PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI nêu rõ về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo xác định ”Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các
yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất,
năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm
chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho HS. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng
thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,
khuyến khích học tập suốt đời”. Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục
trong nhà trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới.
Ngày này, việc dạy học theo định hướng nội dung không còn phù hợp
nữa khi mà tri thức luôn thay đổi và lạc hậu nhanh chóng. Do phương pháp dạy
học mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phẩm giáo
dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng
động. Do đó chương trình giáo dục này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng
cao của xã hội và thị trường lao động đối với người lao động về năng lực hành
động, khả năng sáng tạo và tính năng động.
Tiếp thu nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI Giáo dục phổ thông
nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung
sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học
được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm
bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương
pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng
kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải
chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra,
1
đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a) Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
2
- Nghiên cứu các câu hỏi, tài liệu có liên quan đến hoạt động ngoại khóa
vật lí theo định hướng phát huy năng lực học sinh, các tài liệu tin học phục vụ
cho quá trình thiết kế ngoại khóa.
- Nghiên cứu cách xây dựng một buổi ngoại khóa vật lí cho học sinh lớp
10 THPT.
b) Phương pháp điều tra.
- Sử dụng phiếu điều tra.
- Trò chuyện với học sinh, giáo viên để tìm hiểu thực trạng của HĐNK.
c) Phương pháp xử lí số liệu.
d) Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Tiến hành tổ chức một buối ngoại khóa vật lí cho học sinh lớp 10 trong
thực tế.
6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Đề xuất được phương pháp xây dựng và tổ chức HĐNK vật lí 10 THPT theo
hướng phát huy năng lực học sinh.
- Là tài liệu tham khảo cho giáo viên và các môn học khác
7. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
-
Cấu trúc bài viết gồm các phần:
Phần I: Mở đầu.
Phần II: Kết quả nghiên cứu.
Phần III: Kết luận và kiến nghị.
Tài liệu tham khảo và phụ lục.
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Phương pháp nói trên, trong khoa học giáo giáo dục thuộc về hệ thống các
phương pháp giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm, một hệ phương
pháp có thể trực tiếp đáp ứng các yêu cầu định hướng cho việc lựa chọn, thiết kế
lại nội dung học tập cho phù hợp với các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục
trong thời kì đổi mới.
Quan điểm “ Dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh,
người học là trung tâm của quá trình dạy học”, gọi tắt là “ dạy học tích cực, lấy
người học làm trung tâm”. Đây là một tư tưởng tiến bộ với một số thử nghiệm
đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển giáo dục từ vài thập kỉ nay. Một số
nước Tây Âu và trong khu vực Đông Nam Á đã thực sự quán triệt tư tưởng này
trong toàn bộ hoạt động dạy học. Tư tưởng này có nguồn gốc từ những kết quả
4
nghiên cứu được thực hiện ở lĩnh vực tâm lí nhận thức trong giáo dục: hướng
phát triển và giảng dạy.
Vì vậy, những nhiệm vụ chính của việc dạy học vật lí ở THPT bao gồm:
a. Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản hiện đại, có hệ
thống, bao gồm:
- Các khái niệm vật lí.
- Các định luật vật lí cơ bản.
- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí đời sống và sản xuất.
- Các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong vật lí.
b. Phát triển tư duy khoa học ở học sinh: rèn luyện những thao tác, hành động,
phương pháp nhận thức cơ bản, nhằm chiếm lĩnh vững kiến thức vật lí, vận dụng
sáng tạo để giả quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn sau này.
c. Trên cơ sở kiến thức vật lí vững chắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho học sinh
thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối với lao
động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động.
d. Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh, làm cho
Năng lực của học sinh là một cấu trúc động ( trừu tượng), có tính mở, đa
thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng… mà
cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội..thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của
các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang
thay đổi của xã hội.
