XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP NHẰM PHÁT HUY
NĂNG LỰC ĐỌC VĂN CHO HỌC SINH TRONG DẠY TÁC PHẨM
VĂN CHƯƠNG Ở TRƯỜNG THPT
I. MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Đọc hiểu văn bản” được xem là một bước đột phá trong đổi mới phương
pháp giảng dạy ngữ văn so với phương pháp giảng văn truyền thống. Học văn
học là phải đọc và đọc hiểu văn bản văn học. Nghiên cứu phương pháp dạy học
văn, giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Văn học sáng tác ra cho người đọc đọc, do
đó môn học tác phẩm văn học phải là môn dạy HS sinh đọc văn, giúp học sinh
hình thành kĩ năng đọc văn, trưởng thành thành người đọc có văn hoá, chứ
không phải là người biết thưởng thức việc giảng bài của thầy.”. Đọc văn được
hiểu là quá trình hoạt động tâm lí nhằm nắm bắt ý nghĩa của văn bản của người
đọc. Đọc văn bao gồm phương diện đọc là đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc lướt,
đọc kĩ, đọc diễn cảm và phương diện hiểu là giải mã văn bản, tức là hiểu những
thông tin chứa trong ngôn từ, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật từ đó cảm thụ được
cái hay cái đẹp của văn chương. Như vậy, dạy tác phẩm văn chương không phải
là phân tích hay giảng văn mà là dạy hs đọc hiểu văn bản văn học. Nhiệm vụ của
việc dạy đọc văn là giáo viên (Gv) hướng dẫn Hs thông qua hoạt động học tự
mình đọc văn bản, hình dung ra thế giới nghệ thuật trong văn bản và nhận biết
các tầng ý nghĩa phong phú từ văn bản. Với quan niệm này, việc Gv chỉ chú
trọng vào việc bình giảng cho thật hay, thật truyền cảm, đọc văn cho Hs chép sẽ
khó mang lại một giờ học văn hiệu quả vì lối dạy đó không đem lại sự cảm thụ
văn chương thật sự ở Hs. Hs sẽ dễ dàng quên những lời thầy cô dạy sau khi tiết
học kết thúc.
Để giúp Hs đọc hiểu tác phẩm văn học, Gv phải vận dụng phương pháp
dạy học tích cực, nghĩa là phải xem Hs phải là người chủ thể trong các hoạt
động học tập, là người chủ động kiến tạo các kiến thức còn mình chỉ là người tổ
chức các hoạt động học tập cho HS. Và như vậy, thiết nghĩ với vai trò là người
tổ chức hoạt động học, Gv cần phải xây dựng được hệ thống câu hỏi và bài tập
thích hợp để định hướng cho Hs tự tìm tòi kiến thức, tự giải mã tác phẩm. Xây
khoa chỉ để đối phó chiếu lệ, chép nguyên xi câu trả lời ở sách tham khảo, sách
học tốt và nhiều Hs không đọc tác phẩm ở nhà.
Ở khâu đọc hiểu trên lớp, đa phần Hs không chủ động tham gia vào hoạt
động học, có một số Gv chưa dành nhiều công sức cho việc xây dựng hệ thống
câu hỏi và bài tập, vốn là một biện pháp có khả năng dẫn dắt Hs tham gia vào
giờ học một cách hứng thú, hướng dẫn Hs thâm nhập, khám phá tác phẩm. Dù
đã có chủ trương đổi mới phương pháp dạy học văn theo hướng tích cực, chủ
động, tăng thực hành, gắn với thực tế nhưng việc dạy học văn ở trường THPT
hiện nay vẫn còn nhiều tiết học Gv chỉ đặt vài câu hỏi rồi chú trọng dành thời
gian vào việc đọc cho Hs ghi chép nội dung bài học. Vẫn còn nhiều Gv có gắng
diễn giảng cho hay rồi truyền cái hay đó cho Hs chép và học thuộc những thông
tin đó dùng làm bài, và như vậy, thực tế Hs không đọc văn, không tự mình hiểu
văn. Nếu không tự mình đọc hiểu văn thì Hs không thể viết văn hay được.
