Chuyên đề:
PHÁT HUY HIỆU QUẢ CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU TRONG
GIẢNG DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG- NGỮ VĂN THCS.
A. Đặt vấn đề:
I. Lí do chọn chuyên đề:
1. Lí do khách quan:
Hiện nay việc thay sách và đổi mới phương pháp giảng dạy đã và đang được các
thầy cô thực hiện đồng bộ. Mặc dù còn rất nhiều ý kiến về việc thay sách và đổi mới
phương pháp giảng dạy, song từ những trải nghiệm thực tế, chúng ta có thể khẳng định
rằng việc thay sách và đổi mới phương pháp giảng dạy đã giúp các em tiếp xúc được
nhiều tác phẩm hay , mới lạ, cập nhật với cuộc sống. Không những thế đổi mới phương
pháp dạy học nói chung, và đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói riêng giúp học
sinh biết tư duy, sáng tạo , biết phát hiện vấn đề, biết nói lên suy nghĩ, cảm nhận của
riêng mình. Mỗi giờ học văn là 1 niềm vui, bất ngờ đối với học sinh.
Năm học 2002- 2003 ngành giáo dục cả nước thực hiện chương trình thay SGK
mới. Cùng với việc thay SGK thì cấu trúc nội dung chương trình cũng mới. Chương
trình mới lấy 6 kiểu văn bản: Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết minh, hành
chính công vụ làm trục chính để tuyển chọn các văn bản, rèn luyện kĩ năng: nghe, nói,
đọc, viết, hình thành năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản. Bên cạnh đó còn có 1 kiểu
văn bản không có trong chương trình và SGK trước đây, được đưa vào nội dung học
tập của môn Ngữ Văn THCS đó là Văn bản nhật dụng. Với chức năng riêng của mình
những văn bản này đã góp phần giúp học sinh gắn kết với những vấn đề vừa quen
thuộc vừa có ý nghĩa quan trọng, lâu dài đối với cuộc sống nhân loại.
Xuất phát từ lí do trên, mỗi chúng ta nhận thấy việc đưa văn bản nhật dụng vào chương
trình Ngữ Văn là một việc làm cần thiết đối với nền giáo dục để đáp ứng yêu cầu phát triển trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Lí do chủ quan.
Như chúng ta đã biết: “văn học là nhân học”, “văn học là nghệ thuật của ngôn từ”,
văn học xuất phát từ đời sống, văn học rất gần gũi với mọi người. Chính vì vậy học văn
không phải là đơn giản chỉ đến với một văn bản đơn thuần mà bao hàm trong đó cả các
vấn đề của xã hội, nhưng thực tế cho thấy trong thời đại hiện nay, môn Ngữ Văn không
chương trình Ngữ Văn THCS.
- Cách khai thác và sử dụng tư liệu trong gjảng dạy loại văn bản này.
- Vận dụng sáng tạo trong mỗi bài giảng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ
dạy và chất lượng học tập của học sinh.
V. Các phương pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu chuyên đề này chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Dự giờ đồng nghiệp ở các tiết dạy, học văn bản nhật dụng từ lớp 6 đến lớp 9 để
phát hiện ra những ưu, nhược điểm trong các tiết dạy học trên.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học nói chung và phương pháp
dạy văn bản nhật dụng nói riêng.
- Nghiên cứu về cách khai thác và sử dụng tư liệu trong quá trình giảng dạy văn
bản nhật dụng.
B. Giải quyết vấn đề.
I. Cơ sở khoa học của chuyên đề.
1. Cơ sở lí luận.
Văn bản nhật dụng là gì? Chương trình Ngữ Văn THCS xác định rõ: “Khái niệm văn
bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, cũng không chỉ kiểu văn bản. Nó chỉ đề cập
tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi”.Cập nhật có nghĩa là kịp
thời, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày,cuộc sống hiện tại. Tính cập nhật
thể hiện rõ nhất ở chức năng và đề tài: đề cập, bàn luận, thuyết minh,…những vấn đề,
hiện tượng,…gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng
đồng.
Như vậy, giá trị văn chương không phải là yêu cầu cao nhất đối với văn bản nhật
dụng. Tuy nhiên, đó vẫn là một yêu cầu quan trọng vì văn có hay mới làm cho người đọc
thấm thía về tính chất thời sự nóng hổi của vấn đề được đặt ra.
