SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị : THPT LONG PHƢỚC
_________________
Mã số: …………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
LỊCH SỬ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
Ngƣời thực hiện: Phan Thị Giang
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phƣơng pháp dạy học bộ môn: Lịch sử
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiệnvật khá
Năm học:2015-2016
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
+ Vận dụng một số phương pháp dạy học Lịch sử nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh ở trường THPT
MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Các nhà tâm lý đã khẳng định: tƣ duy là một trong những năng lực nhận
thức của con ngƣời nói chung, học sinh nói riêng.“Tư duy là quá trình nhận thức
phản ánh bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng
trong hiện thực khách quan mà ta chưa biết”1. Tƣ duy là hoạt động trí tuệ bao gồm
các thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tƣợng hoá, khát quát hoá.
Một số ngƣời có quan niệm, môn Lịch sử không phát triển tƣ duy, bởi nó
1
Nguyễn Thị Côi, Các con đƣờng, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông, NXB Đại học
Sƣ phạm, H, 2006.
2
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
gắn liền với việc học thuộc, ghi nhớ sự kiện, không cần thông minh, chỉ cần chịu
khó. Đây là một quan niệm hết sức sai lầm, bởi khi học Lịch sử, quá trình nhận
thức của học sinh đi từ tri giác tài liệu đến tạo biểu tƣợng rồi phân tích, so sánh,
đối chiếu… để tìm ra dấu hiệu bản chất tức là hình thành khái niệm, rút quy luật,
bài học lịch sử. Tất nhiên, muốn có hoạt động phân tích, so sánh, tổng hợp… phải
kích thích tƣ duy.
Tuy nhiên, thực tế trong dạy học hiện nay, tình trạng học vẹt, thụ động, thiếu
chất lƣợng học tập Lịch sử ngày càng giảm sút nghiêm trọng. Nhất là trong kì thi
tuyển sinh Đại học năm 2010-2011 có tới 98,7 % bài thi môn Lịch sử dƣới điểm
2
Luật Giáo dục
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
3
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
trung bình. Đặc biệt trong hai năm nay ở kỳ thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia cho
thấy số lƣợng thí sinh đăng ký môn Lịch sử là rất ít, quá ít, thậm chí có những hội
đồng thi không có thí sinh nào. Bên cạnh đó, biểu hiện của việc giảm sút chất
lƣợng bộ môn là tình trạng coi thƣờng, nhớ nhầm sự kiện, không hiểu Lịch sử,
không vận dụng bài học, xu hƣớng học lệch của học sinh, tô hồng, bóp méo lịch
sử... Trong thực tế ở trƣờng, ngay cả những học sinh có kết quả học lực khá-giỏi,
khi hỏi về cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai diễn
ra và kết thúc vào thời gian nào?. Hoặc là năm sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh,
nhiều em trả lới rất lúng túng, thậm chí không nhớ.
Tuy nhiên trong dạy học lịch sử, nhiều trƣờng hợp đã không tận dụng đƣợc
khả năng tạo ra sự xúc động, sự rung cảm của học sinh trƣớc các nhân chúng, sự
kiện, hiện tƣợng lịch sử, hành động lịch sử... Do đó tác dụng giáo dục của bộ môn
bị hạn chế rất nhiều trong quá trình học.
Khi tiến hành bài học lịch sử, giáo viên thƣờng mắc phải hai sai lầm: Thứ nhất
thoát li hẳn nội dung sách giáo khoa. Thứ hai là lặp lại nguyên văn bài viết của sách
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
1. Phƣơng pháp sử dụng lƣợc đồ, tƣ liệu lịch sử, tranh, ảnh lịch sử..
Lƣợc đồ, tranh, ảnh lịch sử....trong sách giáo khoa là một phần của đồ dùng
trực quan trong quá trình dạy học. Nó có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là nguồn
kiến thức, có tác dụng giáo dục tƣ tƣởng, tính cách mà còn phát triển tƣ duy cho
học sinh. Từ việc quan sát, học sinh sẽ đi tới tƣ duy trừu tƣợng. Từ việc quan sát
thƣờng xuyên, giáo viên luyện cho các em thói quen quan sát và khả năng quan sát
các vật thể một cách khoa học, có phân tích, giải thích để đi đến những khái quát,
rút ra nhận xét, kết luận về các sự kiện, hiện tƣợng lịch sử đã xảy ra trong quá khứ
đƣợc nhìn nhận đánh giá ở hiện tại.