1.2.3 Về các năng lực chung
Các năng
chung
lực
1. Năng lực tự học
Biểu hiện
a) Xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động;
tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực
hiện.
b) Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực
hiện các cách học: Hình thành cách ghi nhớ của bản thân; phân
tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tài liệu đọc
phù hợp: các đề mục, các đoạn bài ở sách giáo khoa, sách tham
6
khảo, internet; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt
với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ
khóa; ghi chú bài giảng của GV theo các ý chính; tra cứu tài
liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập.
c) Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân
khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của
4. Năng lực tự a) Nhận ra được các yếu tố tác động đến hành động của bản
7
quản lý
thân trong học tập và trong giao tiếp hàng ngày; kiềm chế được
cảm xúc của bản thân trong các tình huống ngoài ý muốn.
b) Ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình; xây dựng và
thực hiện được kế hoạch nhằm đạt được mục đích; nhận ra và
có ứng xử phù hợp với những tình huống không an toàn.
c) Tự đánh giá, tự điều chỉnh những hành động chưa hợp lý của
bản thân trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày.
d) Đánh giá được hình thể của bản thân so với chuẩn về chiều
cao, cân nặng; nhận ra được những dấu hiệu thay đổi của bản
thân trong giai đoạn dậy thì; có ý thức ăn uống, rèn luyện và
nghỉ ngơi phù hợp để nâng cao sức khoẻ; nhận ra và kiểm soát
được những yếu tố ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ và tinh thần
trong môi trường sống và học tập.
5.
Năng
giao tiếp
lực a) Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò
quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp;
b) Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp; nhận ra được
bối cảnh giao tiếp, đặc điểm, thái độ của đối tượng giao tiếp;
tin
và sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực
truyền thông
khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác
nhau, tại thiết bị và trên mạng.
b) Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập;
tìm kiếm được thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ
chức thông tin phù hợp; đánh giá sự phù hợp của thông tin, dữ liệu
đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức
đã biết với thông tin mới thu thập được và dùng thông tin đó để giải
quyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống;
8. Năng lực sử
a) Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các bài đối
dụng ngôn ngữ
thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận; nói chính xác,
đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung chủ đề
thuộc chương tŕnh học tập; đọc hiểu nội dung chính hay nội
dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn; viết đúng các dạng văn
bản về những chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân ưa thích; viết tóm
tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn;
b) Phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu; hiểu từ vựng thông dụng
được thể hiện trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các
ngày; bước đầu sử dụng máy vi tính để tính toán trong học tập.
[ 2.22]
1.2.4 Những đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực
10
Các thành tố quan trọng trong việc đánh giá việc đổi mới xây dựng bài tập
là: Sự đa dạng của bài tập, chất lượng bài tập, sự lồng ghép bài tập vào giờ học
và sự liên kết với nhau của các bài tập.
Những đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực:
a) Yêu cầu của bài tập
- Có mức độ khó khác nhau.
- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu.
- Định hướng theo kết quả.
b) Hỗ trợ học tích lũy
- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học.
- Làm nhận biết được sự gia tăng của năng lực.
- Vận dụng thường xuyên cái đã học.
c) Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập
- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân.
- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân.
- Sử dụng sai lầm như là cơ hội.
d) Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn
- Bài tập luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở.
- Thay đổi bài tập đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây dựng tri
thức thông minh).
- Thử các hình thức luyện tập khác nhau.
đ) Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp
Các đặc điểm
1. Hồi tưởng Tái hiện
- Nhận biết lại cái gì đã học theo cách
thông tin
Nhận biết lại
thức không thay đổi.
- Tái tạo lại cái đã học theo cách thức
Tái tạo lại
không thay đổi.
2. Xử lý thông Hiểu và vận dụng
- Phản ánh đúng bản chất, ý nghĩa cái
12
tin
Nắm bắt ý nghĩa
Vận dụng
3. Tạo thông
tin
13
a)
Xây dựng các năng lực chuyên biệt bằng cách cụ thể
hóa các năng lực chung.
