Tiểu luận thực trạng và giải pháp khắc phục những hạn chế của việc trả hồ sơ vụ án hình sự giữa các cơ quan tố tụng - Pdf 42

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I
VIỆN KIỂM SÁT QUYẾT ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ
CHO CƠ QUAN ĐIỀU TRA ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
CHƯƠNG I
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC TRẢ HỒ
SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG.
1.1. Các quy định của pháp luật về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
1.2.Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa Viện kiểm sát và Cơ quan
điều tra.
1.3.Nguyên nhân, trách nhiệm trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa Viện
kiểm sát và Cơ quan điều tra.
1.3.1Nguyên nhân trả điều tra bổ sung.
1.3.1.1Nguyên nhân khách quan.
1.3.1.2 Nguyên nhân chủ quan.
1.3.2 Trách nhiệm của Viện kiểm sát với việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
CHƯƠNG II
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
TRẢ HỒ SƠ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT VÀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA.
2.1. Những biện pháp khắc phục nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ giữa viện
kiểm sát và cơ quan điều tra.
2.2.Một số kiến nghị nhằm hạn chế tình trang tra hồ sơ điều tra bổ sung.

PHẦN II
TRẢ HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG GIỮA
TÒA ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT
CHƯƠNG I
VẤN ĐỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG CỦA TÒA ÁN
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.


Hồ sơ vụ án được lập khi có quyết định khởi tố, là hệ thống các văn bản, tài
liệu do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong quá trình điều tra, truy tố xét
xử, tất cả được sắp xếp theo một trình tự hợp lý, đảm bảo đúng quy định pháp luật
về trình tự không gian và thời gian.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, vai trò của điều tra
viên, kiểm sát viên và thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa là rất quan
trọng, đã quy định rõ trong bộ luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn trong
từng giai đoạn tố tụng nhất định. Như Thẩm phán có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ,
đây là giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán. Việc
nghiên cứu đầy đủ toàn diện, không bỏ sót bất cứ một tài liệu nào, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án, để có cở sở xét xử vụ án được chính xác đúng điều luật quy
định. Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ xem xét điều tra,
truy tố có căn cứ và đúng pháp luật hay không, có quyền trả hồ sơ để Viện kiểm sát
điều tra bổ sung, nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố
và tùy từng trường hợp có quyền ra những quyết định sau:
- Đưa vụ án ra xét xử.
- Trả hồ sơ điều tra bổ sung.
- Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Do đó trả hồ sơ điều tra bổ sung là một trong những quyết định rất quan
trọng, trong quá trình giải quyết một vụ án tránh việc định tội danh sai, bỏ sót tội
hoặc người phạm tội hoặc người bị truy tố oan. Khi xét xử tại phiên tòa nếu có các
tình tiết mới không thể bổ sung được tại phiên tòa như: các chứng cứ xác định việc
phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can có
ảnh hưởng lớn đến việc quyết định hình phạt; xác định tính chất và mức độ thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa,
quyết định tạm đình chỉ vụ án để điều tra bổ sung khi thấy thiếu chứng cứ quan
trọng mà không thể bổ sung tại phiên tòa được. Những vấn đề nào có thể bổ sung
chứng cứ tại phiên tòa thì không yêu cầu điều tra bổ sung, tánh việc đòi hỏi chứng
cứ một cách máy móc, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Có trường hợp

luận và tổng hợp các vấn đề có liên quan chuyên sâu về việc trả hồ sơ để điều tra
bổ sung giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra; giữa Tòa án và Viện kiểm sát.

