MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945, dưới con đường mà chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, đất nước ta đã tiến theo con đường
xã hội chủ nghĩa; một xã hội lý tưởng mà lãnh đạo là giai cấp công nhân và nhân dân lao
động đoàn kết. Đây là một bước ngoặt lịch sử hết sức to lớn và quan trọng trong tiến
trình lịch sử dân tộc và mở ra một trang sử hào hùng chói lọi cho đất nước Việt Nam sau
gần 100 năm dưới ách nô lệ thuộc địa. Từ những nhiệm vụ mới được đặt ra và phải hoàn
thành, dù gặp không ít khó khăn, gian khổ thậm chí còn không biết bao đau thương mất
mát nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành thắng lợi công cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; hoàn thành thắng lợi cuộc Cách mạng
dân tộc dân chủ và thống nhất đất nước, quy lãnh thổ quốc gia về một mối. Đây là những
thắng lợi vô cùng to lớn vĩ đại mà không phải đảng nào, quốc gia nào cũng có thể làm
được. Chúng ta và thế hệ mai sau không những luôn luôn phải biết ơn về những điều đó
mà còn có quyển tự hào về một sử hào hùng như vậy.
Từ sau năm 1975, đất nước ta lại bước vào một chặng đường mới những nhiệm vụ
mới. Một công cuộc to lớn là xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã lựa
chọn; quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước. Cùng với việc xây dựng đường
lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và đường lối đối nội đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức
chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống chính trị thống nhất, vững mạnh, xứng tầm và
toàn diện với nhiệm vụ của đất nước.
Đặc biệt, vào năm 1986 Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nhằm
đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, bên
cạnh đó Đảng cũng xác định phải đổi mới hệ thống chính trị nhằm phù hợp với hoàn
cảnh và tình hình mới, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động.
Từ việc thấy rõ được bàn chất, đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ và vị trí của hệ thống
chính trị ở nước ta; đồng thời thấm nhuần quan điểm xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị của Đảng. Nhận thức sâu sắc được rằng việc xây dựng hệ
đời, hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta
trong việc xây dựng hệ thống chính trị tại Việt Nam, những thành tựu đạt được và những
hạn chế cần khắc phục.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số tư liệu tạp chí chuyên ngành, các trang
mạng để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ hơn những thành tựu và
một số tồn tại hiện có trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu
chung về công cuộc đổi mới đất nước của Đảng chứ chưa đề cập một cách toàn diện, sâu
2
sắc việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới, chính vì vậy tôi
muốn làm rõ hơn vấn đề này.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: từ năm1986 đến nay.
Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị của Đảng trong
-
thời kỳ đổi mới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như: Phương pháp lịch sử và phương pháp
-
logic dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Các phương pháp bổ trợ: phân tích, tổng hợp và so sánh.
Phương pháp sưu tầm, nghiên cứu chọn lọc các nguồn tư liệu.
Kết luận
4
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về hệ thống chính trị
Trong bất kỳ một xã hội có sự phân chia giai cấp, tầng lớp, quyền lực của một chủ
thể cầm quyền tức là giai cấp cầm quyền trong xã hội đó đều được biểu hiện bằng một hệ
thống các thiết chế và tổ chức nhất định. Đó là hệ thống chính trị. Khái niệm hệ thống
chính trị xuất hiện trong triết học và đặc biệt là trong triết học Mác – Lênin. Đồng thời nó
cũng là đối tượng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Hệ thống chính trị thực chất được hiểu như là một chính thể các tổ chức chính trị
trong xã hội bao gồm Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp
pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào quá trình của
đời sống xã hội để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích
của giai cấp cầm quyền.
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực
hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất
của giai cấp cầm quyền. Như vậy, theo khái niệm trên hệ thống chính trị đúng với khái
niệm hệ thống nghĩa là không chỉ bao gồm một hay một vài tổ chức mà nó là cả một hệ
thống to lớn thống nhất từ trung ương đến địa phương; được phân cấp và phục vụ lợi ích
hay nói đúng hơn là phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền. Chính giai cấp cầm
quyền trong xã hội có quyền và có khả năng xây dựng nên hệ thống chính trị phù hợp
cho xã hội đương thời và tương thích với lợi ích của mình.
Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, hệ thống chính trị hình
thành và phát triển cùng với quá trình vận động của mâu thuẫn đối kháng giữa các giai
1.2.1.1 Đảng Cộng sản Việt Nam
Hệ thống chính trị Việt Nam ra đời từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau khi
lật đổ nền thống trị của thực dân, phong kiến, thiết lập Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân
dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị hiện nay
ở nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Mỗi một tổ chức đều có vị
trí, vai trò và phương thức hoạt động khác nhau với những chức năng, nhiệm vụ khác
nhau dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền, sự quản lý của Nhà nước
nhằm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”.
Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là
đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lãnh đạo hệ
thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
6
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đảng
gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa
vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật.
Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều kiện cần thiết và
tất yếu để bảo đảm cho hệ thống chính trị giữ được bản chất giai cấp công nhân, bảo đảm
mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Bài học kinh nghiệm của cải tổ, cải cách ở Liên Xô
(trước đây) và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cho thấy, khi Đảng cộng sản không
giữ được vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, sẽ dẫn đến hậu quả làm rối loạn hệ thống
chính trị và xã hội, quyền lực chính trị sẽ không còn trong tay nhân dân và chế độ chính
trị sẽ thay đổi. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:
Một là, Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, các định hướng về
nhà nước, các đoàn thể nhân dân, khắc phục tệ quan liêu độc đoán, chuyên quyền, bao
biện làm thay; mặt khác, Đảng không được buông lỏng sự lãnh đạo, mất cảnh giác trước
những luận điệu cơ hội, mị dân đòi Đảng phải trả quyền lực cho Nhà nước và nhân dân.
Thực chất của những đòi hỏi đó chỉ nhằm chia rẽ Đảng với nhân dân, xoá bỏ vai trò lãnh
đạo của Đảng và làm thay đổi chế độ. Ở một vài nước xã hội chủ nghĩa, trong những điều
kiện lịch sử cụ thể, đã hình thành hệ thống chính trị đa đảng. Đó là các đảng liên minh
với đảng cộng sản, thừa nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản chứ không phải là đảng đối
lập. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, thành lập đảng đối lập là nguy cơ trực tiếp để mất
chính quyền vào tay các lực lượng thù địch với chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch,
phản động hiện nay cũng đang lợi dụng chiêu bài đa đảng, đa nguyên chính trị, dân chủ
nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa bằng “diễn biến hoà bình”.
1.2.1.2. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đây là tổ chức quyền lực thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay
mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống
xã hội. Mặt khác, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo của
giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân, thông qua đội
tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện
ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để
quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy
hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan của thị
trường. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân
dân. Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính
trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực
8
Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
9
cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là có tội và phải chịu
hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Để bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, bảo đảm việc xét xử đúng
người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống
nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước.
Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố...
Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó là tổ chức trung tâm thực hiện
quyền lực chính trị, là trụ cột của hệ thống chính trị, là bộ máy thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội theo quy định của pháp luật; thay
mặt nhân dân thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại. Để Nhà nước hoàn thành nhiệm
vụ quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện quyền lực nhân dân giao phó, phải thường
xuyên chăm lo kiện toàn các cơ quan nhà nước, với cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động có hiệu
lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chính trị
vững vàng, năng lực chuyên môn giỏi; thường xuyên giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức
sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; có cơ chế và biện pháp ngăn ngừa tệ quan
liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm...; nghiêm trị những hành động gây rối, thù
địch; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, của các tổ chức xã hội, xây dựng và tham
gia quản lý nhà nước...
Nhận thức về vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa,
cần thấy rằng:
Một là, toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị, kể cả sự lãnh đạo của Đảng
cũng phải trong khuôn khổ pháp luật, chống mọi hành động lộng quyền, lạm quyền, coi
thường và vi phạm pháp luật;
tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết
giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và thực hiện
có hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Trong điều kiện mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân cần
tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng
hành chính hóa, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và nhân dân;
vận động các tầng lớp nhân dân phát huy sức sáng tạo và mọi tiềm năng trong việc thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước; thực hiện
tốt chức năng đại diện, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
11
Đồng thời, Nhà nước có cơ chế phối hợp và bảo đảm các điều kiện cần thiết để Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp
nhân dân; tích cực tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật; tập hợp, động viên
nhân dân đồng tâm hiệp lực thực hiện thắng lợi những chủ trương, nhiệm vụ của Nhà nước;
đồng thời, làm tốt vai trò giám sát đối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công
chức, góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền trong sạch vững mạnh.
Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức thành một một hệ thống từ Trung ương
đến cơ sở. Cơ sở phân cấp theo quản lý hành chính gồm có xã, phường, thị trấn. Hệ
thống chính trị ở cơ sở bao gồm: tổ chức cơ sở đảng, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn và các tổ chức
chính trị - xã hội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam xã, phường, thị
trấn… Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân đưa Pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn vào cuộc sống; huy động mọi khả năng phát triển
kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
thống chính trị trước sự vận động phát triển của đất nước và thế giới.
Hệ thống chính trị ở nước ta là một hệ thống các thiết chế và thể chế gắn liền với
quyền lực chính trị của nhân dân và để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do nhân dân
giao phó và uỷ quyền. Về thực chất, hệ thống chính trị không phải là một hệ thống tổ
chức có quyền lực tự thân, quyền lực của hệ thống chính trị bắt nguồn từ quyền lực của
nhân dân, phát sinh từ sự uỷ quyền của nhân dân, thể hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: “Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Trong chế độ do nhân dân là chủ
thể duy nhất và tối cao của quyền lực chính trị, nhân dân uỷ quyền cho một hệ thống các
tổ chức bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể nhân dân.
Hệ thống chính trị ở nước ta là một hình thức tổ chức thực hành dân chủ; mỗi
một tổ chức trong hệ thống chính trị đều là những hình thức để thực hiện dân chủ đại
diện và dân chủ trực tiếp của nhân dân. Các tổ chức này được tổ chức và hoạt động trên
cơ sở các nguyên tắc dân chủ và vì các mục tiêu dân chủ. Điều đó bắt nguồn từ bản chất
của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế
độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” [4, 84-85]. Mỗi một
tổ chức trong hệ thống chính trị vừa là một hình thức thực hành dân chủ, tổ chức các
quá trình dân chủ vừa là công cụ bảo đảm dân chủ trong xã hội, một trường học dân
chủ để giáo dục ý thức dân chủ, nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân.
1.2.3. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
13
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị
Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền, mặc
dù trong những giai đoạn lịch sử nhất định, trong chế độ chính trị Việt Nam ngoài Đảng
Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Tuy nhiên hai Đảng này được
tổ chức và hoạt động như những đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam,
thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
đều được các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong Điều lệ
của từng tổ chức.
Thứ ba, hệ thống chính trị gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của
nhân dân
Hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống không chỉ gắn với chính trị, quyền
lực chính trị mà còn gắn với xã hội. Do vậy trong cấu trúc của hệ thống chính trị bao
gồm các tổ chức chính trị như Đảng, Nhà nước và các tổ chức vừa có tính chính trị vừa
có tính xã hội như Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội như những lực lượng
chính trị áp bức xã hội như trong các xã hội bóc lột mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó
với xã hội. Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện ngay
trong bản chất của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam là
đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc;
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân là hình thức tập hợp, tổ chức của
chính các tầng lớp nhân dân.
Sự gắn bó giữa hệ thống chính trị với nhân dân còn được xác định bởi ý nghĩa: hệ
thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân; mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị
là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Thứ tư, hệ thống chính trị có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính giai cấp và dân tộc
Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cuộc
đấu tranh giải phóng giai cấp gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Giai cấp và
dân tộc hoà đồng, các giai cấp, tầng lớp xã hội đoàn kết, hợp tác để cùng phát triển.
Trong mọi giai đoạn xây dựng và phát triển của hệ thống chính trị (kể cả thời kỳ còn
mang tên hệ thống chuyên chính vô sản) vấn đề dân tộc, quốc gia luôn là cơ sở đoàn kết
mọi lực lượng chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng Việt
Nam. Vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là đoàn kết giai
cấp, tập hợp lực lượng trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
dân. Chính quyền dân chủ nhân dân là một công cụ đắc lực để tổ chức động viên nhân
dân kháng chiến và kiến quốc. Ra đời từ cách mạng tháng Tám, chính quyền dân chủ
nhân dân ở nước ta thực sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân.
