SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC HỌC SINH LỚP 11
TRONG BÀI : ÔN TẬP PHẦN VĂN HỌC.
Người thực hiện: Trần Thị Hoài
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn.
MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
THANH HOÁ NĂM 2017
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1
1
1.3. Đối tượng nghiên cứu .
2
17
17
17
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là giảng dạy
các tiết Ôn tập, bản thân tôi cùng các đồng nghiệp trước đây vẫn quen sử dụng phương
pháp dạy học truyền thống. Dạy học nặng về truyền thụ kiến thức một chiều vẫn là
phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Gần đây giáo viên đã thường xuyên
chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học, sử dụng các phương
pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh, rèn luyện kỹ năng
sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận
dụng tri thức tổng hợp; việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các
phương tiện dạy học đã được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong nhà trường. Nhưng
những giờ dạy học ôn tập trước đây, tôi thấy dù được đánh giá thành công thì học sinh
vẫn còn dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ kiến thức một cách máy móc mà
chưa phát huy hết được năng lực chủ động, sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Bản thân tôi luôn băn khoăn, trăn trở làm cách nào có thể nâng cao được chất
lượng giáo dục học sinh và điều quan trọng là qua mỗi tiết học Ôn tập các em có thể
củng cố được kiến thức như thế nào và có thể ứng dụng được gì vào trong thực tiễn cuộc
sống, đặc biệt là các em có thể vừa củng cố phần lí thuyết vừa vận dụng được kiến thức
vào các bài làm văn thực sự hiệu quả. Chính vì điều đó, tôi muốn cố gắng nghiên cứu,
tìm hiểu để có thể đưa ra được một phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn một tiết
ôn tập phần văn học. Và tôi đã lựa chọn phương pháp dạy học theo định hướng phát huy
năng lực học sinh, cụ thể đã thực sự hiệu quả trong bài học Ôn tập phần văn học – Ngữ
văn 11.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Phương pháp quan sát thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp phân tích tổng hợp (Phân tích nguyên nhân, tổng hợp kết quả)
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
+ Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống : Các phương pháp dạy học truyền
thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn quan trọng. Đổi mới không có nghĩa là
loại bỏ phương pháp này mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn
chế nhược điểm của chúng, cần nắm vững yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật
trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp đểphát huy tính tích cực và sáng tạo
của học sinh.
+ Kết hợp đa dạng phương pháp dạy học: Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có
những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì vậy việc phối hợp đa dạng phương
pháp và hình thức trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát
huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Bản thân tôi đã vận dung kết hợp các
phương pháp khác nhau phù hợp với bài học.
2
+ Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học
nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học sinh được
đặt trong một tình huống có vấn đề, chứa đựng mâu thuẫn nhận thức. Thông qua việc
giải quyết vấn đề, học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học
giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh,
có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với mức độ tự lực của học sinh.
+ Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học: Phương tiện có vai trò quan
trọng trong đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí
nghiệm, thực hành. ở bài học này tôi kết hợp sử dụng máy chiếu đa năng, cho học sinh
trình bày các bảng hệ thống đã lập trên tinh thần chuẩn bị ở nhà, dùng máy chiếu hắt để
học sinh trình bày sản phẩm của mình.
+ Sử dụng kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo: Kỹ thuật dạy học là cách
lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm
mẫu trong luyện tập. Để bài học hiệu quả, cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học
mới, tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo
quan điểm dạy học giải quyết vấn đề. Đặc biệt là người giáo viên cần biết phát huy năng
lực học sinh.
Vậy, ta phải hiểu năng lực là gì?
Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt
động nào đó.[2]
Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện
thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Năng lực gồm có năng lực
chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người
nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc. Năng lực đặc thù thể hiện trên từng
lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát
triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên.
Dạy học phát triển năng lực vừa là mục tiêu giáo dục (xét về mục đích, ý nghĩa của
dạy học), vừa là một nội dung giáo dục (xét về các tiêu chuẩn, tiêu chí cần đạt của người
học) đồng thời cũng là một phương pháp giáo dục (xét về cách thức thực hiện).