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là: hiện nay Hs chạy theo xu thế
chung là học lệch. Hs chỉ chú trọng các môn mà mình dự thi đại học, đa phần
coi trọng học môn tự nhiên, xem nhẹ các môn xã hội nên không tích cực chú
tâm vào môn hoc này khiến Gv dạy chán nản, buông xuôi không dành thời gian
đầu tư vào xây dựng bài tập định hướng giúp Hs đọc hiểu văn bản. Chương trình
học nặng nề, nhiều tác phẩm giàu giá trị văn chương nhưng vượt quá tầm đón
nhận của học sinh nên Gv và Hs chạy đua với thời gian hoàn thành nội dung bài
học để đối phó thi cử. Nội dung thi cử phần lớn vẫn đóng khung trong bài học
sách giáo khoa, sách chuẩn kiến thức, sách giáo viên mà không đề cao tính sáng
tạo nên một số Gv cho Hs chép thuộc lòng những kiến thức đó là đảm bảo yêu
cầu mà không cần chú trọng đến việc năng cao năng lực đọc hiểu sáng tạo cho
Hs.
Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và khắc phục thực trạng trên, tôi
cho rằng Gv dạy ngữ văn cần chú trọng nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi
và bài tập tăng cường khả năng đọc hiểu văn cho Hs để việc dạy học văn đạt
hiệu quả thật sự.
quân mà đoàn binh Tây Tiến phải trải qua? Quang Dũng dùng những thủ pháp
nghệ thuật gì để gợi tả? Phân tích chỉ ra những đặc sắc trong nghệ thuật miêu
tả?
Khi sử dụng câu hỏi phát hiện, phân tích, Gv cần chọn những điểm cốt yếu
trong tác phẩm để đặt câu hỏi, tránh nêu câu hỏi vụn vặt.
Ví dụ: Trong tác phẩm Vợ chồng A phủ - Tô Hoài, để giúp Hs phát hiện,
phân tích sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc của nhân vật Mị, Gv đặt
câu hỏi: “Nêu những diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình
mùa xuân? Từ những suy nghĩ và hành động của Mị, em hãy rút ra nhận xét về
nhân vật này?” không nên đặt câu hỏi: “Trong đêm mùa xuân, khi nghe tiếng
sáo Mị đã làm gì? Cách Mị uống rượu như thế nào? Sau khi uống rượu Mị đã
nghĩ gì và làm gì? Việc Mị muốn đi chơi có ý nghĩa gì?”
Hoặc: Với tác phẩm Vợ Nhặt – Kim Lân, Gv hỏi: “Câu chuyện “Vợ Nhặt”
diễn ra trong bối cảnh xã hội như thế nào?” và không nên đặt câu hỏi “Không
khí ngày đói như thế nào? Có những âm thanh gì? Con người được miêu tả như
thế nào?” Bởi vì, cách đặt câu hỏi phát hiện cần phải chú trọng kiểm tra năng lực
lựa chọn và trình bày dẫn chứng của học sinh. Hỏi vụn vặt vừa mất thời gian vừa
không đánh giá được khả năng này.
1.1.2 Câu hỏi khái quát vấn đề
Câu hỏi khái quát là câu hỏi giúp Hs hệ thống hóa bài học. Hs tiếp thu kiến
thức không chỉ dừng lại ở mức đô hiểu biết những vấn đề riêng lẻ bên ngoài mà
phải đi sâu nắm được bản chất của vấn đề. Trong quá trình tìm hiểu tác phẩm,
sau khi hướng dẫn Hs tìm hiểu các hình ảnh, chi tiết tiêu biểu, nhân vật, thủ pháp
nghệ thuật… Gv cần đưa ra câu hỏi khái quát để Hs khái quát bản chất của vấn
đề và rút ra chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
Ví dụ: Việc “Mị sống lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi” và “Mị nghĩ mình
là con trâu con ngựa” nói lên điều gì? Từ nỗi khổ nhục của Mị, em hãy nêu giá
trị hiện thực của tác phẩm?