* Thứ hai, hệ thống chuyên chính vô sản (giai đoạn 1955 – 1975 và 1975 – 1986)
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước ta tạm thời bị
chia làm 2 miền với 2 chế độ chính trị khác nhau. Cách mạng Việt Nam lúc này thực hiện
2 chiến lược cách mạng khác nhau và do một Đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo. Một nửa
nước ở miền Bắc đi lên CNXH, trở thành hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh
chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam. Trong chiến tranh, như Lênin nhiều
lần khẳng định: “Hậu phương bao giờ cũng là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến
tranh, Đảng ta sớm nhận thức rằng tăng cường nhà nước DCND là tăng cường lực
lượng miền Bắc, lực lượng có tác dụng đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống
nhất tổ quốc và đối với sự phát triển của cách mạng cả nước” [8, 7].
Nhà nước DCND ở miền Bắc từ tháng 7 năm 1954 chuyển sang nhiệm vụ lịch sử
của nhà nước chuyên chính vô sản. Tăng cường nhà nước theo quan điểm của Đảng ta
trước hết là tăng cường cơ sở chính trị, xã hội của nhà nước, nghĩa là củng cố khồi liên
minh công nông và khối đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh của nhà nước bắt nguồn từ sức
17
mạnh của nhân dân, do vậy nhất thiết phải xây dựng nhà nước thật sự dân chủ, nhà nước
của dân, do dân và vì dân. Tăng cường sức mạnh của bộ máy nhà nước là tăng cường các
cơ quan nhà nước và hoạt động của nó phải theo hiến pháp và pháp luật, củng cố các cơ
quan quản lý kinh tế, văn hóa, các cơ quan nội chính quốc phòng ngoại giao vững mạnh.
Nhà nước đã xây dựng công cụ bạo lực thật sự mạnh và sắc bén, vì vậy nó đã làm tròn
chức năng xây dựng CNXH ở miền Bắc và tổ chức thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước lâu dài ở miền Nam. Nhà nước chuyên chính vô sản ở miền Bắc trong hơn 20
năm đã thực hiện thắng lợi những mục tiêu to lớn của thời kỳ lịch sử đó.
Từ tháng 4-1975, với thắng lợi hoàn toàn và triệt để của sự nghiệp chống Mỹ cứu
nước, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn tiến hành cách mạng xã
gốc sâu xa là coi nhẹ công tác xây dựng Đảng. Có tình trạng tập trung quan liêu, gia
trưởng, độc đoán trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong 10 năm (1976 – 1986)
trên 19 vạn đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng, có những người bị truy tố trước pháp luật.
Trong số đó một phần khá lớn là những đảng viên phạm sai lầm về phẩm chất đạo đức.
Đảng chưa phát huy tốt vai trò và chức năng của các đoàn thể trong việc giáo dục, động
viên quần chúng tham gia quản lý kinh tế – xã hội. Các đoàn thể chưa tích cực đổi mới
phương thức hoạt động đúng với tính chất của tổ chức quần chúng.
Những nguyên nhân chủ quan dẫn đến những tồn tại trong hệ thống chính trị Việt
Nam thời kỳ bấy giờ có thể kể đến như sau:
-
Duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp.
Hệ thống chuyên chính vô sản có biểu hện bảo thủ, trì trệ, chậm đổi mới so với
những đột phá trong cơ chế kinh tế đang diễn ra ở các địa phương, các cơ sở trong
-
toàn quốc. Do đó đã cản trở quá trình đổi mới cơ chế kinh tế.
Bệnh chủ quan, duy ý chí; tư tưởng tiểu tư sản vừa “tả” khuynh, vừa hữu khuynh
trong vai trò lãnh đạo của Đảng.
Những hạn chế, sai lầm trên đây cùng những yêu cầu của công cuộc đổi mới, đã
thúc đẩy chúng ta phải đổi mới hệ thống chuyên chính vô sản thành hệ thống chính trị
trong thời kỳ mới.