Do vậy, dạy học phát triển năng lực có một ưu thế vượt trội trong hình thành và phát
triển nhân cách bởi vì nó hướng người học đi vào hoạt động cá nhân (hoạt động trong
giờ, ngoài giờ, hoạt động giao tiếp với tự nhiên, xã hội, môi trường, trải nghiệm...), mà
các hoạt động sống, hoạt động cá nhân có vai trò quyết định đối với hình thành nhân
cách. Vì vậy vấn đề còn lại là người học tham gia như thế nào các hoạt động để hình
thành và phát triển nhân cách của mình.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thứ nhất, trong quá trình giảng dạy các tiết Ôn tập, một thực tế cho thấy có nhiều
học sinh không chuẩn bị bài ở nhà, số còn lại rất ít em chuẩn bị kĩ lưỡng, một số em
chép lại từ vở các bạn hoặc từ trong sách tham khảo. Nguyên nhân chủ yếu là vì: các em
đọc sách giáo khoa mà không hiểu chổ nào là trọng tâm, đa số đều có tâm lí: soạn bài
làm gì, để đối phó thôi mà, lên lớp thế nào cô chẳng giảng lại, lúc đó chép vào vở cũng
được. Và thế là các em soạn bài một cách sơ sài, đối phó, thậm chí có em còn không biết
năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ
sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
- Có thể lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù
của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm
bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên”.
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với hình thức dạy học. Tùy theo mục tiêu,
nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như
học cá nhân, học nhóm; trong lớp học, ngoài lớp học… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp
5
đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.
- Cần sử dụng đủ, hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiếu đã quy định. Có thể sử
dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với
đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Thứ ba, một số mô hình thực tiễn dạy học phát triển năng lực
Mô hình 4 trụ cột giáo dục của UNESCO tổng hợp 4 năng lực : năng lực nhận thức,
năng lực chuyên môn, năng lực xã hội hóa, năng lực chủ thể hóa.
Mô hình tám năng lực của Việt Nam : Trong một dự thảo cho đổi mới về chương trình
sách giáo khoa sau năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra một chương trình tổng
thể gồm tám năng lực như sau : năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng
tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực
tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông. (Bộ Giáo dục và Đào tạo công
bố ngày 05/8/2015).
2.3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề : Vận dụng một số phương pháp dạy
học theo định hướng phát huy năng lực của học sinh trong bài học Ôn tập phần văn
học – Ngữ văn 11
Ở đề tài này tôi cố gắng đi sâu vào một tiết học cụ thể cụ thể trong chương trình ngữ
+ Câu hỏi phải đảm bảo tính gợi mở, tránh loại câu hỏi đánh đố HS.
+ Về hình thức: câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng khiến HS nắm bắt được ngay ý đồ của
người hỏi, yêu cầu của câu hỏi.
Câu hỏi phải phù hợp với trình độ từng đối tượng HS: giỏi, khá, trung bình, yếu, câu hỏi
khó quá HS kém không thể trả lời, câu hỏi dễ quá một HS khá, giỏi không muốn trả lời.
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề : Dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là dạy học giải
quyết vấn đề. Vấn đề: là một sự việc, một hiện tượng, một khái niệm, một hiện trạng tồn
tại khách quan mà ta gặp phải trong tư duy và hành động. Vấn đề này có thể ta chưa biết
hoặc biết rất ít về nó. [3]
Hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát huy năng lực học sinh.
Hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh là một trong những nhân
tố góp phần không nhỏ vào sự thành công trong việc nâng cao hiệu quả của công tác
giáo dục ở trường trung học phổ thông.
Dạy học môn ngữ văn ở trương THPT thường được tổ chức dưới hai hình thức cơ
bản là: hình thức tổ chức dạy học trong lớp và ngoài lớp.
