Luận văn cấp dưỡng sau ly hôn theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ TUYẾT NHUNG

CÊP D¦ìNG SAU LY H¤N
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ TUYẾT NHUNG

CÊP D¦ìNG SAU LY H¤N
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. HÀ THỊ MAI HIÊN

HÀ NỘI - 2014


1.2.

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của cấp dưỡng sau ly hôn ......... 11

1.3.

Cơ sở xã hội và nội dung điều chỉnh pháp luật về cấp dưỡng
sau ly hôn........................................................................................... 15

1.3.1. Cơ sở xã hội điều chỉnh pháp luật về cấp dưỡng sau ly hôn.............. 15
1.3.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về cấp dưỡng sau ly hôn ................... 19
1.4.

Lược sử quy định pháp luật về vấn đề cấp dưỡng sau ly hôn ..... 20

1.4.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ............................ 20
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 ............................................... 22
1.4.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay ......................................................... 26
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 29
Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CẤP DƯỠNG SAU LY HÔN.... 30
2.1.

Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng........................................ 30

2.2.

Mức cấp dưỡng................................................................................. 37

2.3.



3.2.1. Về mức cấp dưỡng ............................................................................. 55
3.2.2. Về thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng ...................................... 61
3.2.3. Về thời điểm kết thúc cấp dưỡng nuôi con ........................................ 63
3.2.4. Về tạm ngừng cấp dưỡng ................................................................... 67
3.2.5. Trường hợp cấp dưỡng của bố dượng, mẹ kế cho con riêng của
vợ hoặc con riêng của chồng khi ly hôn............................................. 70
3.3.

Một số kiến nghị về cấp dưỡng sau ly hôn..................................... 72

3.3.1. Mức cấp dưỡng................................................................................... 72
3.3.2. Thời điểm bắt đầu cấp dưỡng nuôi con.............................................. 73
3.3.3. Tạm ngừng cấp dưỡng........................................................................ 74
3.3.4. Trường hợp cấp dưỡng giữa bố dượng hoặc mẹ kế với con riêng
của vợ hoặc chồng.............................................................................. 75
3.3.5. Cách tính số tiền bồi thường cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly
hôn mà một người bị tai nạn .............................................................. 76
3.3.6. Vấn đề về tổ chức, thực hiện và áp dụng pháp luật ........................... 78
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 81


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng


tiếp của các bên, qua đó góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về cấp
dưỡng để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên

1


trong quan hệ cấp dưỡng. Đây chính là lý do tôi quyết định chọn đề tài "Cấp
dưỡng sau ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện nay" làm Luận văn thạc sĩ
luật học của mình. Trong khuôn khổ luận văn, tôi không đề cập một cách cụ
thể tất cả vấn đề liên quan đến cấp dưỡng mà chỉ trình bày một số vấn đề cấp
dưỡng trong trường hợp vợ chồng ly hôn. Qua đó đưa ra các phân tích, đánh
giá nhằm góp phần xây dựng đề tài khoa học và hoàn thiện pháp luật về vấn
đề cấp dưỡng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu pháp luật về Cấp dưỡng sau ly hôn là mảng đề tài khá quan
trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình, tuy nhiên, mới chỉ có một số công
trình khoa học nghiên cứu vấn đề này một cách riêng lẻ, hầu hết mới chỉ
nghiên cứu vấn đề này như là một phần của hậu quả pháp lý của ly hôn hoặc
là một trường hợp trong vấn đề cấp dưỡng nói chung.
Một số công trình khoa học nghiên cứu ở nhiều phạm vi và cấp độ khác
nhau, đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như sau:
Nhóm giáo trình, sách bình luận chuyên sâu: Nguyễn Ngọc Điện
(2002), Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, tập 1, NXB
Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh. Đinh Thị Mai Phương (2006) Bình luận khoa học
Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Nguyễn
Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002) Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2000, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Giáo trình
Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội.
Ngoài ra còn một số Giáo trình và Bình luận khoa học về Luật Hôn
nhân và gia đình, hầu hết các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích,

vợ chồng, các con khi ly hôn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Ng h i ê n c ứ u c á c q u y đ ị n h p h á p l u ậ t h i ệ n h à n h v ề v ấ n đ ề c ấ p d ư ỡ n g
khi l y hôn .

