1. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Một thực tế phũ phàng là lao động Việt Nam đang ở đỉnh cao của thời kì “dân
số vàng ”nhưng lực lượng lao động thất nghiệp và thiếu việc làm còn cao, tỉ lệ lao
động trình độ đại học cao đẳng ra trường làm trái nghề hoặc không xin được việc
đang ở mức đáng báo động, là nỗi lo của toàn xã hội.
Nguyên nhân chính là do thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội
ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách
nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong
những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời....mà Giáo dục nước ta đang
nặng về lí thuyết, thiếu thực hành và hình thành năng lực nên khi vào làm việc gặp
rất nhiều khó khăn: nhiều tổ chức doanh nghiệp phải đào tạo lại, thời gian học việc
lâu và năng suất lao động chưa cao.
Nhận thấy thực trạng trên Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước
chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của
người học – từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới
việc học sinh học được cái gì qua việc học. Một giờ học tốt là một giờ học phát
huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học
nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức
vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình
cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học.
Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục,
nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi
học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực
hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý
1
đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và
thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với
HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động
thể đáp ứng được các chuẩn đầu ra mong đợi. Đối với các chuẩn đầu ra về mặt kỹ
năng, giáo viên cần có những kế hoạch và phương pháp giảng dạy một cách cụ thể
và có mục đích. Ví dụ như yêu cầu học sinh làm việc nhóm không có nghĩa là họ
sẽ học được kỹ năng làm việc theo nhóm hiệu quả.
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng linh hoạt kĩ thuật dạy học
nhóm nhằm phát huy năng lực học sinh Chủ đề: Nhật bản (tiết 1) - Địa lí 11” làm đối tượng nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy học của bản thân, từ
đó đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện của
ngành giáo dục nước nhà.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề cốt lõi trong dạy học theo định hướng
phát triển năng lực.
- Vận dụng cải tiến kĩ thuật hoạt động nhóm phát huy năng lực học sinh
một bài học cụ thể: Bài 9: Nhật Bản - Địa lí 11
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Trong phạm vi đề tài này, như tên gọi của nó, tôi tập trung nghiên cứu các
vấn đề lí luận về kĩ thuật hoạt động nhóm theo định hướng phát triển năng lực để
vận dụng vào việc dạy – học một bài học cụ thể: Bài 9: Nhật Bản (tiết 1)- Địa lí
11. Từ đó đưa ra những cách tiếp cận, giảng dạy có hiệu quả làm tiền đề áp dụng
rộng rãi hơn cho những năm sau.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài được thực nghiệm đối với học sinh lớp 11 - Trường THPT Hoằng Hoá
– Huyện Hoằng Hoá – Tỉnh Thanh Hoá.
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
3
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi vận dụng đồng thời các phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học..
Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 -6 học sinh. Nhiệm vụ của các nhóm có
thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ
đề chung.
Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố một chủ đề
đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới. Ở mức độ cao, có thể đề ra những
nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnh vực đề tài và trình bày kết
quả của mình cho những học sinh khác ở dạng bài giảng.
2.1.2 Các kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên
và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá
trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy
học. Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt
trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích
tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS.
a. Kĩ thuật phòng tranh
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.
- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.
- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ
5
những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung
quanh lớp học như một triển lãm tranh.
- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
- Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối
ưu.
b. Kĩ thuật công đoạn
- HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ
khác nhau. Ví dụ: nhóm 1- thảo luận câu A, nhóm 2- thảo luận câu B, nhóm 3- thảo
- Phân loại các ý kiến.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng
- Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận.
d. Kĩ thuật “ Trình bày một phút”
Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những
câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và
cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ
giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn
đề như thế nào.
Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các
câu hỏi sau: Điều quan trọngnhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các
em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?...
- HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức
khác nhau.
- Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã
học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các
em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.
e. Kĩ thuật “ Hỏi và trả lời”
Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học
thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi.
7
Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
- GV nêu chủ đề .
- GV (hoặc 1 HS) sẽ bắt đầu đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu một
HS khác trả lời câu hỏi đó.
- HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu
nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản và phổ thông về địa lí gồm
một loạt các khái niệm chung về kinh tế thế giới hiện đại, toàn cầu hóa, tri thức
hóa…Các khái niệm tập hợp về các nước phát triển và đang phát triển ở một số khu
vực trên thế giới như: Hoa Kì, Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, các
nước Mĩ La Tinh, các nước Tây Nam Á…
Chương trình của sgk Địa lí 11 được xây dựng theo con đường diễn dịch và
có 2 phần lớn sau đây:
Phần A: Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới
Phần B: Địa lí khu vực và quốc gia
Do mỗi tuần chỉ có một tiết và trung bình cứ khoảng 2 đến 3 tiết lại có một
tiết thực hành nên có thể nói, cấu trúc và nội dung chương trình Địa lí 11 rất thuận
lợi cho việc dạy và học theo định hướng phát triển năng lực.
2.2.2 Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực ở các
trườngTHPT trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá chung và trường THPT Hoằng
Hoá nói riêng.
Trong những năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấp
thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến. Việc
áp dụng những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện, song không
thường xuyên và còn mang nặng tính hình thức vì thế tính hiệu quả khi sử dụng
một số phương pháp còn nhiều hạn chế. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức.
9
Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm rèn luyện các kỹ
năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh chưa được
thực sự quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện, bị
dạy chưa được thực hiện rộng rãi (chủ yếu khi có giáo viên dự giờ).
2.3 THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TRONG CHỦ ĐỀ: NHẬT BẢN
I. TỰ NHIÊN, DÂN CƯ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- Năng lực hợp tác
video…
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực sử dụng số liệu thống kê
- Năng lực sử dụng công nghệ thông - Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ
tin
5. Tích hợp:
+ Liên môn Lịch sử Nhật Bản sau chiến tranh thế giới 2
+ Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, TNTN
II. Phương pháp, kĩ thuật dạy học
- Phương pháp hoạt động nhóm
- Kĩ thuật công đoạn
- Kĩ thuật phòng tranh
- Kĩ thuật “ trình bày 1 phút”
III. Chuẩn bị của Giáo viên và học sinh
1. Giáo viên
- Bản đồ địa lí tự nhiên Châu Á, bản đồ tự nhiên Nhật Bản
- Lược đồ tự nhiên SGK
- Tranh ảnh, video clip về tự nhiên, dân cư và xã hội, kinh tế Nhật Bản
- Sơ đồ tư duy toàn bài, phòng máy (máy tính, bảng tương tác thông minh…),
viết dạ, giấy roki, nam châm...
2. Học sinh
Để dạy bài này, Giáo viên sử dụng phương pháp dạy học nhóm và kĩ thuật
công đoạn là chủ đạo nên ở cuối tiết học trước (Tiết 4: Thực hành Liên Bang Nga),
giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị cho bài tiết sau với các nội dung sau:
- Là một quần đảo nằm ở Đông Bắc
+ Xác định vị trí của Nb.
châu Á.
+ Phạm vi lãnh thổ
- Xung quanh giáp nhiều biển và
+ Vị trí đó có những thuận lợi và khó khăn gì Thái bình Dương.
đối với sự phát triển kinh tế Nhật?
+ Phạm vi lãnh thổ:
Bước 2: HS lên bảng trình bày, xác định trên - Gồm có 4 đảo lớn: Hô-cai-đô,
hình (gọi ngẫu nhiên),
Hôn-su, Xi-cô-cư, Kiu-xiu và trên
Bước 3: HS khác quan sát bản đồ nhận xét bổ 1000 đảo nhỏ.
sung. GV chuẩn kiến thức.
- Diện tích: 378 nghìn km2
PP nhóm: Kĩ thuật công đoạn
- Dân số: 127,7 triệu người (2005)
Bước 1: GV nêu vấn đề
Lần 1: 1’
2
B
3
C
4
D
NV
1
Nhóm D
Lần 2: 1’
2
A
3
B
4
C
NV
1
Nhóm C
Lần 3: 1’
thủy điện lớn, quy mô và công suất
nhỏ; du lịch.
NV
1
2
3
4
* Bờ biển: dài, khúc khuỷu nhiều
Nhóm
A
B
C
D
Bước 3: Các nhóm lần lượt trình bày và kết vũng vịnh, dài => Xây dựng hải
hợp chỉ bản đồ trên bảng
cảng và đánh bắt nuôi trồng thủy hải
Bước 4: GV nhận xét và kết luận chung.
sản.