Ở cách tiếp cận này, người ta xác định các năng lực chung trước, chúng là
các năng lực mà toàn bộ quá trình giáo dục ở trường phổ thông đều phải hướng
tới để hình thành ở HS. Sau đó, từng môn học sẽ xác định sự thể hiện cụ thể của
các năng lực chung ở trong môn học của mình như thế nào. Với cách tiếp cận
như vậy, từ các năng lực chung đã được đưa vào dự thảo chương trình phổ thông
tổng thể, chúng tôi tạm vạch ra các năng lực chuyên biệt trong môn Vật lí như ở
bảng 1.
Bảng 1: Bảng năng lực chuyên biệt môn Vật lí được cụ thể hóa từ năng
lực chung
Stt
Năng
lực
chung
Biểu hiện năng lực trong môn Vật lí
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân:
1
đường tạo và hoạt động như thế nào?
- Đưa ra được cách thức tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi
thực nghiệm
đã đặt ra.
hay còn gọi là
- Tiến hành thực hiện các cách thức tìm câu trả lời bằng
NL
thực
suy luận lí thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm.
nghiệm)
- Khái quát hóa rút ra kết luận từ kết quả thu được
- Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu được
3
Năng lực sáng - Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra giả
tạo
thuyết (hoặc dự đoán)
- Lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu
- Giải được bài tập sáng tạo
- Lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề một cách tối
ưu
4
Năng lực tự Không có tính đặc thù
quản lí
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội:
5
Năng lực sử dụng - Sử dụng ngôn ngữ khoa học để diễn tả quy luật vật
ngôn ngữ
lí
- Sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn tả quy luật vật lí
- Đọc hiểu được đồ thị, bảng biểu
9
Năng lực tính toán
- Mô hình hóa quy luật vật lí bằng các công thức toán
học
- Sử dụng toán học để suy luận từ kiến thức đã biết ra
hệ quả hoặc ra kiến thức mới.
b)
Xây dựng các năng lực chuyên biệt dựa trên đặc thù môn học
Với cách tiếp cận này, người ta sẽ dựa trên đặc thù nội dung, phương pháp
nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực,
có nhiều nước trên thế giới tiếp cận theo cách này, dưới đây xin đề xuất hệ thống
năng lực được phát triển theo chuẩn năng lực chuyên biệt môn Vật lí đối với HS
15 tuổi của CHLB Đức.
Môn Vật lí giúp hình thành các năng lực sau:
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực hợp tác
- Năng lực thực nghiệm
- Năng lực quan sát
về
pháp
phương
(tập
- P1: Đặt ra những câu hỏi về một sự kiện vật lí
- P2: mô tả được các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ vật lí
vào và chỉ ra các quy luật vật lí trong hiện tượng đó
- P3: Thu thập, đánh giá, lựa chọn và xử lí thông tin từ các
năng
lực
nguồn khác nhau để giải quyết vấn đề trong học tập vật lí
thực nghiệm - P4: Vận dụng sự tương tự và các mô hình để xây dựng kiến
và năng lực thức vật lí
trung
mô hình hóa)
- P5: Lựa chọn và sử dụng các công cụ toán học phù hợp trong
học tập vật lí.
- P6: chỉ ra được điều kiện lí tưởng của hiện tượng vật lí
- P7: đề xuất được giả thuyết; suy ra các hệ quả có thể kiểm tra
được.
- P8: xác định mục đích, đề xuất phương án, lắp ráp, tiến hành
17
xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra nhận xét.
- C1: Xác định được trình độ hiện có về kiến thức, kĩ năng , thái
độ của cá nhân trong học tập vật lí
- C2: Lập kế hoạch và thực hiện được kế hoạch, điều chỉnh kế
hoạch học tập vật lí nhằm nâng cao trình độ bản thân.