3


- Nghiên cứu việc áp dụng pháp luật để giải quyết vấn đề cấp dưỡng
khi vợ chồng ly hôn qua thực tiễn công tác xét xử của toà án.
- Đánh giá hiệu quả của việc xét xử tại toà án về giải quyết vấn đề cấp
dưỡng khi vợ chồng ly hôn, phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập trong
quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật khi xét xử
tại toà án và đề xuất các kiến nghị cần thiết.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề cấp
dưỡng sau ly hôn và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này qua
các Bản án của Tòa án.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 và một số văn bản khác có liên quan về cấp dưỡng khi
ly hôn. Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề cấp
dưỡng khi ly hôn qua thực tiễn xét xử tại toà án qua các vụ án cụ thể trong
thời gian từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực đến nay. Đề
tài chỉ nghiên cứu về mặt nội dung của vấn đề cấp dưỡng khi ly hôn, không đi
sâu xem xét nghĩa vụ thi hành án cấp dưỡng và đưa ra một số biện pháp để đảm
bảo hiệu quả của Bản án cấp dưỡng trên thực tế.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều


5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP DƯỠNG SAU LY HÔN
1.1. Khái niệm cấp dưỡng và đặc điểm của quan hệ cấp dưỡng
Cấp dưỡng là một thuật ngữ thể hiện việc một người chu cấp tiền bạc
hoặc tài sản cho người có nhu cầu được nuôi dưỡng trên cơ sở giữa họ có
quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát
sinh giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi tình cảm gia đình. Do đó, quan hệ
cấp dưỡng là quan hệ đặc trưng của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay, vấn đề
hôn nhân và gia đình luôn là mối quan tâm Đảng và Nhà nước ta. Nhiều văn
kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước về gia đình đã được ban hành trong
những năm qua: Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm
1991 cũng như trong các văn kiện của Đảng về chính sách xã hội đã nhấn
mạnh đến vai trò của gia đình như là tế bào của xã hội và là nhân tố quan
trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam. Quan điểm và
chính sách này của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa thành các quy định
pháp luật, Điều 64 - Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (năm 1992) - văn bản
quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất khẳng định: "Gia đình là tế
bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình" [19, Điều 64]. Để cụ
thể hoá quy định này của Hiến pháp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được
ban hành, nhằm đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, phát huy
truyền thống và những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ
những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình như Luật Hôn
nhân và gia đình, Điều 41 - Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền được
hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình.

nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên,

7


là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu.
Đây là định nghĩa chính thức đầu tiên được ghi nhận trong đạo luật.
Mặc dù, ở nước ta quan hệ cấp dưỡng đã được đề cập đến từ khá lâu, từ thời kỳ
phong kiến, Pháp thuộc đến khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ra đời với
các quy định về cấp dưỡng ngày càng cụ thể hơn, đa dạng hơn nhưng vẫn còn
mang tính chung chung, khái quát. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000,
2014 đã khắc phục được hạn chế này và là một bước tiến dài trong quá trình bổ
sung, hoàn thiện chế định cấp dưỡng cả về cơ sở pháp lý và lý luận. Trước hết
phải nói đến việc lần đầu tiên đưa ra khái niệm cấp dưỡng và sau đó là dành
một chương riêng để quy định về các vấn đề liên qua đến cấp dưỡng. Điều
này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước ta và cho thấy tầm quan trọng
của chế định này trong cuộc sống. Khái niệm về cấp dưỡng đã nêu được những
nội dung chủ yếu của quan hệ cấp dưỡng như: đối tượng được cấp dưỡng, điều
kiện cấp dưỡng, mục đích của việc cấp dưỡng… Có thể nói đây là định nghĩa khá
bao quát về cấp dưỡng dưới góc độ pháp lý.
Từ khái niệm cấp dưỡng có thể thấy quan hệ cấp dưỡng có những đặc
điểm cơ bản sau:
- Quan hệ cấp dưỡng là một loại quan hệ pháp luật về tài sản gắn với
nhân thân của mỗi bên trong quan hệ cấp dưỡng. Điều đó thể hiện ở chỗ:
người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chu cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định
nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho người được cấp dưỡng. Đây là
quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân của các bên trong quan hệ cấp dưỡng (bên có
nghĩa vụ cấp dưỡng và bên được cấp dưỡng), vì vậy nghĩa vụ cấp dưỡng là
nghĩa vụ không được chuyển giao cho người khác mà phải do chính người có

Ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp đã nảy sinh từ rất sớm trong
xã hội có giai cấp. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ly hôn là một
mặt của quan hệ hôn nhân, nó là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt
không thể thiếu của quan hệ hôn nhân. Khi đời sống tình cảm yêu thương
giữa vợ chồng đã hết, mâu thuẫn gia đình sâu sắc, mục đích hôn nhân không