4


PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I: VIỆN KIỂM SÁT QUYẾT ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ
VỤ ÁN HÌNH SỰ CHO CƠ QUAN ĐIỀU TRA ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ
SUNG
CHƯƠNG I: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CÔNG
TÁC TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG.
1.1 Các quy định của pháp luật về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
Việc quyết định Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung được quy định
tại Điều 168 BLTTHS như sau: “Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan
điều tra để điều tra bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:
1. Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà viện kiểm sát
không thể tự mình bổ sung được;
2. Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng
phạm khác;
3. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.”
Như vậy, những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không
thể tự mình kiểm tra được thì viện kiểm sát mới có quyền trả lại hồ sơ; nếu thiếu
những chứng cứ nhưng chứng cứ đó viện kiểm sát có thể tự mình bổ sung được thì
không được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung. Ví dụ, ở một vụ án giết người bị can
khai là đã dùng dao đâm nạn nhân sau đó ném dao bên hàng cây ở bờ ruộng nhưng
trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa tiến hành thu con dao trên. Vì thế,
Viện kiểm sát phải trả hồ sơ để Cơ quan điều tra truy tìm con dao trên và tiến hành
dựng lại hiện trường. Còn nếu vụ án trên chỉ thiếu chứng cứ về lời khai của một
nhân chứng có thấy bị can đến khu vực gây án, nhân chứng này có địa chỉ rõ ràng;

Trong thời gian qua, án trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng vẫn chiếm tỉ lệ đã vượt quá chỉ tiêu cho phép của ngành.
Những tồn tại trong việc trả hồ sơ được tập trung ở một số nội dung sau:
Do còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát
không tự bổ sung được cụ thể như:
Xác định chứng cứ buộc tội đối với người phạm tội.
Xác định trách nhiệm dân sự, các căn cứ về bồi thường thiệt hại.
Cần phải tổ chức giám định hoặc giám định lại cho khách quan, truy tìm và
thu giữ tang vật, vật chứng, dấu vết của vụ án.
Thông qua nghiên cứu hồ sơ phát hiện có căn cứ khởi tố bị can về một tội
danh khác hoặc có người đồng phạm khác mà trong quá trình điều tra đã để lọt tội
phạm, xác định tội danh sai, không đúng với hành vi phạm tội.
Do thiếu về thủ tục tố tụng như trong hồ sơ chưa có lý lịch tư pháp, chưa
trích lục tiền án, tiền sự của bị can ở tỉnh xa, trích lục bản án hoặc thiếu thủ tục
khác như: biên bản giao nhận các lệnh, quyết định đối với bị can...
1.3 Nguyên nhân, trách nhiệm trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa
Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra:
6


1.3.1Nguyên nhân trả điều tra bổ sung:
1.3.1.1Nguyên nhân khách quan:
Tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, quy mô tính chất mức độ
phạm tội, thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, nhiều vụ án phạm tội có
tổ chức với số đông các đối tượng tham gia, phạm tội trên nhiều địa bàn, việc điều
tra, xác minh tội phạm gặp nhiều khó khăn, các thủ tục chứng cứ được thu thập
chưa đáp ứng được nội dung chứng minh tội phạm, tính dân chủ trong hoạt động tố
tụng hình sự ngày càng cao. Vì vậy, việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra, bổ sung
chứng cứ, tố tụng đối với một số vụ án là cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Do đặc điểm của tùng địa phương mà cụ thể là tại tỉnh Hậu Giang là một