Trên cơ sở những sự kiện lịch sử cụ thể, chính xác, giáo viên vận dụng linh
hoạt hệ thống phƣơng pháp dạy học lịch sử để tạo biểu tƣợng có hình ảnh về sự
kiện, nhân vật lịch sử. Từ đó, gợi ý, hƣớng dẫn học sinh suy nghĩ rút ra những kết
luận, những bài học lịch sử cho hiện tại và tƣơng lai. .
Ví dụ: Khi giảng bài 23: “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất
đất nƣớc, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỷ XVIII”, nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh trong học lịch sử, lòng yêu quý, kính trọng các vị anh hùng dân tộc, cụ thể là
anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, giáo viên lựa chọn những sự kiện cơ
bản thể hiện vai trò của ông trong việc bƣớc đầu hoàn thành sự nghiệp thống nhất
đất nƣớc; đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc...đƣa đất nƣớc dần dần
ổn định sau nhiều thế kỷ bị chia cắt; kết hợp với tƣờng thuật diễn biến trận đánh
Ngọc Hồi – Đống Đa (Tết Kỷ Dậu -1789) trên lƣợc đồ.
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
5
cần thiết trong cuộc sống. Tổng hợp kiến thức của các môn học có sự tƣơng tác với
nhau. Đặc biệt trong đó có năng lực vận dụng kiến thức, năng lực tổng hợp để giải
quyết các tình huống thực tiễn, các câu hỏi, bài tập hàng ngày. Không chỉ đối với
Lịch sử mà còn đối với các môn nhƣ Văn học - Địa lý- Giáo dục công dân...
Với thói quen dạy học truyền thống của ngƣời giáo viên là chỉ truyền đạt,
chuyển tải kiến thức của từng môn học đơn lẻ. Trong xu thế cải cách giáo dục, đổi
mới phƣơng pháp dạy học của ngành giáo dục nƣớc nhà, đòi hỏi ngƣời giáo viên
phải biết tích hợp các môn khoa học( khoa học tự nhiên, khoa học xã hội), dạy cho
học sinh cách thu thập, liên hệ, chọn lọc các sự kiện lịch sử, vấn đề trong các môn
học...Làm cho học sinh biết vận dụng kiến thức của môn học này để củng cố kiến
thức của các môn học khác.
4
Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, tr.225 -226.
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
7
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
Với phƣơng pháp này tôi đã áp dụng tích hợp môn Lịch sử- Địa lý- Văn họcGDCD trong bài 16 Lịch sử lớp 12 và Lịch sử lớp 10 giai đoạn thế kỷ
X-XV( chƣơng trình cơ bản)
Ví dụ 1: Khi dạy bài 16 phần II.3 Nguyễn Ái Quốc về nƣớc trực tiếp lãnh đạo
cách mạng. Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành trung ƣơng Đảng Cộng sản Đông
Dƣơng(5/1941): Để tìm hiểu về hoàn cảnh của Hội nghị lần thứ VIII, trƣớc tiên
giáo viên đƣa ra một số câu hỏi nhằm phát huy tính tích của học sinh:
Bằng những kiến thức Địa lý lớp 12 đã học, ở bài 16: Đặc điểm dân số và
phân bố dân cƣ nƣớc ta và bài 32: Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du
miền núi Bắc Bộ. Giáo viên đƣa ra câu hỏi:
1/ Em hãy cho biết ở vùng Trung du Đồng bằng Bắc Bộ( trong đó có Cao Bằng)
bao gồm có những dân tộc nào sinh sống ở đây?
2/ Em hãy cho biết vị trí địa lý của Cao Bằng( Phía Đông , phía Tây, phía Nam
của Cao Bằng giáp với những tỉnh nào)?
Từ những kiến thức Địa Lý đã học , giáo viên tiếp tục đƣa ra câu hỏi:
3/ Vì sao Nguyễn Ái Quốc chọn Pắc Bó- Cao Bằng là nơi xây dựng căn cứ địa
cách mạng của cả nước?