11


đạt được thì vấn đề ly hôn được đặt ra nhằm giải phóng cho vợ chồng, con cái
và các thành viên trong gia đình thoát khỏi những xung đột, bế tắc trong đời
sống chung. Vì khi hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, thực chất quan hệ vợ
chồng đã hoàn toàn mất hết ý nghĩa thì mối quan hệ của các thành viên trong
gia đình không còn tốt đẹp như trước thì ly hôn là tất yếu xảy ra.
Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn
chính đáng của vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm
hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là
kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của
mình. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan
vỡ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân, bảo đảm quyền tự do ly hôn của vợ chồng không
có nghĩa là giải quyết ly hôn tùy tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng
muốn sao làm vậy mà bằng pháp luật. Bởi trong quan hệ hôn nhân không chỉ
có lợi ích riêng của vợ chồng mà còn có lợi ích của Nhà nước và xã hội thể hiện
qua những chức năng cơ bản của gia đình - tế bào của xã hội và lợi ích của con
cái - thành viên của gia đình và của xã hội. Như vậy, Nhà nước bằng việc quy
định những điều kiện để cho phép vợ chồng ly hôn, đặt ra những căn cứ để giải
quyết ly hôn, từ đó Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào những quy định, căn cứ
đó để công nhận hoặc quyết định ly hôn. Bằng những hoạt động này, Nhà
nước kiểm soát việc ly hôn, tránh tình trạng ly hôn tùy tiện nhằm đảm bảo lợi
ích của gia đình và không ảnh hưởng tới chức năng của gia đình là tế bào của xã

Những hậu quả pháp lý đó là những nội dung cần được giải quyết khi chấm
dứt hôn nhân liên quan đến quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của vợ và
chồng, quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con
cái… Xuất phát từ lợi ích của gia đình, quyền và lợi ích chính đáng của vợ chồng, các
con, sự ổn định của các quan hệ hôn nhân và gia đình, việc quy định bằng pháp
luật về hậu quả pháp lý của ly hôn giúp Tòa án nhân dân các cấp có đủ cơ sở
pháp lý để điều tra, tìm hiểu kỹ nguyên nhân dẫn tới những

13


mâu thuẫn vợ chồng, tâm tư, tình cảm của người trong cuộc để có thể giải
quyết ly hôn chính xác đảm bảo quyền lợi của các bên, của gia đình và xã hội.
Nghĩa vụ cấp dưỡng là một trong những hậu quả pháp lý của việc ly
hôn liên quan đến quan hệ giữa cha mẹ với con cái và quan hệ tài sản giữa vợ
cũ với chồng cũ.
Như vậy, từ khái niệm cấp dưỡng nói chung, ta có thể hiểu cấp dưỡng sau
ly hôn như sau: Cấp dưỡng sau ly hôn là việc một người có nghĩa vụ đóng góp
tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của vợ hoặc chồng sau
khi ly hôn mà gặp khó khăn, túng thiếu hoặc của con chưa thành niên, đã
thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình mà không sống chung với cha hoặc mẹ khi cha mẹ ly hôn.
Là một trường hợp của quan hệ cấp dưỡng nói chung nên cấp dưỡng s a
u l y h ô n c ũ n g c ó n h ữn g đ ặ c đ i ể m c ơ b ả n c ủ a q u a n h ệ c ấ p d ưỡ n g n ó i
ch u n g n h ư :
- Là một loại quan hệ pháp luật về tài sản gắn với nhân thân của mỗi b ê
n t r o n g q u a n h ệ c ấ p d ư ỡ n g , n ê n n ó l à n g h ĩ a v ụ k h ô n g đ ư ợ c c h u yể n g i a o cho
người khác mà phải do chính người có nghĩa vụ thực hiện và việc thực h i ệ n n
g h ĩ a v ụ c ấ p d ư ỡ n g c ũ n g p h ả i đ ư ợ c t h ự c h i ệ n c h o n g ư ờ i c ó q u yề n đ ượ c c ấ p
dưỡng.

dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn được xác định trên cơ sở quyền và nghĩa vụ
giữa vợ và chồng đảm bảo cho bên khó khăn, túng thiếu có thể ổn định cuộc
sống sau ly hôn. Quy định này thể hiện đạo lý, truyền thống tốt đẹp của gia đình
Việt Nam cũng như con người Việt Nam "lá lành đùm là rách".
1.3. Cơ sở xã hội và nội dung điều chỉnh pháp luật về cấp dưỡng
sau ly hôn
1.3.1. Cơ sở xã hội điều chỉnh pháp luật về cấp dưỡng sau ly hôn
Ly hôn dẫn đến sự ly tán gia đình, mỗi người mỗi ngả. Cha mẹ chia
tay nhau dẫn đến việc các con sẽ không được hưởng sự nuôi dưỡng trực tiếp

