Tiểu luận Phân tích thực trạng huy động và sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 27

BÀI KIỂM TRA MÔN
KINH TẾ VIỆT NAM
Họ và tên: Hoàng Xuân Nam
Lớp: CH 17Q
Đề bài: Phân tích thực trạng huy động và sử dụng nguồn
nhân lực ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
BÀI LÀM
Sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc
tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội, nguồn
nhân lực Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất
lượng.
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 4-2009, Việt Nam có gần
86 triệu người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999. Tỷ lệ tăng dân
số bình quân trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm. Điều này, phản
ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển.
Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân,
công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành,
nghề. Đến nay, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, bằng
hơn 70 % dân số của cả nước. Nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu
người, bằng gần 10% dân số của cả nước. Nguồn nhân lực trí thức, tốt
1
nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, bằng 2,15%
dân số của cả nước. Nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2
triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người.
Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một nhân tố mới
trong nguồn nhân lực. Đó là một nguồn nhân lực dồi dào của đất nước.
Nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt sẽ giải quyết được nhiều
vấn đề trọng đại trong phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên trong thơi
Việt Nam hiện nay đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân
lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại
vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại

phận lao động ở nông thôn dôi ra, không có việc làm.
Chính vì nguồn nhân lực trong nông thôn không được khai thác,
đào tạo, nên một bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm ở
các khu công nghiệp, công trường. Tình trạng hiện nay là các doanh
nghiệp đang thiếu nghiêm trọng thợ có tay nghề cao, trong khi đó, lực
lượng lao động ở nông thôn lại dư thừa rất nhiều.
Vấn đề lao động và việc làm ở nông thôn Việt Nam đang rất
đáng lo ngại. Nông dân ở những nơi bị thu hồi đất thiếu việc làm; chất
3
lượng lao động thấp, nhưng cho đến nay, qua tìm hiểu, tôi thấy vẫn
chưa được khắc phục có hiệu quả.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là chính sách đối với nông dân,
nông thôn, nông nghiệp chưa rõ ràng.
Nguồn nhân lực từ công nhân: Về số lượng giai cấp công nhân
Việt Nam hiện nay có khoảng 5 triệu người, chiếm 6% dân số của cả
nước, trong đó, công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ
lệ thấp, khoảng gần 2 triệu người, bằng khoảng 40% so với lực lượng
công nhân nói chung của cả nước; lực lượng công nhân của khu vực
ngoài nhà nước có khoảng 2,70 triệu, chiếm gần 60%. Xu hướng
chung là lực lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước ngày
càng ít đi, trong khi đó, lực lượng công nhân của khu vực ngoài nhà
nước ngày càng tăng lên. Công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ rất
thấp so với đội ngũ công nhân nói chung. Trình độ văn hóa, tay nghề,
kỹ thuật của công nhân còn thấp. Số công nhân có trình độ cao đẳng,
đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người, chiếm khoảng 3,3%
so với đội ngũ công nhân nói chung ở Việt Nam. Số công nhân xuất
khẩu lao động tiếp tục tăng, tuy gần đây có chững lại. Từ năm 2001
đến năm 2006, Việt Nam đã đưa được gần 375 nghìn người lao động
đi làm việc tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ, tăng gấp 4 lần so với
thời kỳ 1996-2000 (95 nghìn người). Hiện nay, lao động Việt Nam làm

Mặc dù đạt được rất nhiều thành tựu trong đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực. Song việc huy động và sử dụng nguồn nhân lực ở
nước ta trong thời kỳ đổi mới vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.
- Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự
quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, còn
đào tạo thì nửa vời, nhiều người chưa được đào tạo.
Về số lượng, Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào
so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sức trẻ là đặc điểm
nổi trội của tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam. Về chất lượng, Việt
Nam là một trong số ít các quốc gia ở khu vực có tỷ lệ người lớn biết
chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khá cao. Tỷ lệ số học sinh, số
trường các loại, số trường đại học, tỷ lệ tốt nghiệp đại học, tỷ lệ học vị
tiến sĩ trên triệu dân của nước ta đều cao hơn so với tất cả các nước có
mức thu nhập bình quân theo đầu người tương đương với Thái Lan.
Tuy nhiên, sau hơn 30 năm tiến hành công nghiệp hóa, vẫn còn
khoảng 70% lao động cả nước hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tỷ lệ số học sinh, số trường các loại, số trường đại học, tỷ lệ tốt
nghiệp đại học, tỷ lệ học vị tiến sĩ trên triệu dân của nước ta đều cao
hơn so với tất cả các nước có mức thu nhập bình quân theo đầu người
tương đương với Thái Lan. Nhưng chất lượng lại là vấn đề đáng quan
tâm. Điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong nhiều năm liền cho
thấy cả nước có tới 63% số sinh viên ra trường không có việc làm,
6
37% số còn lại có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và có nhiều
người không làm đúng nghề mình đã học, trong khi đó nhiều doanh
nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có FDI và nhiều dự án kinh tế quan
trọng khác rất thiếu nguồn lực chuyên nghiệp. Khoảng 2/3 số người có
học vị tiến sĩ trong cả nước không làm khoa học mà đang làm công tác
quản lý. Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2005:
nguồn nhân lực Việt Nam về chất lượng được xếp hạng 53/59 quốc gia