Sở dĩ Nguyễn Ái Quốc chọn Pác Bó- Cao Bằng để về nƣớc hoạt động và xây
dựng căn cứ địa cách mạng, đây không phải sự lựa chọn tình cờ, ngẫu nhiên, mà là
một sự tính toán kỹ, vì điểm đứng chân hết sức quan trọng, nó có ý nghĩa đối với
sự phát triển về sau của cách mạng. Lúc đầu, Ngƣời dự kiến về nƣớc theo một
hƣớng khác, nhƣng qua nghiên cứu kỹ truyền thống lịch sử, phong trào cách mạng
và địa thế của Cao Bằng, với tầm nhìn chiến lƣợc của một vị lãnh tụ thiên tài,
Ngƣời nhận thấy Cao Bằng là nơi có nhiều yếu tố thuận lợi để xây dựng căn cứ địa
cách mạng của cả nƣớc.Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới, có đƣờng biên giới
với Trung Quốc dài hơn 333 km, vừa có đƣờng bộ, đƣờng thuỷ sang Trung Quốc
nên thuận lợi cho giao thông liên lạc; có các tuyến đƣờng bộ đi xuống Lạng Sơn,
Thái Nguyên… Địa thế Cao Bằng hiểm trở, ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa là
địa bàn bọn thực dân Pháp khó kiểm soát. Từ Cao Bằng khi lực lƣợng cách mạng
phát triển, cơ sở Việt Minh mở rộng có thể nhanh chóng “Đông tiến” xuống Lạng
Sơn, “Nam tiến” xuống Thái Nguyên và “Tây tiến” sang Hà Giang, Tuyên Quang
cũng nhƣ các tỉnh vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ. Cao Bằng hội tụ đủ điều kiện
trở thành một trong những bàn đạp chiến lƣợc đầu tiên của thời kỳ khởi nghĩa vũ
trang giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng góp phần đi đến quyết định
của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là "Cao Bằng có phong trào tốt từ trƣớc”, là nơi sinh
sống của hàng chục vạn đồng bào các dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Mông, Kinh, Lô
Lô, Hoa…, các dân tộc luôn đoàn kết gắn bó với nhau, một lòng theo Đảng, không
tuổi và sau gần 30 năm buôn ba khi trở về nƣớc Ngƣời đã tóc điểm hoa râm. Hình
ảnh trở về của Ngƣời đã đƣợc nhà thơ Tố Hữu khắc họa lại trong bài “Trường ca
theo chân Bác”
... “Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về... Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ..
Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Nhớ thƣơng, hòn đất ấm hơi Ngƣời
Ba mƣơi nǎm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi!...”
Giáo viên đƣa ra câu hỏi:
Cảm nhận của em khi đọc khổ thơ trên của nhà thơ Tố Hữu?
Sau bao nhiêu năm bôn ba ở nƣớc ngoài, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc vào
mùa xuân năm 1941( ngày 2 tháng 1 năm 1941 AL). Pắc Bó thay mặt đất Mẹ, đón
ngƣời con vĩ đại nhất của dân tộc sau gần 30 năm xa cách. Có những lúc Nguyễn
Ái Quốc đã về rất gần với Tổ quốc nhƣ những năm 1924,1930 nhƣng chƣa một lần
về thăm quê hƣơng. Vì điều kiện, hoàn cảnh nƣớc nhà chƣa cho phép, Ngƣời đứng
bên kia Tổ quốc hƣớng về đất Mẹ mà nƣớc mắt rƣng rƣng. Mùa xuân năm 1941,
lần đầu tiên Ngƣời vui xuân trên mảnh đất thân yêu. Đoạn thơ trên thể hiện niềm
xúc động của nhà thơ Tố Hữu về Ngƣời. Thể hiện lý tƣởng của Nguyễn Ái Quốc là
5
Tài liệu Internet.
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
10
lúc bấy giờ. Từng bƣớc đƣa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và
trong thời đại hiện nay, Việt Nam đang trên đƣờng phát triển thì những bài học của
Ngƣời vẫn còn nguyên giá trị.
Nhƣ vậy qua kiến thức Lịch sử, khi học bài: Khái quát văn học Việt Nam từ
đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945-Văn học Lớp 11. Học sinh sẽ
hiểu đƣợc, hình ảnh của Nguyễn Ái Quốc không chỉ đi vào thơ ca Việt Nam, mà
Nguyễn Ái Quốc còn là một vị lãnh tụ tài ba, dám nghĩ dám làm. Một ngƣời cộng
sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, đã đấu tranh vì độc lập, tự do của các
dân tộc bị áp bức, vì hòa bình trên thế giới. Ngƣời đã hiến dâng cả đời mình cho
Tổ quốc, đặc biệt là đã tìm ra con đƣờng cứu nƣớc giải phóng dân tộc.