Hình thức tổ chức dạy học trong lớp là hình thức tổ chức dạy học trong các giờ học
chính khóa. Trong đó giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo các
nội dung học tập. Hình thức tổ chức dạy học này được thực hiện theo các cách sau: Học
theo cá nhân, học theo nhóm, học theo góc.
7
Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp học là hình thức quan trọng, gắn các nội dung
học tập với việc vận dụng vào thực tiễn. Hình thức tổ chức này góp phần tạo ra một
không gian học tập mở, giúp học sinh có thêm các cơ hội để thể hiện năng lực học tập
của mình. Có thể tổ chức hoạt động ngoài lớp học dưới dạng các hoạt động ngoại khóa.
Ở bài Ôn tập phần văn học, tôi lựa chọn hình thức dạy học trong lớp.
b/ Những năng lực cần phát huy cho học sinh trong bài Ôn tập phần văn học - Ngữ
văn 11
- Năng lực tự học
3.2. Kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của hs.
3.3. Tiến trình bài học :
- Kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh theo tổ, nhóm dựa trên sự dăn dò chuẩn bị bài
học của giáo viên từ cuối tiết trước.
- Bài mới:
Tiết 1
Hoạt động 1 : Tìm hiểu chung
Hoạt động của GV và HS
GV giao công việc cho học
sinh .
1/ Hoạt động nhóm nhằm phát
huy năng lực tự học và năng
lực hợp tác
Lớp chia làm ba nhóm
- nhóm 1 hệ thống các văn bản
đã học và đọc thêm phần văn
học Việt Nam theo thể loại
thơ.
- nhóm 2 hệ thống các văn
bản đã học và đọc thêm phần
văn học Việt Nam theo thể loại
văn nghị luận.
- nhóm 3 hệ thống các văn bản
về văn học nước ngoài và bài
lí luận văn học
Học sinh từng nhóm làm việc
và trình bày kết quả trước lớp.
- Không còn là sự độc tôn của các nhà khoa bảng,
bác học.
- Thoát khỏi ý thức hệ của giai cấp phong kiến và sự
quy phạm về hình thức nghệ thuật.
3/ Bản chất đặc thù của các
3/ Bản chất đặc thù của các tác phẩm theo tinh thần
tác phẩm theo tinh thần thể
thể loại
loại ?
Vận dụng kiến thức về thể loại đã được học để nhận
diện và phân tích có hiệu quả các tác phẩm.
- Thơ, truyện: thế giới hình tượng, ngôn ngữ nghệ
thuật, những cảm hứng nhân đạo, nhân văn của tác
giả.
- Văn nghị luận : cấu trúc, hệ thống lập luận và ý
tưởng với mục đích xã hội của tác giả
Tiết 2
Hoạt động 2 : Luyện tập – Phần văn học Việt Nam
Hoạt động của Gv và Hs
Hoạt động nhóm và đặt
vấn đề
Gv yêu cầu học sinh vẫn
theo 3 nhóm làm việc: So
sánh, phân biệt thơ trung
đại và thơ mới về các mặt
nội dung,hình thức nghệ
thuật, ngôn ngữ...
Hs trình bày kết quả theo
bảng hệ thống, các nhóm
khác nhận xét cho nhau và
bổ sung, Gv tổng kết kiến
thức
* Định hướng cho hs giải
quyết vấn đề : Đó chỉ là
sự giống nhau về phần xác
(hình thức), còn phần hồn
(tinh thần của cái tôi cá
nhân, nỗi buồn, cô đơn
mênh mông trước trời
rộng sông dài, nối sầu vũ
tru trong Tràng Giang và
nỗi buồn, cô đơn mong
mỏi, hi vọng... trong Đây
thôn Vĩ dạ) chỉ có trong
thơ mới.
Hs làm việc theo nhóm:
- Nhóm 1: tìm hiểu bài
Xuất dương lưu biệt.
- Nhóm 2: tìm hiểu bài
Hầu trời.
Cách cảm nhận
thiên nhiên, con
người
Nhìn cuộc sống
tính chất giao thời giữa văn học trung đại và văn học hiện
đại.