Mục tiêu của môn Ngữ Văn là góp phần hình thành những con người có trình độ
học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ những kĩ năng sống khi gia đời hoặc tiếp tục cho
họ học lên bậc cao hơn. Đó là những người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quý
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường chú ý khai thác và bình giá trên nhiều
phương diện của sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật,…mà chưa chú ý đến vấn đề
xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh.
- Vì là một văn bản mới được đưa vào giảng dạy, còn mới mẻ, giáo viên ít có
kinh nghiệm, lúng túng về phương pháp.
- Về phương tiện dạy học, mới chỉ dừng lại ở việc dùng bảng phụ và một số kênh
hình ở trong SGK, giáo viên chưa có ý thức sưu tầm tư liệu, tranh, ảnh, phim, băng đĩa
để bổ sung cho bài học.
- Về phía học sinh: vẫn còn thói quen thụ động, quen ghi chép, ghi nhớ những gì
giáo viên nói, chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học. Từ đó dẫn đến
việc học sinh ít nắm bắt, quan tâm hoặc thờ ơ với những vấn đề nóng hổi bức thiết của
đời sống xã hội trong và ngoài nước. Từ thực tiễn đó có thể nói rằng việc tìm ra phương
pháp tốt nhất để dạy phần văn bản nhật dụng là một việc làm cần thiết trong quá trình
giảng dạy môn Ngữ Văn.
II. Nội dung của chuyên đề.
1. Hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ Văn THCS.
Đề tài nhật dụng của
Lớp
Tên văn bản
văn bản
- Cầu Long Biên chứng nhân lịch - Di tích lịch sử.
6
sử
- Bức thư của thủ lĩnh da đỏ.
- Quan hệ giữa thiên nhiên và con
người
- Động Phong Nha.
- Danh lam thắng cảnh.
Đề tài nhật dụng của
Lớp
Tên văn bản
văn bản
- Cầu Long Biên vhứng nhân lịch - Di tích lịch sử.
6
sử
- Bức thư của thủ lĩnh da đỏ.
- Quan hệ giữa thiên nhiên và con
người
- Động Phong Nha.
- Danh lam thắng cảnh.
- Cổng trường mở ra.
- Nhà trường.
7
- Mẹ tôi.
- Người mẹ.
- Cuộc chia tay của những con - Quyền trẻ em
búp bê.
- Ca Huế trên sông Hương.
- Văn hoá dân tộc.
- Thông tin về ngày trái đất năm - Môi trường.
8
2000.
- Ôn dịch thuốc lá.
- Tệ nạn xã hội.
- Bài toán dân số.
- Dân số.
- Phong cách Hồ Chí Minh.
- Hội nhập thế giới và bảo vệ bản
hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà thám hiểm, khách du lịch trong và ngoài
nước.
b.Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ Văn 7.
- Văn bản: Cổng trường mở ra. Là bài văn ghi lại tâm trạng hồi hộp của một
người mẹ trong đêm chuẩn bị cho con khai trường để vào lớp Một. Vậy ý nghĩa nhất
dụng của văn bản này là gì? người mẹ đã hồi hộp trong cái đêm trước ngày con vào lớp
Một đâu chỉ vì lo lắng cho con mà còn niềm vui về ngôi trường thân yêu đã lưu giữ bao
kỉ niệm thân thương của đời mẹ, niềm hi vọng vào con, mài trường thân yêu sẽ mở ra
ánh sáng và tương lai cho mỗi con người. Nội dung nhật dụng đó được trình bày dưới
hình thức tự sự kết hợp biểu cảm.
- Văn bản: Mẹ tôi được trình bày dưới dạng một bức thư . Từ việc phạm lỗi của
đứa con đối với mẹ mà người cha bộc lộ cảm xúc và suy tư về tình sâu nghĩa nặng của
người mẹ: người mẹ ấy đã thức suốt đêm khi con bị ốm và đau đớn quằn quại vì lo sợ
mất con. Người mẹ ấy có thể làm tất cả, có thể chịu mọi khổ đau bất hạnh để cho con
đỡ đau đớn, để cho con sống hạnh phúc. Vì thế ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà
con mất mẹ, và tình cảm thiêng liêng, cao quý hơn cả là tình cảm yêu thương kính
trọng đối với cha mẹ” . Xét về thể loại thì đây là bài bút kí, còn xét về phương thức
biểu đạt thì đây là bài văn tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Văn bản: Cuộc chia tay của những con búp bê. Thành công của văn bản này là
sự kết hợp nhuần nhuyễn của phương thức biểu đạt tự sự với miêu tả và biểu cảm.