tội phạm, xuất hiện tư tưởng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng, bằng việc tìm ra mọi lý do để trả hồ sơ mặc dù lý do đó không thật sự
thuyết phục và không có căn cứ.
1.3.1.2 Nguyên nhân chủ quan:
Điều tra viên chưa làm tốt hết trách nhiệm trong điều tra vụ án, không kiểm
tra thủ tục tố tụng, chứng cứ và những vấn đề khác có liên quan trong vụ án để bổ
sung đầy đủ trước khi có kết luận điều tra chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố.
Một số Điều tra viên không thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều tra của Viện kiểm
sát theo công văn hướng dẫn điều tra của Viện kiểm sát ngay từ giai đoạn khởi tố.
Lãnh đạo Cơ quan điều tra đôi lúc còn chưa bám sát quá trình điều tra của
Điều tra viên, do đó còn để xảy ra tình trạng điều tra viên không đảm bảo thời hạn
điều tra, vội kết luận điều tra chuyển Viện kiểm sát để chấp nhận việc Viện kiểm
sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm có thêm thời gian để điều tra.
Một số địa phương chưa tạo điều kiện để Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ
ngay khi vụ án được khởi tố, nhiều tài liệu điều tra không được Điều tra viên cung
cấp kịp thời cho Kiểm sát viên nghiên cứu hoặc có những tài liệu chỉ được cung
cấp “nhỏ giọt”. Bên cạnh đó, lãnh đạo liên ngành chưa thật sự dành nhiều thời gian
để quan tâm kiểm tra và chỉ đạo, nắm bắt tiến độ điều tra, chưa đánh giá kịp thời
những diễn biến khó khăn, thuận lợi của vụ án để bố trí cán bộ một cách hợp lý,
vừa phát huy được năng lực, trách nhiệm của cán bộ, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ
chuyên môn. Vì vậy, không phát hiện kip thời những thiếu sót trong công tác điều
tra dẫn đến chậm phát hiện những thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ, tội danh
dẫn đến phải trả điều tra bổ sung.
Một số vụ án do tính chất nghiêm trọng của tội phạm phải chuyển thẩm
quyền để điều tra, truy tố, xét xử khi vụ án được chuyển đến cấp có thẩm quyền thì
thời hạn điều tra đã hết, hồ sơ thụ lý ban đầu sơ sài không bảo đảm thủ tục về tố
tụng, chứng cứ, trong khi đó cấp được uỷ quyền không nghiên cứu kỹ hồ sơ nên
không phát hiện kịp thời những tồn tại thiếu sót trong điều tra.
Một số ít Điều tra viên, Kiểm sát viên năng lực nghiệp vụ chưa đáp ứng được
yêu cầu chuyên môn, còn lúng túng trong áp dụng pháp luật hoặc có biểu hiện chủ

tiến độ điều tra vụ án để giải quyết ngay những vấn đề mới phát sinh trong quá
trình điều tra, khi phát hiện các vấn đề cần thiết phải bổ sung vào hồ sơ vụ án như
thiếu chứng cứ, lý lịch tư pháp, bổ sung hoặc thay đổi tội danh... thì không đề ra
yêu cầu điều tra bằng văn bản mà chỉ trao đổi bằng miệng với Điều tra viên nên
tính pháp lý còn chưa cao, Điều tra viên tiếp thu chậm, có những vấn đề kéo dài
sau đó phải làm công văn yêu cầu điều tra mới thực hiện...Vì bỏ qua một số thao
tác trong quá trình kiểm sát điều tra mà dẫn đến tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung còn
cao hơn tỷ lệ cho phép.

9


CHƯƠNG II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN
CHẾ TÌNH TRẠNG TRẢ HỒ SƠ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT VÀ CƠ QUAN
ĐIỀU TRA.
2.1. Những biện pháp khắc phục nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ giữa
viện kiểm sát và cơ quan điều tra:
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung được pháp luật quy định trong Bộ luật tố tụng
hình sự nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử một cách chính xác, đúng
người, đúng tội và đúng pháp luật. Tuy nhiên, để tình trạng trả hồ sơ xảy ra nhiều,
điều đó phản ánh một phần năng lực trách nhiệm của Kiểm sát viên, thể hiện chất
lượng còn yếu kém trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp. Muốn hạn chế tình trạng trả hồ sơ giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng, cần
tổ chức thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Mỗi Điều tra viên, Kiểm sát viên không ngừng học tập, nghiên cứu các quy
định của pháp luật, đặc biệt là các văn bản pháp luật về hình sự.
Điều tra viên, Kiểm sát viên trên cơ sở quán triệt quy chế phối hợp giữa hai
ngành Công an-Kiểm sát, tuân thủ quy trình hoạt động, đặt tinh thần trách nhiệm
cao trong công tác thụ lý điều tra và kiểm sát điều tra vụ án. Tăng cường công tác
kiểm sát điều tra từ đầu, nắm chắc tiến độ điều tra của Cơ quan điều tra, nghiên