Hoặc, Từ nỗi đau bị từ chối quyền làm người của Chí Phèo, em hãy làm rõ
chiều sâu chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao?
lí, kết cấu vòng tròn đưa ra câu hỏi thảo luận “Kết cấu của truyện có gì độc đáo,
ý nghĩa của kết cấu đối với truyện?” hoặc dựa vào đặc điểm nhân vật – Chí Phèo
là nhân vật điển hình xây dựng câu hỏi “Ý nghĩa khái quát điển hình của hình
tượng nhân vật Chí Phèo là gì?”.
1.1.4 Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng
Theo Nguyễn Trọng Hoàn, câu hỏi phát huy liên tưởng, tưởng tượng nghệ
thuật của Hs là câu hỏi dựa trên đặc trưng của tư duy văn học, hướng vào mục
đích khai thác tính nghệ thuật của tác phẩm, tính logic khoa học của kiến thức.
Câu hỏi này giúp Hs liên tưởng hiện thực của tác phẩm với hiện thực đời sống,
mối quan hệ giữa các nhân vật và hoàn cảnh, khả năng phát triển của hình
tượng, hình tượng trong tác phẩm này với tác phẩm khác, thái độ, tư tưởng của
tác giả
Ví dụ: Gv đặt câu hỏi giúp Hs từ một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm
Người lái đò sông Đà liên tưởng đến thái độ và quan điểm nghệ thuật của
Nguyễn Tuân trước và sau CMT8: Nguyễn Tuân “thèm giật mình vì một tiếng
còi xúp-lê của chuyến xe lửa” và cảm nhận tiếng nói của đàn hươu “Hỡi ông
khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” trong
khi ở Tây Bắc chưa có xây dựng đường tàu nói lên điều gì?
Hoặc: Nêu cảm nhận của em về cách kết thúc truyện Vợ Nhặt của Kim Lân
có gì khác so với cách kết thúc truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao?
1.2 Một số dạng bài tập
1.2.1 Đóng vai nhân vật
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định. Khi nhập vai diễn xuất, học sinh luôn
có xúc cảm với vai cuả một nhân vật nào đó cho nên đây là phương pháp dạy
học đặc biệt gây hứng thú học tập cho học sinh khi dạy tác phẩm truyện. Hs
được xâm nhập vào thực tế để tìm ra cách giải quyết các vần đề nên tập dượt
được kỹ năng giải quyết vấn đề hoặc đánh giá được những tích cách của các
nhân vật. Đây là dạng hoạt động học tập mang tính sáng tạo cao và kích thích
phát triển khả năng tư duy ở Hs.
hấp dẫn hơn, lôi cuốn hơn Tranh minh hoạ thường có màu sắc, hình ảnh mang
đậm tính trang trí nên dễ tác động vào tâm trí người xem nhờ đó mà Hs dễ nhớ
những hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm hơn. Bài tập này còn phát huy được khả
năng sáng tạo và tưởng tượng của Hs. Hs có thể tạo ra những tác phẩm đầy màu
sắc trong cách thể hiện tích cách của các nhân vật.