Truyện viết về nỗi đau tinh thần tuổi thơ sống thiếu tình cảm của cha mẹ. Nhưng chính
từ bi kịch ấy, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng vị tha, tình cảm anh em
càng thêm gắn bó. Đằng sau câu chuyện về tình anh em gắn bó trong sự tan vỡ của gia
đình, truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” toát lên vấn đề quyền sống của trẻ
đang bị đe doạ trong một xã hội hiện đại đang cần đến sự quan tâm của mọi người.
- Văn bản: Ca Huế trên sông Hương là văn bản thuyết minh giới thiệu một nét
đẹp trong văn hoá cổ truyền xứ Huế, đó là dân ca Huế. Đặc sắc của dân ca Huế không
chỉ là sự phong phú của các điệu hò, điệu lí, không chỉ là sự hoà nhập của hai dòng
nhạcdân gian và nhạc cung đình mà còn là cách sinh hoạt độc đáo của nó: thời gian ban
đêm, không gian trên sông Hương. Đọc bài văn này, học sinh hiểu thêm rằng: cố đô
văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, giữa thanh cao và giản dị.. Từ nội dung trên
chủ đề nhật dụng cần khai thác đó là: vấn đề quan hệ giữa hội nhập thế giới với bảo vệ bản
sắc văn hoá dân tộc, một vấn đề không chỉ có ý nghĩa cập nhật mà còn có ý nghĩa lâu dài,
thường xuyên của các thế hệ, nhất là lớp trẻ nước ta trong học tập rèn luyện theo phong
cách Bác Hồ. Nội dung trên được thể hiện trong hình thức thuyết minh kết hợp nghị luận
khiến cho sự trình bày các biểu hiện vể đẹp phong cách Hồ Chí Minh trở nên sáng rõ cùng
tình cảm ngưỡng vọng không che dấu của tác giả.
- Văn bản: Đấu tranh cho một thế giới hoà bình là bài viết của nhà văn đã từng
đoạt giải No- ben Văn học (G. Mác- két). Ở đây, phương thức lập luận sắc sảo, chặt chẽ
với những luận cứ, luận chứng có sức thuyết phục và rõ ràng về hiểm hoạ hạt nhân đối
với nhân loại. Sự tốn kém và tính phi lí của cuộc chạy đua chiến tranh hạt nhân. Từ đó
kêu gọi hành động để ngăn chặn và xoá bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân vì một thế
giới hoà . Đó là những vấn đề cấp thiết và nóng hổi trong đời sống chính trị của nhân
loại và của mỗi dân tộc, mỗi con người.
- Văn bản: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển
của trẻ em được trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em của tổ chức
liên hợp quốc ngày 30/9/1990, chứng tỏ sự quan tâm toàn diện, sâu sắc của cộng đồng
quốc tế đối với trẻ em trên toàn thế giới. Bản tuyên bố đã đề cập đến thực trạng bất
hạnh của suộc sống trẻ em trên thế giới, về khả năng có thể cải thiện được cuộc sống
của chúng, cùng các giải pháp cụ thể. Những nội dung nàu đã được luận giải một cách
hợp lí, hợp tình theo yêu cầu nghị luận xã hội nhằm làm rõ quan điểm vì trẻ em của
cộng đồng thế giới, nhưng để dễ hiểu, dễ truyền bá đến đại chúng, bản tuyên bố đã
trình bày các quan điểm dưới dạng mục và số.Các nội dung được thảo trong bản tuyên
bố đã toát lên điểm tích cực và nhân đạo của cộng đồng quốc tế (trong đó có Việt Nam)
về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. Đó là ý nghĩa cập nhật
cũng như ý nghĩa lâu dài của văn bản này.
3. Phát huy hiệu quả của việc khai thác và sử dụng tư liệu trong giảng dạy
văn bản nhật dụng.
a. Quan niệm về tư liệu dạy học.
Tư liệu dạy học là một trong những phương tiện dạy học. Tư liệu dạy học bao
đồi hỏi mỗi giáo viên chúng ta không nên quan niệm đây là sáng tác tiêu biểu cho các tác
phẩm văn học của mỗi thời kì hay đòi hỏi quá cao về nghệ thuật của văn bản Tuy nhiên,
nếu văn bản nhật dụng nào đó có giá trị nghệ thuật đáng phân tích, tìm hiểu thì rất cần
được khai thác. Như vậy, khi dạy các văn bản nhật dụng nên tập trung khai thác vấn đề về
nội dung tư tưởng đặt ra của mỗi văn bản, cung cấp và mở rộng hiểu biết cho học sinh về
những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn ra trong suộc sống xã hội hiện đại, từ đó tăng
cường ý thức công dân đối với cộng đồng.