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
11
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
Ví dụ 2: Khi dạy bài 19: “Những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm ở các thế kỷ
X-XV” Lịch sử lớp 10:
Trong bài này khi dạy trên lớp tôi đã áp dụng kiến thức của các các môn học
Lịch sử- Văn học-GDCD.
Khi giảng phần I.2 bài 19: “Những cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm ở
các thế kỷ X- XV”, nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo dục học
sinh lòng yêu quý, kính trọng các vị anh hùng dân tộc, cụ thể là anh hùng dân tộc
Lý Thƣờng Kiệt, giáo viên lựa chọn những sự kiện cơ bản, kết hợp với bức tranh
Lý Thƣờng Kiệt, phòng tuyến sông Nhƣ Nguyệt và lƣợc đồ trận đánh trên sông
quyết liệt, phải lui về bờ bắc. Thời gian kéo dài làm cho quân Tống mệt mỏi, ốm
đau, bệnh tật và khủng khoảng về tinh thần bởi nỗi ám ảnh từ bài thơ Thần trong
đền Trƣơng Hống, Trƣơng Hát. Chính lúc đó quân ta do Lý Thƣờng Kiệt chỉ huy
phản công, quân địch 10 phần chết tới 5 hoặc 6 phần. Sau khi đƣợc quân ta chủ
động đề nghị giảng hòa, quân Tống vội vã rút quân về nƣớc. Cuộc kháng chiến
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
13
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
chống Tống kết thúc, quân ta giành thắng lợi.6
Bằng những kiến thức Văn học đã học ở cấp 2 và lớp 10 ở bài: Khái quát
văn học trung đại. Học sinh đã đƣợc tìm hiểu về bài thơ Thần của Lý Thƣờng
Kiệt.
Nguyên bản chữ Hán bài thơ:
NAM QUỐC SƠN HÀ
Nam quốc sơn hà nam đế cƣ
Tiệt nhiên định phận tại thiên thƣ
Nhƣ hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hƣ
Tạm dịch:
SÔNG NÚI NƢỚC NAM
Sông núi nƣớc Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
Mộc bản triều Nguyễn
Bản khắc gỗ và bản dập bài “Nam quốc sơn hà” trong Mộc bản triều Nguyễn
tại khu trƣng bày ngoài trời (Trung tâm Lƣu trữ Quốc gia IV - Đà Lạt).
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
15
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
Mộc bản triều Nguyễn là di sản tƣ liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam đƣợc
UNESCO công nhận ngày 31 tháng 7 năm 2009. Mộc bản là những bản gỗ khắc
chữ Hán- Nôm ngƣợc dùng để in ra các sách đƣợc sử dụng phổ biến dƣới triều
Nguyễn. Hiện có 34.555 tấm mộc bản đang đƣợc bảo quản tại Trung tâm Lƣu trữ
Quốc gia 4 - trực thuộc Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc, có nội dung rất phong
phú và đƣợc chia làm chín chủ đề: lịch sử, địa lý, quân sự, pháp chế, văn thơ, tôn
giáo - tƣ tƣởng - triết học, ngôn ngữ - văn tự, chính trị - xã hội, văn hóa - giáo dục.
Tài liệu mộc bản triều Nguyễn đƣợc hình thành chủ yếu trong quá trình hoạt
động của Quốc sử quán triều Nguyễn (đƣợc thành lập năm 1820 dƣới thời vua
Minh Mạng) tại Huế. Ngoài ra, tài liệu này còn bao gồm cả những ván khắc in
đƣợc tập hợp từ Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) đƣợc đƣa vào Huế và lƣu trữ
ở Quốc Tử Giám (Huế) dƣới thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị. Từ năm 1960,
Mộc bản triều Nguyễn đƣợc chuyển vào Đà Lạt.
Đây là khối tài liệu đặc biệt quý hiếm, do giá trị về mặt nội dung, đặc tính về
Trường THPT Long Phước
16
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
Bằng những kiến thức Giáo dục công dân đã học ở bài 14 lớp 10- Công
dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để nhằm giáo dục truyền
thống yêu nƣớc cho học sinh ở trƣờng phổ thông. Giáo viên đặt câu hỏi:
1/ Em hãy đọc và nhận xét tình cảm của tác giả đối với Tổ quốc qua đoạn thơ
sau:
NAM QUỐC SƠN HÀ
Nam quốc sơn hà nam đế cƣ
Tiệt nhiên định phận tại thiên thƣ
Nhƣ hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hƣ
Lý Thường Kiệt
“ Các vua Hùng đã có công dựng nƣớc.