Ví dụ: Dạy tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Ngữ văn 11), Gv cho Hs
vẽ ba bức tranh tái hiện cảnh phố huyện lúc chiều tàn với cảnh chợ tàn, phố
huyện lúc về đêm xung quanh hàng nước của chị Tí và phố huyện vào thời điểm
chuyến tàu đêm đi qua. Để vẽ được ba bức tranh này, Hs phải đọc tác phẩm
nhiều lần tìm kiếm những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu đưa vào tranh, lựa chọn
màu sắc trùng khớp với sự miêu tả của tác giả. Những Hs thực hiện vẽ tranh
chắc chắn sẽ nắm vững được những chi tiết trong tác phẩm. Trong quá trình tổ
chức tiết học trên lớp, Hs sẽ rất khó tìm dẫn chứng về sự tương phản giữa ánh
sáng và bóng tối, sự tương phản giữa hình ảnh đoàn tàu và phố huyện nếu chỉ
dựa vào sách giáo khoa vì những chi tiết này nằm rải rác suốt tác phẩm nhưng
các em sẽ dễ dàng nhận ra những chi tiết này từ hình ảnh minh họa.
Hs dễ dàng trả lời những câu hỏi:
“Phố huyện được cảm nhận bằng những hình ảnh nào? Liệt kê những chi
tiết miêu tả bóng tối và ánh sáng? Em có nhận xét gì về sự tương phản giữa
bóng tối và ánh sáng? Theo em bóng tối và ánh sáng biểu trưng cho điều gì?”
(Tranh minh họa tác phẩm Hai đứa trẻ - Hs lớp 11a4 vẽ)
1.2.3 Thiết lập sơ đồ tư duy và sơ đồ hóa kiến thức
Bản đồ tư duy là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh
để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi
tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ
phân nhánh. Khi thiết lập sơ đồ tư duy cho một tác phẩm văn học, Hs dùng màu
sắc, hình ảnh, kí hiệu, từ khóa để phân tích vấn đề, ghi nhớ chi tiết quan trọng
trong tác phẩm. Việc thiết lập sơ đồ tư duy trong học tập sẽ kích thích trí nhớ,
phát huy năng lực tự học và sự sáng tạo của Hs.
Ví dụ 1: Vẽ sơ đồ tư duy mô tả nội dung và nghệ thuật bài thơ Tây Tiến –
biểu diễn, vẽ tranh hoặc đóng kịch…
Ví dụ: Dạy tác phẩm Chí phèo – Nam Cao (Ngữ văn 11), nhằm giúp Hs tìm
hiểu bi kịch tha hóa của nhân vật Chí Phèo, Gv tổ chức cho hs thực hiện dự án:
Văn học và đời sống: Ai sinh ra con quỷ dữ làng Vũ Đại?
Thời gian thực hiện 2 tuần.
Gv phân chia lớp thành các nhóm để thực hiện các tiểu chủ đề sau:
a/ Sự ảnh hưởng của môi trường sống đến sự hình thành và phát triển nhân
cách con người (môi trường tự nhiên như đất đai, sông núi, nắng mưa, hạn hán,
lũ lụt… và môi trường xã hội như bạn bè, gia đình, nhà trường, khu phố, tình
hình kinh tế, văn hóa, chinh trị, xã hội…)
b/ Quá trình phát triển tâm lí tự nhiên của con người (quá trình phát triển tư
duy từ bản năng đến hình thành kĩ xảo, trí tuệ).
c/ Hoàn cảnh xuất thân và quá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo.
Từ các tiểu chủ đề, các nhóm Hs hoàn thành chủ đề lớn: Ai sinh ra con quỷ
dữ làng Vũ Đại?
Gv định hướng yêu cầu Hs trình bày sản phẩm trước lớp bằng hình thức
đóng các vai với thời gian là 15 phút. Các Hs thực hiện một chương trình văn
học và đời sống. Hs dẫn chương trình sẽ giới thiệu một buổi phỏng vấn, tranh
luận giữa ba Hs đóng các vai nhà xã hội học, nhà tâm lí học và nhà phê bình văn
học về vấn đề: các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách con
người.