với từng vụ án để phân công, tránh tình cảm cá nhân dẫn đến không hoàn thành
nhiệm vụ.
Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện
tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Duy trì chế độ lãnh đạo liên
ngành giao ban thường xuyên, bàn giải quyết kịp thời những vụ án phức tạp có
nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết án, để đảm bảo vụ án sẽ được giải
quyết trong hạn luật định, tránh tình trạng đùn đẩy, kéo dài thời hạn điều tra, dẫn
tới việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
2.2.Một số kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng tra hồ sơ điều tra bổ sung:
Để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ và thực hiện tốt việc tăng thẩm quyền điều
tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật; đội ngũ cán bộ giải quyết án hình
sự (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) ở một số địa phương còn thiếu, trong
đó còn một số yếu về chuyên môn nghiệp vụ nên, cần có sự chủ động bố trí đội
ngũ cán bộ có năng lực nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác để tăng cường cho các
địa phương được tăng thẩm quyền và mở các lớp tập huấn chuyên sâu về nghiệp
vụ cho đội ngũ cán bộ giải quyết án hình sự.
Hệ thống hoá các văn bản pháp luật hình sự đang có hiệu lực trên từng lĩnh
vực nghiệp vụ để tiện tra cứu vận dụng, xác định rõ định lượng, tính chất, những
tình tiết liên quan đến việc xác định mức độ phạm tội, dấu hiệu bắt buộc cấu thành
tội hoặc những tình tiết liên quan đến việc định khung hình phạt và triển khai rộng
rãi đến các cơ quan tiến hành tố tụng để có nhận thức thống nhất về những quy
định của pháp luật, tránh sự tranh cải không cần thiết làm cho việc giải quyết vụ án
kéo dài.
11


Xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ nhằm tạo sự chuyển biến mới trong nhận
thức và ý thức trách nhiệm để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp. Thông qua nghiên cứu hội thảo chuyên đề, xây dựng
các chỉ thị của lãnh đạo Viện triển khai tố chức thực hiện thống nhất trong toàn

cho việc ra quyết định của Tòa án được chính xác và cơ quan viện kiểm sát sẽ thực
hiện các vấn đề cần điều tra bổ sung một cách thuận tiện, không bỏ sót những vấn
đề cần điều tra bổ sung, hạn chế trường hợp phải ra quyết định điều tra lần 02 kéo
dài, mất thời gian....
Theo thông tư liên ngành số 01/TTLN, ngày 08.12.1988 của Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ, Bộ Tư pháp thì Tòa án cần
trao đổi với Viện kiểm sát trong những trường hợp sau đây:

13


Khi Tòa án thấy cần trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, đổi tội danh
nặng hơn hoặc áp dụng khung hình phạt nặng hơn;
- Khi Tòa án thấy cần đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;
- Khi cần nhập hoặc tách vụ án;
- Khi cần chuyển vụ án cho Tòa án khác giải quyết;
- Khi chuẩn bị xét xử những vụ án điểm hoặc vụ án phức tạp;
- Các trường hợp cần thiết khác;
Thủ tục tiến hành trao đổi:
- Mời Kiểm sát viên cùng trao đổi ( thông báo rõ thời gian, địa điểm tiến
hành trao đổi ). Những trường hợp bình thường thì Thẩm phán trao đổi với Kiểm
sát viên trường hợp phức tạp thì báo cáo Chánh án để trao đổi với lãnh đạo Viện
kiểm sát. Nếu xét thấy cần thiết thì có thể mời đại diện Cơ quan điều tra cùng trao
đổi.
- Bắt đầu trao đổi, Thẩm phán nêu vấn đề để đại diện Viện kiểm sát cho ý
kiến. Sau đó hai bên cùng thảo luận. Nếu hai bên thống nhất thì Tòa án trả hồ sơ
cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, thay đổi cáo trạng hoặc Tòa án ra quyết
định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, chuyển vụ án.
- Sau khi trao đổi nếu không đạt được sự nhất trí thì mỗi bên vẫn tiến hành
công việc theo chức năng của ngành mình, tức là Viện kiểm sát không nhất trí,