Trong một thời gian dài, với nhiều lý do khác nhau, nền giáo
dục đào tạo của chúng ta chưa xác định được mục tiêu rõ ràng, chưa
được coi là điểm đột phá để đưa đất nước phát triển như nhiều quốc
gia trong khu vực và trên thế giới có hoàn cảnh như nước ta đã từng
làm. Phần lớn nội dung và chương trình giáo dục các cấp hiện nay ở
nước ta đều được biên soạn hoặc còn chịu ảnh hưởng bởi nội dung,
chương trình giáo dục của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là của Liên
Xô trước đây. Một thời gian dài, những nội dung và chương trình giáo
dục này khá phù hợp với nền giáo dục của nước ta và đã mang lại
những thành tựu hết sức quan trọng. Song, tự nó cũng hàm chứa rất
nhiều hạn chế, bất cập. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới và hội nhập
quốc tế hiện nay thì những hạn chế, bất cập đó đã và đang là một trở
8
ngại lớn đòi hỏi cần có sự cải cách và đổi mới cho phù hợp. Phương
pháp giáo dục cũng còn nhiều bất cập. Các phương pháp dạy và học
của chúng ta hiện nay thường tạo ra sự thụ động đối với người học,
như nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực hành.
- Lực lượng lao động phân bố không đều: Không đều giữa các
vùng trong cả nước, cũng như không đều ngay trong bản thân các
ngành kinh tế.
Lực lượng lao động đông đảo, phân bố không đồng đều; tập
trung chủ yếu vào hai đồng bằng lớn và vẫn để một số tỉnh dẫn tới tình
trạng đất chật người đông, đất đai bình quân đầu người rất thấp, với
nền sản xuất chưa phát triển, khả năng tạo việc làm mới hạn chế đã
làm cho tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong xã hội càng cao. Sự
kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công
nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau
thực hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ đất nước. Cộng với sự
chênh lệnh về mức sống giữa các làng quê với các đô thị, khu công
nghiệp lớn dẫn tới tình trạng từng dòng người từ nông thôn lũ lượt đổ

“chìa khóa” quan trọng để đi đến thành công trong quá trình đổi mới
và hội nhập quốc tế.
10
- Tiếp tục đẩy mạnh quá trình đổi mới trong lĩnh vực kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời tích cực chủ động hội
nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Nhà nước cần tiếp tục đường lối
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực
hiện đa dạng hóa các thành phần kinh tế nhằm tạo thêm nhiều việc làm
và thu nhập cho người lao động; tiếp tục điều chỉnh chính sách đối với
việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo hướng trước hết ưu
tiên vào một số ngành nghề có khả năng đào tạo và sử dụng lực lượng
lao động chất lượng cao, những ngành nghề có khả năng hợp tác và
trao đổi lao động quốc tế v.v
Để nâng cao chất lượng lao động tại nông thôn cần tiếp tục đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn, đồng thời có các giải pháp căn bản để chuyển đổi cơ cấu ngành
nghề, tích cực mở mang các cơ sở đào tạo nhằm từng bước nâng cao
chất lượng lao động tại các khu vực nông thôn và miền núi để có thể
đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế ngay trong từng địa bàn của các địa phương trong cả
nước. Cùng với việc đào tạo lao động tại chỗ, Nhà nước và địa phương
cần có chính sách khuyến khích, thu hút lực lượng lao động trẻ đã qua
đào tạo nhưng lại chưa tìm được việc làm ở các khu đô thị về làm việc
tại các khu vực nông thôn, miền núi.
- Cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Trong đó, cần đề ra và thực
hiện các mục tiêu theo lộ trình cụ thể, như “đến năm 2010 có nguồn
11
nhân lực với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao; tỷ lệ lao động trong
khu vực nông nghiệp còn dưới 50% lực lượng lao động xã hội; đến

triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế phù hợp với luật pháp Việt Nam cũng là cần
thiết trong bối cảnh hiện nay./
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status