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nƣớc”.
Em hiểu như thế nào về lời dạy của Bác?
3/ Thanh niên học sinh cần phải làm gì để thực hiện trách nhiệm xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc?.
2/
Với những câu hỏi gợi mở này sẽ phát huy đƣợc tính tích cực, kích thích
tinh thần tự học của học sinh và thông qua tiết học Lịch sử giúp học sinh củng cố
đƣợc kiến thức của môn học GDCD. Đặc biệt là giáo dục học sinh truyền thống
yêu nƣớc bao đời nay của dân tộc ta. Lòng yêu nƣớc, tình yêu quê hƣơng đất nƣớc
Nội dung
Lý-Trần
Thời Lê sơ
Tổ chức bộ
máy
nhà
nƣớc
Luật pháp
Quân đội
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
18
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
Nội
dung
Tổ
chức
bộ
bãi bỏ thay vào đó là lục bộ (Bộ
Binh; Hình; Lại; Hộ; Công; Lễ).
+ Ngự sử đài, Hàn lâm viện có
quyền hành cao hơn.
- Chính quyền địa phƣơng
+ Bỏ các lộ,trấn cũ chia cả
nƣớc làm 13 đạo thừa tuyên.
Mỗi đạo thừa tuyên có 3 ty phụ
trách: quân sự, dân sự và an
ninh.
+ Dƣới đạo là các Phủ, huyện,
châu. Xã vẫn là đơn vị hành
chính cơ sở. Đứng đầu xã là Xã
trƣởng, do dân bầu.
- Chính quyền địa phƣơng:
+ Cả nƣớc chia thành lộ, trấn. Dƣới
lộ là các phủ, huyện, châu. Xã là đơn
vị hành chính cơ sở. Đứng đầu xã là
Xã quan.
+ Thời Lý, Trần và Lê sơ, Kinh đô
Thăng Long trở thành đô thị lớn với
nhiều phố phƣờng và chợ (36 phố
phƣờng) - Trung tâm buôn bán và
làm nghề thủ công.
- Nhà Lý : Ban hành bộ Hình thƣ- - Quốc triều hình luật (Luật
bộ luật thành văn đầu tiên của nƣớc Hồng Đức) gồm hơn 700 điều.
ta, góp phần ổn định trật tự XH.
- NhàTrần : Ban hành bộ Hình luật
riêng.
Hạ
sảnh
Đài
Viện
Thƣợng
Thƣ
sảnh
Hàn
lâm
viện
Quốc
sử
viện
Ngự
Sử
đài
Tổ chức bộ máy nhà nƣớc
thời Lí-Trần
Tổ chức bộ máy nhà nƣớc
thời Lê sơ
Từ những kiến thức đã học, giáo viên hƣớng dẫn học sinh rút ra điểm khác
rằng các em sẽ dễ dàng so sánh đƣợc giữa hai tổ chức bộ máy nhà nƣớc lúc bấy
giờ.
2. Từ kiến thức so sánh ở trên các em rút ra nhận xét về tổ chức bộ máy nhà
nƣớc thời Lê sơ.
- Tạo ra bộ máy quản lí hoàn chỉnh từ trung ƣơng đến địa phƣơng làm cho tổ chức
bộ máy nhà nƣớc ngày càng chặt chẽ ,hiệu quả hơn, tạo điều kiện ổn định về chính
trị và phát triển kinh tế.
- Tạo ra sự thống nhất trong bộ máy quản lý của nhà nƣớc quân chủ mới, là sự
hoàn chỉnh bộ máy nhà nƣớc phong kiến trung ƣơng tập quyền.
- Tạo ra uy lực, quyền uy của nhà vua trong việc cai quản đất nƣớc, giàm bớt cơ
quan trung gian, bộ phận quan lại cồng kềnh, tăng cƣờng quản lý cấp địa phƣơng.
→ Chứng tỏ bộ máy nhà nƣớc quân chủ chuyên chế thời Lê đạt đến mức độ cao
và hoàn thiện
4. Phƣơng pháp sử dụng sơ đồ hóa.
Đây là một trong những phƣơng pháp nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành, vận
dụng kiến thức nhằm giúp học sinh hệ thống hóa những kiến thức Lịch sử qua sơ
đồ hóa.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 14, Lịch sử lớp 10: Các quốc gia cổ đại trên đất nƣớc Việt
Nam. Để hiểu đƣợc đời sống vật chất- tinh thần của ngƣời Việt cổ, giáo viên
hƣớng dẫn cho học sinh hoàn chỉnh sơ đồ về đời sống vật chất- tinh thần của ngƣời
Việt cổ
Trên cơ sở phân tích, trình bày, giải thích sơ đồ, giáo viên đƣa ra câu hỏi: Em
có nhận xét gì về đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Cổ?