Nhà xã hội học cho rằng môi trường sống xã hội là nhân tố quyết định sự
hình thành nhân cách con người. Nhà tâm lí học trình bày khả năng thích ứng và
cải tạo hoàn cảnh xã hội của con người trong sự phát triển của tư duy là yếu tố
làm nên nhân cách. Nhà phê bình văn học bàn luận về quá trình tha hóa của
nhân vật Chí Phèo và cùng người đọc rút ra những nguyên nhân dẫn đến sự tha
hóa của Chí phèo (Tập thể Hs ngồi bên dưới dóng vai người đọc). Cuối cùng,
nhóm Hs rút ra vấn đề học tập:
+ Chí Phèo từ một nông dân hiền lành đã bị hoàn cảnh xã hội (gia đình, Bá
Kiến, nhà tù thực dân, làng Vũ Đại) làm cho tha hóa biến thành quỷ dữ, bị tàn
đậm đà yếu tố hiện thực, phản phất chất lãng mạn, chất thơ, lối kể thủ thỉ như lời
tâm sự
- Kĩ năng
+ Đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại.
+ Phân tích tâm trạng nhân vật trong tác phẩm tự sự.
B. Thiết kế bài học
I. Chuẩn bị của Gv và Hs
- Gv phân chia Hs trong lớp thành các tổ nhóm và yêu cầu nhóm
trưởng phân công các thành viên trong nhóm thực hiện một số bài tập
chuẩn bị sau:
Bài tập 1: Tìm kiếm tư liệu về tác giả Thạch Lam, tìm đọc và giới thiệu
trước lớp một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương Thạch Lam (ngoài
tác phẩm Hai đứa trẻ).
Bài tập 2: Dựa vào văn bản truyện, vẽ ba bức tranh tái hiện cảnh phố huyện
lúc chiều tàn với cảnh chợ tàn, phố huyện lúc về đêm xung quanh hàng nước của
chị tí và phố huyện vào thời điểm chuyến tàu đêm đi qua (mỗi nhóm chỉ vẽ một
bức tranh).
Bài tập 3: Lập bảng biểu: tìm những từ ngữ, chi tiết thể hiện chất thơ bình
dị của cảnh vật và tâm trạng của Liên toát ra từ ngoại cảnh.Ví dụ:,
Phố huyện Ngoại cảnh Tâm trạng Liên
Chiều tàn Tiếng trống thu không gọi buổi chiều,
chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch
nhái
Chợ vãn, mùi ẩm bốc lên, trẻ em nghèo
nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre
Cái buồn của buổi chiều quê thấm vào
tâm hồn ngây thơ, Liên cảm thấy lòng
buồn man mác
Liên cảm thấy quen thuộc quá, tưởng
mùi riêng của đất, của quê hương này
sung quan điểm văn chương
lành, giới thiệu tóm tắt một
truyện ngắn tiêu biểu cho phong
cách văn chương Thạch Lam.
- Gv yêu cầu Hs giới thiệu xuất
xứ tác phẩm.
* Hoạt động đọc hiểu văn bản
Hoạt động 1: hướng dẫn Hs
đọc và tóm tắt văn bản
- Gv yêu cầu các nhóm trình
bày sản phẩm tranh vẽ minh
họa của mình lên bảng lớn (bài
tập 2). Dựa vào tranh vẽ tóm tắt
sơ lược nội dung.
- Hs thực hiện bài tập 2
- Gv tổ chức cho Hs đọc minh
họa một đoạn văn bản, hướng
dẫn Hs đọc với giọng điệu trữ
tình, tha thiết, sâu lắng.
Hoạt động 2: đọc, cắt nghĩa
văn bản
- Gv cho Hs phối hợp văn bản
sgk và tranh vẽ trả lời các câu
hỏi phát hiện, phân tích sau:
+ Hãy chỉ ra nét đặc sắc về cách
viết văn.
- Là người đôn hậu, tinh tế. 33 tuổi qua đời vì
bệnh lao.
b. Văn chương
- Ông có quan niệm văn chương lành mạnh
sống người dân, hãy nêu những
suy nghĩ của em đời sống người
dân nơi đây qua hình ảnh chợ
tàn
+ Gam màu chủ đạo trong bức
tranh phố huyện là màu gì?