Tính chất giao thời của 2 bài thơ:
Bài thơ
Xuất dương
lưu biệt
Sau thời gian tìm hiểu, 2
nhóm trao đổi kết quả, đi
tới thống nhất chung, trình
bày, Gv bổ sung nếu cần
thiết đánh giá .
=> Phát huy năng lực hoạt
động nhóm, năng lực giao
Nhìn chung
bài thơ vẫn
thuộc thơ
cũ
- Thể thơ: Thất ngôn bát
cú Đường luật.
-Chữ viết: Chữ Hán.
- Cái tôi trữ tình: Đại diện
cho các ta chung – chí sĩ,
anh hùng cứu nước – nhà
nho yêu nước.Tỏ lòng, tỏ
chí hào hùng.
- Cảm hứng chủ đạo: Bày
tỏ tâm trạng, cảm xức trong
của nhà
nho phong
kiến.
Hầu trời
Từ hình thức
đến nội
dung tư
tưởng đã có
nhiều yếu tố
mới mẻ,
nhưng vẫn
chưa bước
hẳn sang
phạm trù thơ
mới, vẫn chỉ
dừng lại ở
giai đoạn
giao thờinhịp cầu của
hiện đại hóa.
- Thể thơ : Thất ngôn
- Cái tôi trữ tình
- Cái tôi nhà nho phong
kiến tài tử, tài hoa nhưng
thất thế
- Thất ngôn
trường
- Hoạt động các nhân.
- Trao đổi thông tin
với bạn bên cạnh.
- Củng cố kiến thức
và trình bày.
- Những học sinh
khác bổ sung nếu
cần thiết.
- Giáo viên hướng
dẫn học sinh đánh
giá, kết luận vấn đề
=> Phát huy năng lực tự
học, năng lực tự giải quyết
vấn đề và sáng tạo, năng
lực hợp tác
nhiên, tình yêu cuộc sống, con người, ý chí vươn lên trước
mọi hoàn cảnh.
- Nghệ thuật đặc sắc :
+ Tả cảnh ngụ tình : Cảnh chiều tối nơi núi rừng.
+ Sử dụng hình ảnh nghệ thuật rất độc đáo và sinh động
làm cho phong cảnh chiều tối hiện lên đậm nét.
+ Ngôn từ : từ ngữ giàu tính liên tưởng, có sức gợi.
* Bài thơ Lai Tân
- Nội dung : Tình trạng thối nát, mọt ruỗng một cách
phổ biến của bộ máy chính quyền Trung Hoa dưới quyền
Tưởng Giới Thạch.
- Nghệ thuật châm biếm đả kích nhằn làm cho bộ mặt
đó ghi vào bảng hệ thống.
- Học sinh làm việc cá
nhân, trình bày, những học
sinh khác có thể bổ sung,
giáo viên cùng học sinh
hoàn thành bảng hệ thống.
- Nội dung : Tâm trạng là nỗi nhớ thương da diết của nhà
thơ – người chiến sĩ cách mạng đang bị tù đày dành cho
quê hương, đồng bào. Tình cảm ấy vượt qua sự cách trở
của không gian, vượt lên hoàn cảnh gian khổ tù đày mà
người chiến sĩ cộng sản đang phải đối mặt. Đó là tình
cảm lớn, cao quý, sâu nặng luôn thường trực trong lòng
một con người say mê lí tưởng.
- Nghệ thuật :
+ Nghệ thuật diễn tả tâm trạng.
+ Sử dụng hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu làm cho cung bậc
của tâm trạng biến đổi theo mạch liên tưởng của tác giả
về quê hương, đồng bào.
+ Điệp khúc : Những câu thơ diễn tả tâm trạng ở đầu các
khổ thơ nhằm liên kết nội dung, tô đậm cảm xúc, khắc
sâu lí tưởng của nhà thơ.