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
21
trần
Có tập quán
,nhuộm răng
đen, ăn trầu,
xăm mình,
dùng đồ
trang
sức
Đời sống vật chất- tinh thần của người Việt cổ khá phong phú, đa dạng
, giản dị, chất phác, nguyên sơ, hòa nhập với thiên nhiên.
Trên cơ sở phân tích sơ đồ, từ đó rút ra kết luận, đời sống vật chất- tinh thần
của ngƣời Việt cổ khá phong phú, đa dạng, giản dị, chất phác, nguyên sơ, hòa nhập
với thiên nhiên, gắn chặt với thiên nhiên. Để học sinh hiểu đƣợc đây là thời kỳ đảm
bảo “nguyên tắc vàng” trong thời kỳ cổ đại ở nƣớc ta.
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
22
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Qua thời gian thực hiện sáng kiến này trong giảng dạy, tôi nhận thấy đƣợc là đa
phần các em có hứng thú hơn trong việc tìm tòi, trao đổi, thảo luận về một vấn đề
10
27
5
0
10A9
45
1
9
20
12
3
Ghi
chú
Kết quả sau khi thực hiện đề tài:
Kết quả
Sĩ số
45
5
12
23
5
0
Ghi
chú
Trong thời gian năm học vừa qua tôi có tham gia giảng dạy bên khối bổ túc
trƣờng cao đẳng nghề Lilama. Tôi cũng đã có áp dụng giảng dạy theo phƣơng pháp
của đề tài mà tôi đang thực hiện này. Kết quả tôi thấy đề tài này có tính khả thi đối
với các lớp 10, 11, 12.
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
23
SKKN: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
8
5
10A7
46
0
6
24
9
7
Ghi
chú
Kết quả sau khi thực hiện đề tài:
Lớp
Sĩ số
Kết quả
học
sinh
10
27
5
3
Ghi
chú
KẾT LUẬN
Bài học lịch sử giữ một vai trò quan trọng, hình thức tổ chức cơ bản của quá
trình dạy học. Hiệu quả bài học là vấn đề mấu chốt, có thể nói là một mục tiêu
quan trọng của việc dạy - học. Hiện nay, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, chất
lƣợng dạy học của môn Lịch sử ở nhà trƣờng phổ thông chƣa cao, chƣa phát huy
tính tích cực, chủ động, tƣ duy sáng tạo, kích thích ở các em lòng say mê học hỏi,
ham hiểu biết về Lịch sử.
Xuất phát từ thực trạng trên, vấn đề đổi mới giáo dục đƣợc đặt ra bức thiết,
trong đó phải tiến hành bƣớc đột phá là đổi mới cách tiến hành bài học Lịch sử
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Vận dụng một số phƣơng pháp dạy học
lịch sử nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đòi hỏi phải chuyển từ phƣơng
pháp dạy học “thầy nói, trò nghe”, “thầy đọc, trò chép” sang phƣơng pháp dạy học
mới. Trong đó, giáo viên là ngƣời tổ chức, hƣớng dẫn, giúp đỡ học tập của học
sinh, còn học sinh phải chủ động tham gia vào quá trình hoạt động học tập, đƣợc
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
trƣớc cũng nhƣ đồng nghiệp ở các trƣờng khác.
- Tổ chức các cuộc “về nguồn” cho cả giáo viên và học sinh.
- Gặp gỡ tiếp xúc các nhân chứng lịch sử.
- Tăng cƣờng đầu tƣ, soạn giảng các tiết học liên môn, chủ đề
- Tổ chức các cuộc thi đố vui lịch sử .
VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.
Nguyễn Thị Côi, Các con đƣờng, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trƣờng phổ thông, NXB học Sƣ phạm, H, 2006.Đại
2.
Luật Giáo dục.
3.
Hƣớng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK Lịch sử 10, tr125, NXB Hà Nội 2007
4.
Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, tr.225 -226.
5.
Tài liệu Internet.
Người thực hiện: Phan Thị Giang
Trường THPT Long Phước
25