Thiên nhiên Nhật đa dạng nhưng đầy thử
thách tài nguyên nghèo nàn, thiên tai thường *Khí hậu:
xuyên xẩy ra: Động đất, núi lửa, bảo sóng + Nằm trong khu vực gió mùa, mưa
13
thần => gây ra khó khăn không nhỏ đối với sự nhiều.
chú ý đến những vấn đề gì? Tại sao?
Hoạt động 2: Tìm hiểu đặc điểm dân cư của Nhật Bản
Hoạt động của GV và HS
Nội dung kiến thức
Xem đoạn phim kết hợp hiểu biết và nội III. Dân cư:
dung SGK để nhận xét đặc điểm dân cư: - Số dân: Là nước đông dân đứng thứ 8
14
Kĩ thuật trả lời nhanh
trên thế giới.
Nhóm cũ:
- Gìa hóa dân số:
Bước 1: Các nhóm có 3 phút để trao đổi + Tốc độ gia tăng dân số thấp và giảm
thảo luận
dần (Năm 2005 đạt 0,1%)
Bước 2: 1 phút trình bày:
+ Tỷ lệ người già trong dân cư ngày
Bước 3: HS trả lời, các HS khác bổ sung càng lớn.
và trả lời thêm câu hỏi phụ.
Bước 4: GV nhận xét và chuẩn kiến
kinh tế Nhật bị thiệt hại nặng nề sau 1.Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ
chiến tranh và nhiệm vụ giải giáp phát hai: Nền kinh tế bị suy sụp nghiêm
15
xít của quân đồng minh trên đất Nhật trọng.
của KH.
2. Giai đoạn từ 1950 - 1973:
Sau đó GV yêu cầu HS:
- Nền kinh tế nhanh chóng được khôi
-?
phục và phát triển nhảy vọt (1955 -
- Giải thích nguyên nhân?
1973)
Bước 2: HS dựa vào bảng 9.2 nhận xét - Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
và giải thích nguyên nhân về tốc độ tăng (>10%)
trưởng kinh tế của Nhật Bản thời kì *Nguyên nhân:
1950 – 1973.
- Chú trọng đầu tư hiện đại hoá công
5. Bổ sung, rút kinh nghiệm:
2.4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
2.4.1 Đối tượng thực nghiệm
Quá trình thực nghiệm của tôi được tiến hành tại trường THPT Hoằng Hoá ở
các lớp tôi đang tiến hành giảng dạy. Tôi đã chọn 2 lớp: 1 lớp đối chứng và 1 lớp
thực nghiệm để dạy. Cả hai lớp này đều được dạy cùng một bài:
Bài 9: Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế Nhật bản
Lớp thực nghiệm
Lớp đối chứng
Lớp
Số học sinh
Lớp
Số học sinh
11A1
44
11A2
31
Bảng 1: Các lớp và số học sinh tham gia thực nghiệm
2.4.2 Kết quả thực nghiệm
Sau khi dạy Nhật bản Bài 9 tôi đã cho học sinh làm một bài kiểm tra ngắn
(thời gian 15 phút) ở cả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Lớp thực nghiệm
Lớp đối chứng
11A1
11A2
Xếp loại
8
18,2
21
50
Yếu (
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và học theo định hướng
phát triển năng lực, tôi đề nghị:
- Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo nhà trường tiếp tục tạo điều kiện thuận
lợi để giáo viên được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về
chuyên môn, nghiệp vụ.
- Đầu tư, trang bị tốt hơn về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị dạy học hiện
đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực.
- Tất cả các giáo viên bộ môn đều áp dụng phương pháp dạy học tích cực một
cách thường xuyên để rèn luyện các kĩ năng và khả năng tự giác tìm hiểu kiến thức
của học sinh.
- Xem điểm miệng không chỉ là điểm bài cũ mà có thể là điểm xây dựng bài,
điểm hoạt động nhóm… mở rộng hình thức đánh giá hs.
Vì thời gian, trình độ của bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót cả về hình thức lẫn nội dung trình bày. Tôi rất mong và trân trọng
những góp ý chỉnh sửa của các bạn đồng nghiệp để nghiên cứu ứng dụng được
hoàn thiện hơn, phổ biến rộng rãi trong ngành, góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học bộ môn Địa lí ở trường phổ thông. Xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của Hiệu trưởng
Tôi xin cam đoan đây là nghiên
cứu ứng dụng được viết từ kinh nghiệm
dạy học 6 năm qua của bản thân và
tham khảo từ các tài liệu, không sao
19
chép nội dung của người khác.
Lê Quốc Tuấn