- C3: chỉ ra được vai trò (cơ hội) và hạn chế của các quan điểm
vật lí đối trong các trường hợp cụ thể trong môn Vật lí và ngoài
môn Vật lí
- C4: so sánh và đánh giá được - dưới khía cạnh vật lí- các giải
pháp kĩ thuật khác nhau về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
18
- C5: sử dụng được kiến thức vật lí để đánh giá và cảnh báo
mức độ an toàn của thí nghiệm, của các vấn đề trong cuộc sống
và của các công nghệ hiện đại [ 2.52]
1.3 HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
1.3.1 Khái niệm
Hoạt động ngoại khóa là những hoạt động học tập được tổ chức ngoài giờ học
các môn văn hóa ở trên lớp, một trong những mảng hoạt động giáo dục quan
trọng ở nhà trường phổ thông. Hoạt động này có tác dụng hỗ trợ cho giáo dục
nội khóa, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và
tài năng sáng tạo của HS. Nội dung ngoại khóa rất phong phú và đa dạng, nhờ
đó các kiến thức tiếp thu được trên lớp có cơ hội được áp dụng, mở rộng thêm
trên thực tế, đồng thời có tác dụng nâng cao hứng thú học tập nội khóa.
1.3.2 Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa
Việc phân chia các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí chỉ mang tính
chất tương đối, có thể dựa trên các cơ sở khác nhau. Chẳng hạn:
- Dựa vào số lượng HS tham gia ngoại khóa, có: hoạt động ngoại khóa theo các
về vật lí là để nói lên thành tựu hoạt động học tập và nghiên cứu về vật lí của
một khối lớp hoặc của toàn trường. Nội dung triển lãm có thể gồm: dụng cụ, mô
hình vật lí mà HS chế tạo được; mẫu vật sưu tầm được; đồ dùng phục vụ cho
việc dạy học; biểu diễn thí nghiệm vật lí có liên quan đến kiến thức vật lí phổ
thông mà HS đã được học. Triển lãm có thể tổ chức kết hợp với hội vui vật lí
hoặc tiến hành cùng với các bộ môn khác như toán, hóa, sinh, công nghệ…
Báo tường về vật lí là một hình thức hoạt động ngoại khóa khá hấp dẫn,
dễ tổ chức, lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, không phân biệt trình độ HS
nhiều. Hình thức hoạt động ngoại khóa này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy
HS sưu tầm, đọc các sách báo hoặc giải các bài toán hay về vật lí. Báo tường về
vật lí cũng là một hoạt động để GV hoặc các thành viên tích cực trong lớp công
20
bố các bài toán hay mà không có điều kiện hoặc không cần thiết phải trình bày
trên lớp.
- Dựa vào cách thức tổ chức cho HS tham gia ngoại khóa, có:
+ Tham quan các công trình kĩ thuật ứng dụng kiến thức vật lí đã học là một
hình thức tổ chức dạy học trong thực tế, quan sát trực tiếp của HS dưới sự
hướng dẫn của GV và cơ sở tham quan nhằm nghiên cứu sự vật, hiện tượng, qui
trình...cần tìm hiểu trong nội dung dạy học. Hình thức tham quan ngoại khóa có
thể được tổ chức trước, trong và sau khi học một kiến thức nào đó
+ Câu lạc bộ vật lí là nơi tập trung những cá nhân có cùng sở thích, nhu cầu,
nguyện vọng, cùng nhau hoạt động để đạt được mục đích nào đó. Hoạt động câu
lạc bộ vật lí ở trường học là một loại hình hoạt động ngoài giờ lên lớp, là môi
trường tốt nhất để các cá nhân yêu thích vật lí có dịp học tập, sinh hoạt, rèn
luyện, vui chơi giải trí... với các kiến thức vật lí trên tinh thần tự nguyện, nhằm
phát huy năng lực bản thân, trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết để vận
dụng vào thực tiễn đời sống xã hội
+ Hội thi vật lí là nơi để mỗi cá nhân hoặc tập thể thể hiện khả năng của mình,
thể là tập thể đông người. Trong điều kiện cho phép có thể huy động HS toàn
trường tham gia, không phân biệt trình độ HS.
- Có kế hoạch cụ thể về mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức,
lịch hoạt động cụ thể và thời gian thực hiện.
- Kết quả hoạt động ngoại khóa của HS không không đánh giá bằng điểm số như
đánh giá kết quả học tập nội khóa.