Để làm nổi bất được các yêu cầu trên người giáo viên ngoài khâu soạn bài kĩ
lưỡng thì người giáo viên còn phải chuẩn bị những tư liệu phù hợp với nội dung bài
học.
Trong chương trình cải cách SGK, nhiều văn bản có tranh ảnh minh hoạ, theo tôi
điều đó rất xác thực, bên cạnh đó có những văn bản viết về những vấn đề bức thiết của
cuộc sống như các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ Văn 8 lại không có tranh
ảnh minh hoạ. Mặc dù những vấn đề ấy, các em đã được chứng kiến ở thực tế rất nhiều.
Song nếu kết hợp giữa bài dạy lí thuyết với những tranh ảnh minh hoạ sẽ làm baì dạy
phong phú và sâu săc hơn rất nhiều.
Hiện nay không phải nhà trường nào cũng có tranh ảnh minh hoạ cho các tiết dạy học
văn bản nhật dụng. Vì vậy ngoài những tranh, ảnh, băng, đĩa có sẵn, giáo viên phải biết sưu
tầm hoặc vẽ tranh mimh hoạ. Nếu giáo viên không vẽ được thì tốt nhất là xây dựng yêu cầu
của bức tranh theo ý định của mình như thế nào sau đó nhờ người có khả năng hội hoạ vẽ
giúp. Một trong những cách sưu tầm tranh, ảnh, băng, đĩa nhanh và hiệu quả nhất là khai
thác trên in tơ nét,….
Trong văn bản có rất nhiều cảnh, chi tiết giáo viên có thể dựa vào đó mà vẽ hoặc
sưu tầm tranh, ảnh minh hoạ. Nhưng không thể minh hoạ hết những cảnh ấy vì vô hình
chung đã biến giừ dạy văn thành giờ trưng bày tranh ảnh hoặc xem băng, đĩa. Vì vậy,
để phát huy tư duy, óc tưởng tượng phong phú của học sinh, giúp các em chiếm lĩnh
mọi giá trị của văn bản tốt hơn theo tôi khi khai thác và sử dụng tư liệu tranh, ảnh.,
băng, đĩa cần đảm bảo các yêu cầu sau:
40.2
*Sau khi vận dụng chuyên đề:
Giỏi
Khá
Trung bình
Khối TSHS
SL
%
SL
%
SL
%
8
102
5
4.9
25
24.5 51
50.0
Yếu
SL
%
39
38.2
Yếu
SL
%
20
19.6
GV hd đọc: giọng đọc chầm rãi, tình
cảm, như thể đang tâm tình, trò
chuyện với cây cầu, người bạn.
G. đọc từ đầu ….làm cầu.
1 HS đọc tiếp…hào hoa.
1 HS đọc phần còn lại.
G. nhận xét các đọc.
2. Chú thích.
1 HS đọc chú thích dấu sao.
a. Văn bản nhật dụng.
? Dựa vào chú thích dấu sao, em hãy cho - Đó là những bài viết có nội dung
biết khái niệm của văn bản nhật dụng.
gần gũi, bức thiết với cuộc sống trước
- Nhật: hàng ngày. Dụng: sử dụng. mắt của cộng đồng và xã hội hiện đại.
(những văn bản được sử dụng hàng ngày)
? Những vấn đề nào được văn bản
nhật dụng đề cập đến?
- Đề tài: thiên nhiên, môi trường, dân
số, quyền trẻ em, các vấn đề xã hội,...
G:- Đặc điểm quan trọng nhất của văn - Đặc điểm quan trọng nhất của
bản nhật dụng là gì?
VBND là: tính cập nhật.
- Thể loại thường là kí sự, hồi kí, tuỳ
bút, trong đó có sự kết hợp nhiều
phương thức biểu đạt. Chính vì vậy
VBND có thể dùng tất cả các kiểu VB.
- Về hình thức là những bài báo, bài
giới thiệu, thuyết minh đăng trên các
báo, tạp chí hay phát trên đài, ti vi.
- Chương trình lớp 6 chọn dạy và học
thức biểu đạt.
? Em hãy xác định thể loại của văn
bản?
? Em hãy cho biết văn bản này sử
dụng phương thức biểu đạt nào?