chỉ được ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung không quá 02 lần.
Cần phân biệt trong giai đoạn hồ sơ vụ án hình sự tại Tòa án, Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung và quyết định trả hồ sơ
điều tra bổ sung của hội đồng xét xử, do Thẩm phán thay mặt hội đồng xét xử ký
quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Trước khi quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung Thẩm phán cần nghiên cứu
kỹ mọi vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung, phải ghi hết mọi vấn đề trả hồ sơ điều tra
bổ sung vào quyết định. Nếu viện kiểm sát không chấp nhận trả hồ sơ điều tra bổ
sung thì luật cho phép Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Thực tiễn xét xử cho thấy việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa Tòa án với
Viện kiểm sát có nhiều vấn đề vướng mắc, nhưng chưa được các cơ quan có thẩm
quyền hướng dẫn.
Ví dụ: Tòa án cho rằng hồ sơ vụ án còn thiếu chứng cứ quan trọng, nhưng
Viện kiểm sát lại cho rằng không thiếu chứng cứ quan trọng hoặc Tòa án yêu cầu
Viện kiểm sát truy tố thêm người phạm tội, nhưng Viện kiểm sát cho rằng người
mà Tòa án yêu cầu truy tố thuộc trường hợp không phạm tội hoặc được miễn trách
nhiệm hình sự v.v… Không ít trường hợp vụ án bị kéo dài chỉ vì quan điểm giữa
Tòa án với Viện kiểm sát không thống nhất.
a – Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà
không thể bổ sung tại phiên tòa được ( Điểm a khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố
tụng hình sự).
Theo điểm a khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự thì Thẩm phán ra
quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thấy hồ sơ vụ án
thiếu những chứng cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên tòa được.
15


Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi
thấy hồ sơ vụ án thiếu những chứng cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên
tòa được.

hành vi phạm tội có yêu cầu của bị cáo là Chung Thị H cũng có mặt tại hiện
trường, nhưng cơ quan điều tra chưa lấy lời khai của Chung Thị H mặc dù bị cáo
khai rõ địa chỉ của Chung Thị H. Trong trường hợp này Tòa án không cần phải trả
hồ sơ cho Viện kiểm sát để lấy lời khai của Chung Thị H với tư cách là người làm
chứng mà không cần phải triệu tập Chung Thị H ra tòa với tư cách là người làm
chứng để xét hỏi. Việc xác định bị cáo cố ý phạm tội hay vô ý phạm tội nhiều
16


trường hợp không phải do điều tra mà là do đánh giá thông qua hành vi khách quan
của bị cáo, đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhiều trường hợp có
thể xác định tại phiên tòa. Thậm chí có những chứng cứ rất quan trọng có ý nghĩa
quyết định đến việc kết tội bị cáo nhưng vẫn có thể chứng minh tại phiên tòa.
Thực tiễn xét xử cho thấy một số Thẩm phán không phân biệt giữa chứng cứ
và đánh giá chứng cứ nên đã quyết định trả hồ sơ bổ sung không đúng với quy
định tại điều Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự. Ví dụ: Lê Ngọc A bị truy tố về tội
lợi dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản vì đã có hành vi nhận 1000 bao xi măng của
Công ty Xi măng X với giá trị là 49.500.000 đ. số xi măng trên Lê Ngọc A giao cho
xí nghiệp xây dựng đang thi công các công trình làm cầu nông thôn. Hết hạn hạn
toán, Lê Ngọc A chỉ giao cho công ty Xi măng X 30.000.000 đ còn 19.500.000đ A
không thanh toán được là vì còn một số Xí nghiệp chưa thanh toán cho A. Các tài
liệu này được cơ quan điều tra xác minh đầy đủ nhưng vì việc kiểm sát cho rằng A
vẫn có hành vi chiếm đoạt số tiền còn nợ, nên vẫn truy tố A về tội lạm dụng tính
nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa thấy hành vi của A không phải là hành vi chiếm đoạt, tức là hành vi
không cấu thành tội phạm, nhưng vì Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự không quy
định Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa được ra quyết định đình chỉ vụ
án, nên đã quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát và yêu cầu Viện Kiểm sát điều
tra bổ sung xem A có chiếm đoạt không? Trường hợp này, Tòa án phải mở phiên
tòa xét xử tại phiên tòa Tòa án chỉ cần xác định lại xem lý do mà A không thanh