+ Bóng tối được miêu tả như
thế nào? Bóng tối biểu trưng cho
điều gì?
(Chuyển ý: Trong bóng tối dày
đặc tưởng như phố huyện đã
chìm vào giấc ngủ, dấu hiệu cho
thấy phố huyện vẫn hoạt động
đó là ánh sáng và âm thanh.)
+ Hãy phát hiện những chi tiết
miêu tả ánh sáng? Ánh sáng nào
được lặp lại nhiều lần?
+ Nếu bóng tôi 1 biểu trưng cho
sự tăm tối ngèo khổ thì ánh sáng
yếu ớt đó biểu trưng cho điều gì?
+ Em hãy liệt kê một vài âm
thanh tiêu biểu xuất hiện ở phố
huyện? Nêu cảm nhận của em
về âm thanh nơi phố huyện?
(Gv giảng bình về cách đối thoại
của con người và tiếng cười của
cụ Thi)
+ Chợ đã vãn từ lâu, người về hết, tiếng ồn
ào cũng mất, chỉ còn một vài người bán hàng
về muộn.
cuộc sống tốt đẹp.
- Âm thanh
+ Trống thu không từng tiếng một vang xa
+ Muỗi vo ve, ếch nhái kêu ran, chó sửa ma,
tiếng đàn bầu
+ Tiếng người đối thoại rời rạc, thưa thớt, có
một tiếng cười khanh khách của bà cụ Thi
hơi điên
+ Tiếng vang động chốc lát của đoàn tàu
→Những âm thanh đơn điệu, hoang vắng,
dẫu có cất lên cũng chìm ngay vào bóng tối
(Chuyển ý: Hiện ra trong khung
cảnh bóng tối tràn ngâp là những
mảnh đời tội nghiệp đang tựa
lưng vào bóng tối.)
+ Em hãy mô tả công việc của
từng người?
+ Em có cảm nhận gì về cách
sinh hoạt của họ, cách họ cư xử
vói nhau? Họ có mơ ước gì?
- Gv đặt câu hỏi nêu vấn đề:
thông thường các nhân vật trong
truyện ngắn xuất hiện vào nhiều
thời điểm khác nhau, nhưng
trong truyện này, tất cả các nhân
vật đều xuất hiện trong đêm và
hoạt động của họ diễn ra trong
đêm và tất cả những người này
đều thức chờ tàu không vì mục
đích đi tàu hoặc bán hàng. Mục
+ Lãnh đạm với công việc “mai làm một
thể”.
+ Hành động lặp đi lặp lại những việc quen
thuộc “ngày nào cũng dọn hàng…”.
+ Thường im lặng ngồi nhìn, mong đợi và
mơ tưởng xa xôi “chừng ấy người trong bóng
tối mong đợi một cái gì đó tươi sáng”.
+ Cư xử với nhau dịu dàng, nhân hậu.
→ Người dân phố huyện có cuộc sống lam
lũ, nghèo khổ, chìm khuất trong mỏi mòn, tối
tăm, quẩn quanh nhưng họ có tâm hồn nhân
hậu, dịu dàng và không nguôi hy vọng.
* Tiểu kết:
Bức tranh phố huyện có sự pha trộn giữa
hình ảnh êm đềm thi vị và hình ảnh gợi cái
nghèo khổ, sa sút. Với các hình ảnh chiều
tàn, chợ tàn, bóng tối, ánh sáng, âm thanh và
con người , cùng với thủ pháp tương phản,
đối lập giữa bóng tối và ánh sáng, giữa âm
thanh và sự tĩnh lặng, tác giả một mặt gợi
không khí êm đềm, tĩnh lặng cùng chất thơ
riêng của phố huyện, mặt khác cũng cho thấy
cuộc sống chìm khuất, tăm tối, lay lắt của
người dân phố huyện, đồng thời bộc lộ tấm
lòng cảm thông, chia sẻ, trân trọng nâng niu
khái quát: Qua khung cảnh và
con người phố huyện, em hãy
chỉ ra mối liên hệ giữa tuổi thơ
của Thạch Lam và truyện và giá
trị hiện thực, nhân đạo của tác
người đọc điều gì?