2.2. Đường lối xây dựng hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới
2.2.1 Quá trình hình thành đường lối đổi mới hệ thống chính trị
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12.1986) đã
quyết định đường lối và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Ngay từ khi bắt
đầu đổi mới, Đảng chú trọng đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, hệ thống chính sách
kinh tế kết hợp với đổi mới chính trị. Tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 Khóa VI
chính trị còn nhiều nhược điểm” [3, 613]. Đại hội cũng vạch ra những bài học kinh
nghiệm để xây dựng đất nước trong giai đoạn tới, trong đó nhấn mạnh “Kết hợp chặt chẽ
ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng
thời từng bước đổi mới chính trị. Phát huy dân chủ, khắc phục những hiện tượng vi
phạm quyền làm chủ của nhân dân” [3, 615]. Những quan điểm đó chứng tỏ nhiệm vụ
xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta được đặt lên một tầm quan trọng lớn nhằm ổn định
và phát triển đất nước.
Đại hội lần thứ IX (4/2001) của Ban chấp hành TW Đảng cũng đã đánh giá thành
tựu của 15 năm đổi mới trong đó khẳng định “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được
20
chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố” [4, 15] và nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, công tác xây dựng Đảng nhằm làm cho hệ
thống chính trị nước ta ngày càng vững mạnh.
Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) đã đánh giá 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội
IX của Đảng và nhìn lại 20 năm đổi mới, trong đó khẳng định thành tựu đạt được “Việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy. Công tác
xây dựng Đảng đạt một số kết quả tích cực” [4, 303]. Điều đó đã chứng tỏ sự ổn định và
vững mạnh của hệ thống chính trị Việt Nam. Đại hội cũng đưa ra phương hướng tổng
quát của 5 năm 2006 – 2010 với nhiều mục tiêu cần đạt trong đó mục tiêu “giữ vững ổn
định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
[4,310].
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng (1/2011) đã đánh giá những
thành tựu đạt được qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng
ta là đúng đắn, sáng tạo; đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn phù hợp với quy luật
khách quan và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chúng ta một lần nữa khẳng định: Chỉ có
bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.
Bốn là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị
với nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chiều theo hướng tác động, thúc đẩy xã
hội phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân” [1,179 – 180].
2.2.2.2. Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
Thứ nhất, Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị
Trước Đại hội X, Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và của cả dân tộc. Đại hội X đã bổ sung một số nội dung quan trọng: “Đảng Cộng sản
Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” [3, 350].
Về phương thức lãnh đạo, Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Đảng lãnh đạo xã hội
bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác;
bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động
gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và
phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể.
Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị” [2, 21].
22
Về vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác
định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy.
Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hành động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” [2, 21].
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị
phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ đối
với đổi mới các mặt của công tác xây dựng Đảng, với đổi mới tổ chức và hoạt động của
cả hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đồng bộ
lĩnh vực của đời sống xã hội.
23
-
Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm
pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương,
kỷ luật.
-
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do một Đảng duy nhất lãnh đạo, có sự
giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức
thành viên của Mặt trận.
Để có thể xây dựng được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những đặc
trưng trên thì cần có những biện pháp sau:
-
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản
pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong
các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.
-
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm
nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội. Đổi mới quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc
ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của
Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, khắc phục
tình trạng hành chính hoá, nhà nước hoá, phô trương, hình thức; nâng cao chất lượng
hoạt động; làm tốt công tác dân vận theo phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học
dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin.
2.2.3. Đánh giá sự thực hiện đường lối
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI (5.2013) đã chủ
trương: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Trung
ương đã tập trung đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 Khóa IX (3.2002)
Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn và
Nghị quyết Trung ương 4 Khóa X (2/2007) về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ
quan đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể chính trị - xã hội. Các nghị quyết quan trọng đó đã được thực hiện nghiêm
túc.Từ đó đưa ra những tổng kết quan trọng:
Thứ nhất về thành tựu:
Hệ thống các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị - xã hội từ Trung ương tới cơ sở, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân từng
bước được sắp xếp, kiện toàn; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác được phân
định, điều chỉnh hợp lý hơn, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và
nâng cao chất lượng, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm yêu cầu lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thích ứng với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thứ hai, về hạn chế:
Cùng với những thành công trong đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị, Trung
ương đã nhấn mạnh, cho đến nay, tổ chức bộ máy ở nhiều cơ quan chưa hợp lý, còn cồng
kềnh, nhiều đầu mối và tầng nấc trung gian. Mục tiêu tinh giản biên chế chưa đạt yêu
cầu đề ra. Chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo
tình hình, tham mưu, đề xuất với Trung ương những vấn đề mang tính chiến lược về phát