15


của cả hai người. Tuy nhiên, sự ly tán gia đình không làm mất đi sự gắn bó
huyết thống giữa các thành viên gia đình và từ đó là quyền của con được cha
mẹ tiếp tục nuôi dưỡng hay là quyền và trách nhiệm của vợ, chồng cấp
dưỡng lẫn nhau trong trường hợp một trong hai người có nhu cầu cấp dưỡng và
bên kia có khả năng.
Chế định cấp dưỡng có ý nghĩa xã hội quan trọng trong việc củng cố
chức năng của gia đình, đề cao các giá trị đạo đức truyền thống. Gia đình
trong thời kỳ đổi mới ở nước ta có sự đan xen giữa các yếu tố truyền thống và
hiện đại. Các chức năng cơ bản của gia đình vẫn là tái sản xuất ra con người,
tái sản xuất ra sức lao động thông qua việc nuôi dưỡng, chăm sóc các thành
viên trong gia đình. Chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình đã
góp phần củng cố chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng người chưa thành niên,
người cao tuổi, người không có khả năng lao động trong gia đình, là cơ sở
pháp lý cần thiết để đảm bảo cho con cái được nuôi dạy tốt trong cả những
hoàn cảnh đặc biệt như cha mẹ ly hôn. Chế định cấp dưỡng đã đóng góp đáng
kể vào củng cố chức năng xã hội cơ bản của gia đình, giúp cho gia đình hoàn
thành sứ mệnh thiêng liêng mà xã hội và tự nhiên giao cho mà không một

và cấp dưỡng nói chung cho những người chưa thành niên hoặc đã thành niên
nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình nhằm đảm
bảo cho những người đó được phát triển toàn diện, có cuộc sống bình thường
ngay cả trong những hoàn cảnh đặc biệt.
Đặc biệt, trong những năm vừa qua, tình trạng ly hôn không chỉ ở Việt
Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới đang ngày càng gia tăng với những
nguyên nhân và lý do rất đa dạng, phức tạp. Các con số được thống kê qua các
năm gần đây cho thấy số lượng án ly hôn được giải quyết tăng lên qua các năm.
Nếu như trước đây hầu hết các vụ ly hôn đều xảy ra ở các thành phố lớn như Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,… thì hiện nay, với công cuộc hiện đại

17


hóa, đô thị hóa nông thôn, tình trạng ly hôn ở các vùng nông thôn đang dần
trở nên phổ biến hơn, nhất là những vùng có nhiều người đi xuất khẩu lao
động. Tuy nhiên, dù tình trạng ly hôn diễn ra ngày càng nhiều và đa dạng,
phức tạp hơn nhưng người dân chưa thực sự tìm hiểu pháp luật về hôn nhân
và gia đình cùng với ý thức pháp luật còn kém. Điều này tất yếu kéo theo việc
người dân tự do ly hôn nhưng không biết hoặc không tìm hiểu rõ các quy định
của pháp luật về ly hôn, dẫn đến không hiểu mình có quyền gì và có nghĩa vụ gì
trong quan hệ giữa các bên khi ly hôn. Đây chính là một trong những lý do
phát sinh vụ án tranh chấp khi ly hôn. Đặc biệt là tranh chấp về cấp dưỡng, do
không tìm hiểu pháp luật nên nhiều người hiểu khi quan hệ vợ chồng chấm dứt
là không có bất kỳ nghĩa vụ nào giữa vợ và chồng, thậm chí là nghĩa vụ đối
với con cái khi được một bên nhận chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa, các quy
định pháp luật về cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình trước đây tuy có
quy định nhưng không cụ thể, rõ ràng, chỉ mang tính khái quát làm ảnh hưởng
đến việc áp dụng pháp luật của các chủ thể trong quan hệ và đối với cả chính
những người làm công tác giải quyết xét xử còn lúng túng và áp dụng không

hình kinh tế xã hội cũng như tính truyền thống trong đời sống hôn nhân của công
dân ở mỗi nước [11, tr.19].
1.3.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về cấp dưỡng sau ly hôn
- Trước hết là xác định nhóm các chủ thể có quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng
Nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn chỉ được đặt ra đối với nhóm quan hệ
cha, mẹ, con và quan hệ vợ chồng, không đặt ra đối với nhóm quan hệ giữa
các thành viên khác trong gia đình: quan hệ giữa ông, bà đối với cháu, quan
hệ giữa cô, dì, chú bác đối với cháu bởi đó là những chủ thể không trực tiếp
tham gia và bị ảnh hưởng tới quyền và lợi ích khi ly hôn.
Sau ly hôn, quan hệ cấp dưỡng chủ yếu được xác định là trách nhiệm
cha mẹ, người không trực tiếp nuôi dưỡng phải cấp dưỡng cho con. Việc cấp
dưỡng giữa vợ, chồng chỉ đặt ra trong những trường hợp một trong hai người

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status