giữ, bị can, bị cáo; kết quả giám định, biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các
tài liệu, đồ vật khác( Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự). Còn đánh giá chứng cứ là
việc điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm xác định và đánh giá mọi
chứng cứ với đầy đủ tinh thần, trách nhiệm sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp,
khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án. Mọi chứng cứ phải
được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc
xác định các chứng cứ thu thập được phải đảm bảo đủ để giải quyết vụ án hình
sự(Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự). Vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ Thẩm phán được
phân công chủ tọa phiên tòa phải phân biệt cái gì là chứng cứ còn vấn đề nào thuộc
lĩnh vực đánh giá chứng cứ để quyết định việc có cần trả hồ sơ điều tra bổ sung
hay không.
b – Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng
phạm khác( Điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự).
Mục đính của việc điều tra bổ sung là để xác định có hay không việc phạm
tội, ai là người phạm tội, những chứng cứ chứng minh việc phạm tội. Để đảm bảo
cho việc xét xử được chính xác, tránh làm oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Qua nghiên
cứu hồ sơ nếu thấy có người khác cùng thực hiện tội phạm với bị can nhưng chưa
bị truy tố hoặc có căn cứ xác định bị can phạm một tội khác thì Thẩm phán quyết
định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Tuy nhiên, nếu thấy việc điều
tra đã đầy đủ nhưng Viện kiểm sát truy tố không đúng tội danh và Tòa án có thể
xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố thì
vẫn đưa vụ án ra xét xử mà không cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong trường
hợp phải xét xử bị cáo theo khung hình phạt nặng hơn khung hình phạt mà Viện
kiểm sát đã truy tố khung hình phạt này, vẫn thuộc quyền xét xử của tòa án, Thẩm
phán, chỉ cần trao đổi trước với Viện kiểm sát mà không cần phải ra quyết định trả
hồ sơ bổ sung.

18



Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm; Người tổ chức là
người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người xúi giục là người
kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người giúp sức là
người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Phạm tội có tổ chức cũng là một hình thức đồng phạm nhưng có sự cấu kết chặt
chẽ giữa những người thực hiện tội phạm. Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều trường
19


hợp xác định đồng phạm trong một vụ án không phải dễ dàng, nó là kết quả của sự
đánh giá chứng cứ, nên nó phụ thuộc vào nhận thức của con người mà như chúng
ta đã biết nhận thức là cả một quá trình và tùy thuộc vào từng chủ thể nhận thức.
Thẩm phán đánh giá khác Kiểm sát viên và điều tra viên hoặc ngược lại. Do đó,
thực tiễn xét xử có không ít trường hợp Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố
thêm người phạm tội nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận vì cho rằng Thẩm
phán xác định vụ án có người đồng phạm là không có căn cứ.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ
khi nào xác định có người đồng phạm khác thì tòa án mới trả hồ sơ để điều tra bổ
sung, nhưng thực tiễn xét xử có những trường hợp người có hành vi phạm tội
không phải là người đồng phạm với người mà Viện kiểm sát đã truy tố, nhưng
không thể tách ra để xét xử bằng vụ án khác mà nhất thiết phải xét xử cùng vụ án
với người bị truy tố.
Ví dụ: A trộm cắp tài sản, sau đó đem bán cho B, B biết tài sản mà A bán
cho mình là tài sản trộm cắp mà có, nhưng B vẫn mua. Nếu xét về mối quan hệ A
và B trong vụ án thì A phạm tội trộm cắp còn B chỉ phạm tội tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có và vì thế mà vụ án không có đồng phạm. Viện kiểm sát
đã truy tố A về tội trộm cắp tài sản, còn B không bị khởi tố, điều tra với lý do là tài
sản đã được thu hồi và trả cho chủ sở hữu. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán
phát hiện không truy tố B là bỏ lọt tội phạm vì B phạm tội lần này thuộc trường
hợp tái phạm nguy hiểm nên đã quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra

thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ví dụ: lấy lời khai của bị
can là người chưa thành niên nhưng không có mặt của Luật sư hoặc người đại diện
hợp pháp của bị can, biên bản thu giữ niêm phong vật chứng nhưng không có sự
chứng kiến của người thu giữ và chữ ký của họ. Lệnh tạm giam không có phê
chuẩn của Viện kiểm sát v.v …
Trong các vi phạm thủ tục tố tụng ở giai đoạn điều tra có vi phạm dẫn đến
việc truy tố sai, nhưng cũng có vi phạm không ảnh hưởng đến nội dung các quyết
định của Viện kiểm sát nhưng vẫn bị coi là nghiêm trọng.
Ví dụ: Tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Vị Thanh đã
truy tố bị cáo Diệp Tuấn Tài về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự. Hồ sơ
vụ án thể hiện khi xảy ra va chạm dẫn đến tai nạn giao thông bị can Diệp Tuấn Tài
là người điều khiển xe mô tô biển số 68S2 - 8251, nhưng hồ sơ chưa có căn cứ
chứng minh xe này do ai là chủ sở hữu để buộc trách nhiệm (nếu có) và chưa xác
đinh được khi điều khiển xe bị can Diệp Tuấn Tài có giấy phép láy xe hay không.
Đây cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng định
khung.
Mặc khác, hồ sơ thể hiện nồng độ ALcol/máu của bị can Diệp Tấn Tài khi
gây tai nạn ngày 17/5/2006 là 1,2g/l. Đối chiếu nồng độ trong máu của bị can với
quy định của pháp luật tại điểm 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ thì bị can
điều khiển xe trong khi say rượu ( thuộc trường hợp phải truy tố tại điểm b khoản 2
Điều 202 Bộ luật hình sự).
Do vậy, trong trường hợp này Tòa Án nhân dân Thị xã Vị Thanh căn cứ
mức hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự; Điều 3 Nghị quyết
24/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội đề nghị Viện kiểm sát nhân dân thị
21


xã Vị Thanh chuyển vụ án đến viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố theo
thẩm quyền.

em.
Trong trường hợp đã làm hết khả năng nhưng Viện kiểm sát không thể bổ
sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quan điểm
truy tố thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nếu Viện kiểm sát chỉ bổ
22


sung được một phần yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án nhưng thấy vẫn còn khả
năng điều tra bổ sung tiếp hoặc thấy cần điều tra bổ sung thêm những vấn đề khác
thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại khoản 2 Điều 121 Bộ
luật tố tụng hình sự. Đây là trường hợp mà giữa Viện kiểm sát và Tòa án có cách
hiểu khác nhau nên dẫn đến việc áp dụng cũng khác nhau. Như Viện kiểm sát cho
rằng những yêu cầu mà Tòa án đặt ra không thể bổ sung được, nhưng Tòa án lại
cho rằng những yêu cầu đó lại có thể bổ sung được, ở đây khoản 2 Điều 179 Bộ
luật tố tụng hình sự quy định là trong trường hợp Viện kiểm sát không thể bổ sung
được, tức là đã làm mà không được chứ không phải không làm, nếu không làm mà
đã nói là không làm được thì không phải là không bổ sung được mà là không bổ
sung. Không bổ sung được với không bổ sung là hoàn toàn khác nhau. Nếu Viện
kiểm sát chưa thực hiện việc điều tra mà cho rằng không bổ sung được để lấy lý do
chuyển lại hồ sơ cho Tòa án là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 179 Bộ
luật tố tụng hình sự
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
VỀ VẤN ĐỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