- Việc đánh giá kết quả của hoạt động ngoại khóa vật lí thông qua tính tích cực,
sáng tạo của HS và sản phẩm của quá trình hoạt động. Ngoài ra, kết quả của
hoạt động ngoại khóa được đánh giá một cách công khai thông qua cả GV và
HS. Để khích lệ quá trình hoạt động của HS thì cũng cần có sự khuyến khích và
phần thưởng động viên kịp thời cho các em.
22
- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phải đa dạng, phong
phú, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều HS tham gia.
1.3.4 Nguyên tắc tổ chức HĐNK vật lí
- Đảm bảo tính mục đích và tính kế hoạch: các hoạt động ngoại khóa phải
được lên kế hoạch, chỉ rõ mục đích, nội dung, hình thức và thời gian hoạt động
ngay từ đầu năm học.
- Cơ sở vật chất, điều kiện tổ chức phải phù hợp với hình thức tổ chức
HĐNK.
- Đảm bảo tính thích hợp và hiệu quả: kế hoạch hoạt động ngoại khoá phải
vừa sức, đủ điều kiện để thực hiện được.
- Đảm bảo sự thống nhất giữa GV với sự tự nguyện, chủ động và hứng thú
của HS.
- Nội dung hoạt động ngoại khoá phải linh hoạt, phong phú, cân đối giữa các
loại hình hoạt động: Tập thể, nhóm, cá nhân.
- Nội dung hoạt động ngoại khóa phải bổ sung kiến thức cho nội khóa, củng
cố, đào sâu, mở rộng hợp lí các kiến thức trong chương trình vật lí, bổ sung
những người giáo viên phải có kiến thức cơ bản về chuyên môn mà yêu cầu người
giáo viên phải có tính sáng tạo, đào sâu mở rộng kiến thức và kĩ năng ứng dụng
công nghệ thông tin. Muốn làm được như vậy, đặc biệt là giáo viên mới vào ngành
phải tích cực tự trau rồi thêm kiến thức chuyên môn và trình độ về tin học.
- HĐNK giúp giáo viên lấp những lỗ hổng kiến thức của học sinh, khi hoạt động
nội khoá có giới hạn về thời gian mà giáo viên không thể nêu hết kiến thức được.
- HĐNK có thể rút ngắn khoảng cách giữa giáo viên và học sinh. Qua đó
giáo viên có thể giải quyết những thắc mắc của học sinh. Giáo viên cũng có điều
kiện tốt để kiểm tra các kết quả nghiên cứu của mình, nắm vững khả năng, tâm lí
của học sinh, qua đó có những phương pháp dạy học hiệu quả hơn.
b. Đối với học sinh:
- HĐNK có tác dụng giáo dục nhận thức: hoạt động ngoại khóa giúp HS
củng cố, đào sâu, mở rộng những tri thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp HS vận
dụng tri thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra theo
phương châm học đi đôi với hành, lí thuyết gắn liền với thực tiễn.
- HĐNK có tác dụng rèn luyện kĩ năng: hoạt động ngoại khóa rèn luyện
cho HS khả năng tự quản, kĩ năng tổ chức, điều khiển, làm việc theo nhóm,
ngoài ra còn góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, chế tạo
dụng cụ và làm thí nghiệm,…
24
- HĐNK có tác dụng giáo dục tinh thần thái độ: hoạt động ngoại khóa tạo
hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, lôi cuốn HS tự giác tham gia
nhiệt tình các hoạt động, phát huy tính tích cực, nỗ lực của HS.
- HĐNK có tác dụng phát triển năng lực học sinh :
Phát triển năng lực tư duy, hoạt động ngoại khóa có thể rèn luyện cho HS
các loại tư duy: Tư duy logic; Tư duy trừu tượng; Tư duy kinh nghiệm; Tư duy
phân tích; Tư duy tổng hợp; Tư duy sáng tạo.
Phát triển năng lực tự học thông qua tài liệu ôn tập, chủ đề HĐNK.