những vẻ đẹp tâm hồn của nhà văn giành cho
những người nghèo khổ. → Giá trị hiện thực
và nhân đạo
2. Tâm trạng nhân vật Liên
- Trước sự bình lặng của buổi chiều quê,
cảnh chợ tàn, Liên cảm thấy lòng buồn man
mác, cảm nhận được mùi riêng của đất, của
quê hương.
- Về đêm, Liên buồn bã, yên lặng dõi theo
những cảnh đời nhọc nhằn, kiếp người tàn tạ
và cảm nhận được cuộc sống tù đọng trong
bóng tối của họ và hồi tưởng về những ngày
tươi đẹp khi còn sống ở Hà Nội.
Ví dụ:
+ Thương những đứa trẻ nghèo
+ Ân cần hỏi thăm chị Tí
+ Rót đầy rượu cho cụ Thi
+ Tuổi thơ được sống sung sướng ở Hà Nội,
được đi chơi bờ hồ
- Cảm xúc buồn vui khó tả trước, trong và
sau khi chuyến tàu đêm đi qua:
+ Tàu chưa đến: khắc khoải, háo hức chờ
mong.
+ Tàu đến: hân hoan, ngây ngất ngắm nhìn,
thu vào tâm trí tất cả sự huyên náo, rực rỡ
của đoàn tàu.
+ Tàu đi: bâng khuâng, ngậm ngùi, nuối tiếc
và lặng theo mơ tưởng về Hà Nội đầy màu
sắc và ánh sáng.
Còi rít lên, tàu
rầm rộ đi tới
Đơn điệu, rời
rạc, hoang vắng
Ánh
sáng
Đèn áng trưng
chiếu xuống
đường, đồng và
kền lấp lánh…
Yếu ớt, leo lét
không đủ sức
xua tan bóng
đêm
Con
người
Lố nhố người,
sang trọng
một nhóm
người nghèo
khổ
ý
nghĩa
Chuyến tàu là biểu tượng của
một thế giới giàu sang, rực rỡ ánh
sáng. Nó đối lập với cuộc sống
nghèo nàn, tăm tối nơi phố
huyện. Dù tàu chỉ vụt qua như tia
chớp nhưng cũng đủ mang lai cho
Phố huyện chút khác lạ. Con tàu
kiến
Số HS % Số HS % Số
HS
%
Học sinh thích Gv cho bài tập định
hướng thay vì soạn bài theo câu hỏi
SGK
25 62,5 15 37.5 0 0
Sử dụng các câu hỏi và bài tập này
là cần thiết vì có tác dụng nâng cao
năng lực hiểu văn bản cho Hs.
35 87,5 5 12.5 0 0
Các câu hỏi và bài tập phát huy được
tính thích cực, chủ động, sáng tạo và
tinh thần tự học của học sinh.
40 100 0 0 0 0
Các bài tập này giúp Hs nhớ kiến
thức lâu hơn và viết được bài văn.
32 80 8 20 0 0
*Bảng thống kê điểm kiểm tra với đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng
nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
Lớp Số
H
S
Điểm/số học sinh đạt điểm Tổng
số
điểm
Điểm
trung
bình
văn” , website w.w.w. wordpress.com
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện
chương trình sách giáo khoa lớp 10, 11,12 THPT- Ngữ văn, Sách giáo khoa và
sách giáo viên ngữ văn 11,Chuẩn kiến thức kĩ năng lớp 11, Nxb Giáo dục.
5. Trường Đại học Sư phạm TPHCM, Dạy học tác giả, tác phẩm văn học
Việt Nam hiện đại ở trường Đại học Sư phạm và trường THPT - Đề tài khoa học
cấp Bộ.