2.1. Thực trạng về vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung:
Như vậy quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung quan trọng nhất là việc trả hồ
sơ có căn cứ theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự hay không? Theo
quy định tại Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự thì Tòa án được quyền trả hồ sơ hai
lần để điều tra bổ sung. Tuy nhiên các yêu cầu điều tra bổ sung phải cụ thể rõ ràng.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng hình sự thì hội đồng

Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa Tòa án với Viện kiểm sát có nhiều vấn
đề vướng mắc, có những trường hợp việc giải quyết giữa Tòa án và Viện kiểm sát
về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không đúng với quy định tại Điều 179 Bộ luật tố
tụng hình sự. Như yêu cầu của Tòa án về việc điều tra bổ sung thêm những chứng
cứ quan trọng không thể bổ sung được tại phiên tòa; truy tố thêm người phạm tội
nhưng Viện kiểm sát lại cho rằng không thiếu chứng cứ quan trọng; Người mà Tòa
án yêu cầu truy tố thuộc trường hợp không phạm tội… chính vì vậy có những vụ
án bị kéo dài chỉ vì quan điểm giữa Viện kiểm sát và Tòa án không thống nhất với
nhau.
Thực tiễn cho thấy việc thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ của cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát chưa chính xác không rõ ràng để cũng cố hồ sơ vụ án làm
phát sinh nhiều vấn đề khi hồ sơ chuyển sang Tòa án và Tòa án xác định thiếu
chứng cứ, chứng cứ chưa rõ ràng nên đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Sau khi đã
điều tra bổ sung xong Viện kiểm sát chuyển hồ sơ qua Tòa án, nhưng vẫn không
đáp ứng được yêu cầu của Tòa án và đến lần thứ hai trả hồ sơ để điều tra bổ sung
mà không điều tra thêm gì và vẫn giữ nguyên quan điểm của Viện kiểm sát thì Tòa
án phải đưa vụ án ra xét xử mặc dù chứng cứ cần điều tra thêm vẫn chưa được làm
rõ chứng cứ yếu và thiếu khó quyết định hình phạt cho bị cáo. Ví dụ: Bài: “ Qua
xét xử vụ án giết người tại Tân Mai( Hà Nội ) Nhiều chứng cứ không có thật” của
Báo Pháp luật – Bộ Tư pháp đăng ký ngày 10.8.2004 như sau: ngày 26.5.2004
phiên Tòa xét xử vụ án giết người tại Tân Mai (Hà Nội) Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội quyết đình trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Theo yêu cầu ngày 15.6.2004
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã phúc đáp những mâu thuẫn trong hồ
sơ vụ, song không thể lấp hết được những vô lý và đáng tiếc Tòa án vẫn chấp nhận
để đưa vụ án ra xét xử. Với yêu cầu làm rõ hành vi trái pháp luật của nạn nhân
24


Đào Xuân Thủy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Hà Nội điều tra bổ sung hai vấn đề cơ bản.

thương khô, liền sẹo tốt”. Không nhìn thấy vết thương của bệnh nhân làm sau
khám được mà Bệnh viện vẫn “phán” như thường?! Tại phiên tòa, bị cáo khẳng
định trong quá trình bị tạm giam không hề được cơ quan điều tra trích xuất để tái
khám cũng như không có chuyện được Bác sĩ vào khám tại trại giam. có thể giấy
chứng nhận thương tích của một cơ quan Nhà nước cấp cho cơ quan điều tra xác
nhận về tình trạng thương tích sức khỏe của một con người có liên quan đến việc
xác định sự thật một vụ án mà ở đây lại hết sức sơ sài, không cơ sở, không có đính
chính về sự khác tên cùng người. liệu Bệnh viện Việt – Tiệp cấp như vậy có đúng
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status