B/ Văn nghị luận
Bảng hệ thống
Văn bản, tác giả, thể loại
văn nghị luận
Về luân lí xã hội ở nước
ta – Phan Châu Trinh
(Nghị luận xã hội – bài
diễn thuyết)
văn học, tiểu luận mở
đầu một hợp tuyển thơ
mới)
Tiết 3
Sức khái quát, tổng hợp vấn
đề rộng và sâu, luận điểm
mới mẻ được chứng minh và
giải thích bằng lí luận và dẫn
chứng tường tận, rành mạch;
lời văn giàu cảm xúc, hình
ảnh, hình tượng nên bài tiểu
luận rất gần với văn bản
nghệ thuật.
Hoạt động 3: Luyện tập
Phần văn học nước ngoài và lí luận văn học
Hoạt động của Gv và Hs
Lập bảng hệ thống những tác
phẩm, đoạn trích đã học trên
hai phương diện nội dung và
hình thức nghệ thuật.
- Hs làm việc cá nhân, trình
bày, những học sinh khác có
thể bổ sung, giáo viên cùng
học sinh hoàn thành bảng hệ
thống
Đặc sắc nghệ
thuật
Diễn tả trực tiếp
các cung bậc
cảm xúc, ngôn
ngữ giản dị,
trong sáng...
Cách kể
chuyện, giọng
kể chậm buồn,
hình ảnh mang
tính biểu tượng
15
thủ, cá nhân,
thức tỉnh mọi
người: không
thể sống mãi
như thế được!
Người cầm
Lên án pháp
quyền khôi
luận xã hội tư
phục uy quyền- sản Pháp đầu
V.Huy-gô, đoạn thế kỉ XIX;
trích, tiểu
Cảm thông với
cống hiến quan
trọng nhất của
Các Mác đối
với lịch sử nhân
loại.
cao, xây dựng
nhân vật điển
hình, bình luận
trữ tình ngoại
đề.
Bút pháp lãng
mạn,
tình
huống bất ngờ,
giàu kịch tính,
nghệ thuật đối
lập tương phản,
bình luận ngoại
đề.
Hình ảnh so
sánh giả định
liên tiếp chồng
chất và kéo dài
như một bài
triết lí về tình
yêu.
Luận điểm và
lập luận hết sức
2.4.
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường
Từ việc đổi mới phương pháp dạy học và qua quá trình đầu tư soạn giáo án, tôi thấy
hiệu quả của việc vận dụng một số phương pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực
của học sinh trong bài dạy của tôi tăng lên là rõ rệt.
Hầu hết học sinh hiểu bài và có hứng thú với việc học tập, qua bài học Ôn tập phần
văn học 11 các em có thể phát huy được năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề
và sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực thẩm mĩ, của mình trong việc
tiếp nhận tri thức và các em được thể hiện khả năng thuyết trình một vấn đề trước đám
đông nên các em cảm thấy thích học.
Để thực nghiệm có kết quả cụ thể, tôi đã cho học sinh ở hai lớp 11B5 và 11B6 làm bài
tập vận dụng, chấm điểm.
Bài tập : 1/ Tại sao nói Tản Đà là cái gạch nối giữa hai thời đại văn học?
2/ Đặc trưng nghệ thuật của văn học trung đại và văn học hiện đại ? Dẫn
chứng qua tác phẩm cụ thể ?
Kết quả đạt được như sau :
Lớp Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
3. 11B5 44 em 12 em =
18 em=
14 em =
kiến
27,27%
40,90%
31,81%
3.1. 11B6 43 em 10 em =
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép
của người khác.
Trần Thị Hoài
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Trọng Hoàn, Giới thiệu giáo án Ngữ văn 11, Tập 2,
NXB Hà Nội – 2007
[2]. Từ điển Tiếng Việt, Viện khoa học xã hội, 1992.
[3]. Modul 18 – Phương pháp dạy học tích cực.
[4]. Nguyễn Đăng Mạnh, Những bài giảng về tác gia văn học tập 2, NXB ĐHQG,
1999.
[5]. Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát
triển năng lực học sinh môn Ngữ văn – Bộ giáo dục đào tạo – năm 2014.
19