
liệ. Điều đó giúp HS rèn luyện tính tích cực và chủ động trong học tập, đồng
thời phát triển khả năng tư duy sáng tạo và năng lực nhận thức cho HS.
- Rèn luyện kĩ năng thực hành và kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Khi giải các BTTN nhất thiết HS phải tiến hành TN, dự đoán kết quả
TN, tiến hành thu thập và xử lí số liệu TN. Vì vậy việc thường xuyên giải
BTTN sẽ góp phần đáng kể rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng kiến thức vật lí
vào thực tiễn.

13




* Dễ lắp ráp, tháo rời các bộ phận của dụng cụ thí nghiệm. Vì vậy, với
cùng một dụng cụ thí nghiệm đơn giản, trong nhiều trường hợp, ta chỉ cần
thay thế các chi tiết phụ trợ là có thể làm được thí nghiệm khác.
* Dễ bảo quản, vận chuyển và an toàn trong quá trình chế tạo cũng như
tiến hành thí nghiệm.
* Việc bố trí và tiến hành thí nghiệm với những dụng cụ thí nghiệm này
cũng đơn giản không tốn nhiều thời gian.
* Hiện tượng diễn ra trong thí nghiệm phải rõ ràng, dễ quan sát.
Trong quá trình dạy học Vật lí ở trường phổ thông, GV có thể cho HS tự
thiết kế, chế tạo những dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong khả năng của các
em. Từ đó, HS sẽ hiểu rõ hơn về bản chất của các quá trình Vật lí, giúp các em
tin tưởng vào kiến thức mình đã học từ đó yêu thích, hứng thú hơn với bộ môn
Vật lí.
+ Các khả năng sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy
học Vật lí ở trường phổ thông
Các dụng cụ thí nghiệm đơn giản có thể được sử dụng ở tất cả các khâu
của quá trình dạy học: Đặt vấn đề (tạo tình huống có vấn đề), hình thành kiến
thức mới (kiểm tra các giả thuyết đã nêu ra), củng cố và vận dụng các kiến
thức đã học (trong đó có việc đề cập các ứng dụng kĩ thuật của kiến thức
trong sản suất và đời sống) và cũng có thể dùng để kiểm tra đánh giá kiến
thức, kĩ năng của HS.
* Các dụng cụ thí nghiệm đơn giản được sử dụng trước hết cho thí
nghiệm của HS, tiến hành trên lớp hoặc ở nhà. Chúng cũng có thể được giáo
viên sử dụng trong giờ học để tiến hành các thí nghiệm biểu diễn.
* Việc chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản để tiến
hành các thí nghiệm có thể giao cho từng học sinh hoặc các nhóm học sinh
làm ở nhà hay trong giờ ngoại khóa, không những để củng cố các kiến thức

15


16


●Loại 3: Cho trước các dụng cụ, yêu cầu HS thiết kế phương án TN với
các dụng cụ đã cho để tiến hành TN theo một mục đích nào đó. Ở đây, cũng
có thể ra dưới dạng: dự đoán kết quả TN, rồi mới tiến hành TN hoặc tiến hành
TN trước rồi mới giải thích kết quả TN.
- Bước 1: Xác định phương án TN.
+ Đối chiếu với những dụng cụ đã cho trong đầu bài, lựa chọn kiến
thức liên quan sẽ sử dụng.
+ Vạch rõ sự phụ thuộc cần khảo sát.
+ Làm rõ những điều kiện mà trong đó sự phụ thuộc cần nghiên cứu có
thể xảy ra. Xác định các phương án TN và lựa chọn phương án khả thi nhất.
- Bước 2: Nắm vững các dụng cụ sử dụng, giải thích được tác dụng của
từng dụng cụ.
+ Lắp ráp các dụng cụ theo phương án thiết kế đã chọn và trình tự làm
việc với chúng.
+ Chú ý: thực hiện quy tắc kĩ thuật an toàn.
- Bước 3: Tiến hành TN, quan sát hiện tượng, thu thập kết quả.
- Bước 4: Xử lí kết quả.
- Bước 5: Kết luận về tính hiện thực của sự liên hệ phụ thuộc nghiên cứu.
●Loại 4: Yêu cầu HS thiết kế phương án TN (tự lựa chọn dụng cụ TN,
tự xác định cách bố trí TN, tiến hành TN, xử lí kết quả TN) và tiến hành TN
theo phương án đã thiết kế để đạt được một mục đích nào đó.
- Bước 1: Xác định phương án TN.
+ Đối chiếu với những dữ kiện đã cho trong đầu bài, lựa chọn kiến thức
liên quan sẽ sử dụng.
+ Vạch rõ sự phụ thuộc cần khảo sát.
+ Làm rõ những điều kiện mà trong đó sự phụ thuộc cần nghiên cứu có

kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn. Như vậy tích cực là một đức

18


tính quý báu rất cần thiết cho mọi quá trình nhận thức, là nhân tố rất quan trọng
tạo nên hiệu quả học tập.
1.3.2. Các biểu hiện của tính tích cực của học sinh trong học tập
Tính tích cực học tập ở học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như:
- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú.
+ HS chú ý lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy cô giáo.
+ HS khao khát tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập.
+ HS tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời
của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi
giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ.
+ HS sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ, tự giác thực hiện các
nhiệm vụ, cố gắng hoàn thành công việc bằng mọi cách, hoàn thành công việc
sớm hơn kế hoạch, xin nhận thêm nhiệm vụ để thực hiện.
+ HS thường xuyên tranh luận, trao đổi với bạn bè về các vấn đề học
tập, không nản chí khi gặp khó khăn.
- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện bên trong của tính tích cực khó
phát hiện hơn, như có tư duy chuyển biến, có những sáng tạo trong học tập
hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Biểu hiện qua kết quả học tập: HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến
thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập,
không nản lòng trước những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn.
Khi thực nghiệm sư phạm, chúng tôi sẽ dựa vào những biểu hiện trên
để đánh giá tính tích cực của HS trong quá trình HĐNK.
1.3.3. Các cấp độ của tính tích cực của học sinh trong học tập
Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân

tập cho các em bằng những phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một môi
trường học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em phải làm việc, động viên và

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status