2. Bố cục.
? Văn bản có thể chia làm mấy đoạn,
nêu nội dung, ý nghĩa mỗi đoạn.
3. Phân tích:
a. Giới thiệu chung về cây
cầu Long Biên.
? Qua đoạn mở đầu, em được biết
những điều gì về cây cầu Long Biên?
(tính đến năm 2010 cầu Long Biên đã
108 tuổi)
- Văn bản nhật dụng.
- Thể loại: là 1 bài bút kí mang nhiều
yếu tố hồi kí.
-Thuyết minh kết hợp tự sự, miêu tả
và biểu cảm.
3 đoạn:
- Từ đầu…thủ đô Hà Nội: Giới thiệu
khái quát về cầu Long Biên.
- Tiếp…dẻo dai, vững chắc: Cầu Long
Biên chứng nhân sống động, đau
thương và anh dũng.
- Còn lại: Ý nghĩa lịch sử của cầu
Long Biên trong cuộc sống hiện đại.
Pháp lúc bấy giờ, gợi nhắc 1 thời thực
dân nô lệ, áp bức, bất công)
? Cầu Long Biên có quy mô lớn như - Chiều dài cầu: 2290m
thế nào?
- Nặng 17 nghìn tấn.
? Ai là người xây dựng cầu Đu me?
- Thực dân Pháp.
? Thực dân Pháp làm cầu ở Việt Nam - Mục đích xây dựng cầu: không phải
với mục đích gì?
để mở mang văn hoá, khoa học cho
dân ta mà để tiện đường giao thông
khai thác thuộc địa có hiệu quả và
đàn áp các cuộc khởi nghĩa.
? Xét về mặt kĩ thuật cầu Long Biên - Về kĩ thuật: Cầu Long Biên ở thời
là loại cầu như thế nào?
điểm ấy (1902- 1985) có thể xem là
cây cầu sắt hiện đại nhất bán đảo
Đông Dương, là thành tựu quan trọng
trong thời văn minh cầu sắt.
? Cầu được dựng lên bằng công sức - Cầu được dựng lên bằng mồ hôi,
của ai?
xương máu của bao nhiêu người dân
phu Việt Nam.
? Điều đó cho em hiểu thêm điều gì - Chế độ thực dân đàn áp, bóc lột con
về bộ mặt của bọn thực dân Pháp.
người.
? Như vây , thời thuộc Pháp, cầu → Cầu Long Biên- chứng kiến cảnh ăn
Long Biên đã trở thành nhân chứng ở khổ cực của dân phu Việt Nam, cảnh
sống động cho sự việc nào?
đối xử tàn nhẫn của các ông chủ người
lần bị ném bom)
? Nhóm: em hãy cho biết các cảnh - Năm 1954: hoà bình lập lại.
vật và sự việc trên gắn với những giai - 1947: thời kì đầu của cuộc kháng
đoạn lịch sử cụ thể nào?
chiến chống Pháp.
- 1972: chống Mĩ.
? Như vậy, cầu Long Biên trở thành - Cầu Long biên trở thành nhân chứng
nhân chứng cho 1 giai đoạn lịch sử cho 1 giai đoạn lịch sử sống động, đau
như thế nào?
thương và anh dũng của dân tộc.
? Việc đưa bài thơ và lời 1 bản nhạc Việc trích thơ và lời nhạc đã tạo nên
vào trong đoạn văn có tác dụng như "chứng nhân" về nghệ thuật với cây
thế nào trong việc làm nổi bật ý nghĩa cầu. Nó gắn bó cây cầu với kí ức, tâm
chứng nhân của cầu Long Biên?
hồn con người.
? Tìm những câu văn bộc lộ tình cảm, HS phát hiện.
cảm xúc của tác giả với cây cầu?
? Theo em, tác giả đã bộc lộ tình cảm, - Thể hiện sự gắn bó, yêu thương như
cảm xúc gì?
đau xót, khâm phục, kính trọng cây cầu.
G. chốt: đây là đoạn văn thể hiện rõ
nhất sự đan xen yếu tố biểu cảm trong
văn thuyết minh.
HS theo dõi đoạn văn thứ 6 trong vb. * Những năm tháng lũ lụt.
? Những năm tháng lũ lụt, cây cầu - Nước lên mấp mé thân cầu.
được tác giả giới thiệu như thế nào?
- Dòng sông Hồng đỏ rực, nước cuồn
cuộn chảy nhấn chìm bao màu xanh
thân thương, bao làng mạc trù phú.
- Chiếc cầu như chiếc võng đung đưa