Lịch sử kinh tế quốc dân bài giảng, giáo trình dành cho sinh viên đại học, cao đẳng - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ KINH TẾ QUỐC DÂN
(Dùng cho đào tạo tín chỉ)

Người biên soạn: Nguyễn Mạnh Hiếu
Lê Trần Hoài Thương

Lưu hành nội bộ - Năm 2016


CHƯƠNG 1
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
MÔN HỌC LỊCH SỬ KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1. Khái niệm, vị trí của môn học
1.1.1. Khái niệm
Kinh tế quốc dân là tổng thể các ngành kinh tế của đất nước, liên hệ với nhau
trong hệ thống phân công lao động xã hội. Bao gồm những ngành sản xuất vật chất và
phi vật chất như nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp, tín dụng ngân hàng phục
vụ cho ngành đó.
Lịch sử kinh tế quốc dân là bộ môn khoa học xã hội, nghiên cứu sự phát triển
tổng hợp nền kinh tế quốc dân của một nước hoặc của một khối nước trong một giai
đoạn lịch sử nhất định. Cần phân biệt kinh tế quốc dân và lịch sử kinh tế quốc dân.
Kinh tế quốc dân là tổng thế các ngành, các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân, còn
lịch sử kinh tế quốc dân là quá trình phát triển nền kinh tế của một quốc gia.
1.1.2. Vị trí môn học
Lịch sử kinh tế quốc dân giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu kiến thức của
sinh viên chuyên ngành kinh tế. Đây là một môn học kinh tế cơ sở, trang bị những kiến
thức kinh tế chung, tổng hợp, làm nền tảng cho việc học tập các môn thuộc khối ngành

sự nghiệp phát triển kinh tế. Nói chung nghiên cứu lịch sử để phục vụ sự phát triển
kinh tế.
1.3. Phương pháp nghiên cứu môn học
1.3.1. Cơ sở phương pháp luận
Lịch sử kinh tế quốc dân lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử làm cơ sở phương pháp luận, coi phương thức sản xuất là cơ sở quyết định, là
nền tảng của kiến trúc thượng tầng.
1.3.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic
Phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu sự phát triển kinh tế gắn với
các sự kiện, hiện tượng kinh tế theo tiến trình thời gian và trong hoàn cảnh cụ thể.
Phương pháp lô-gic là phương pháp nghiên cứu bỏ qua những hiện tượng kinh tế ngẫu
nhiên, đi vào bản chất của hiện tượng kinh tế, từ đó khái quát lý luận về tiến trình phát
triển kinh tế. Thực tế nghiên cứu cho thấy, mỗi phương pháp đều có những ưu và
nhược điểm riêng. Do đó, trong nghiên cứu lịch sử kinh tế cần kết hợp chặt chẽ cả hai
phương pháp để tránh thiên về mô tả các sự kiện một cách tự nhiên chủ nghĩa, hoặc
thiên về khái quát lý luận và suy diễn chủ quan, không coi trọng thực tế lịch sử.
+ Phương pháp phân kỳ lịch sử
Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế phân chia quá trình phát triển kinh tế thành
các thời kỳ và giai đoạn khác nhau. Phương pháp này nhằm làm rõ đặc trưng trong
phát triển kinh tế của từng thời kỳ và giai đoạn cụ thể.
+ Các phương pháp khác

-2-


Ngoài các phương pháp trên, lịch sử kinh tế còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khác như: phương pháp toán kinh tế, phương pháp phân tích, so sánh,
thông kê, xã hội học v.v…


xuất hiện một lớp người vừa có tiền, vừa có xưởng thợ, không lao động mà vẫn giàu
có. Một xu hướng khác, chính quan hệ thợ cả, thợ bạn trong các công trường thủ công
cũng thay dần dần thay đổi thành người chủ và người làm thuê. Cả hai con đường nói
trên đã làm cho chủ nghĩa tư bản xuất hiện ngay trong lòng chế độ phong kiến.
2.1.2. Những phát kiến địa lý vĩ đại
2.1.2.1. Các cuộc thám hiểm
Ở Tây Âu vào thế kỷ XV, nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển nhưng các
quốc gia phong kiến lại không có đủ tiền, vàng để thanh toán các khoản chi phí xa xỉ
-4-


trong triều đình. Vua chúa nợ thương nhân đã nhiều, ngân khố Nhà nước vẫn thiếu hụt.
“Khát vàng” là động lực thúc đẩy các quốc gia phong kiến tìm con đường sang phương
Đông để kiếm vàng, nhưng con đường quen thuộc trên Địa Trung Hải để sang Ấn Độ
đã bị đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ chiếm giữ. Nhà nước phong kiến Tây Ban Nha (đã đi đến
giai đoạn phong kiến tập quyền, đang hùng cường nhất) đã tổ chức tìm kiếm những
con đường mới sang phương Đông.
Năm 1492, Christopher Columbus đi vào vùng Ca-ri-bê, khám phá ra châu Mỹ;
năm 1497, Vasco da Gama đi sâu vào lục địa châu Phi, rồi cuối cùng đến Ấn Độ; năm
1519-1521, Ferdinand Magellan kế thừa thành tựu của các cuộc thám hiểm trên, tìm ra
con đường vong quanh thế giới. Hành trình đó chứng minh là người ta có thể đi buôn
bán bất cứ từ đâu, có thể đến bất cứ nơi nào, mà vẫn có thể trở lại chỗ cũ được.
2.1.2.2. Ảnh hưởng của các cuộc thám hiểm đến sự ra đời chủ nghĩa tư bản
Những phát kiến địa lý vào thế kỷ XVI đã góp phần thúc đẩy sự ra đời nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa. Mở ra một thời đại mới của nền kinh tế thế giới. Đó là:
- Thị trường thế giới hình thành: Trước năm 1500 diện tích quả đất mà con
người biết được chỉ rộng 50 triệu km2 đến năm 1600 là 310 triệu km2. Với diện tích
đó, thị trường đã mở rộng. Ở Châu Âu, hàng hoá được đem bán ở các lục địa khác.
Thương nhân Châu Âu mua về những sản phẩm nhiệt đới mà trước đó lục địa này
chưa biết đến. Đó là cao su, thuốc lá, ca cao, cà phê, chè, hồ tiêu. Lục địa Châu Âu lại

bảo hộ công nghiệp, độc quyền ngoại thương… Bằng các biện pháp đó, đến cuối thế
kỷ XVI, tự bản Anh đã tích lũy được khoảng 1 triệu Pound vàng, bạc và có một nguồn
lao động làm thuê khá lớn.
2.1.4. Những phát triển kỹ thuật thế kỷ XV, XVI
Thế kỷ XV- XVI kỹ thuật về năng lượng, luyện kim, cơ khí xuất hiện. Đó là sử
dụng sức gió sức nước trong việc khai thác than, xay bột.
- Công nghiệp luyện gang thành thép tạo ra sự đột phá trong ngành cơ khí. Cuối
thế kỷ XVI chế tạo đồng hồ xách tay, máy chữ. Đúc được những mẻ thép lớn để làm
vũ khí.
- Sử dụng năng lượng của sức gió, sức nước chạy các máy xay, máy sợi.
- Có nhiều cải tiến công cụ lao động: Máy bào, máy tiện thô sơ, sử dụng máy
dệt lắp bàn đạp thay cho quay tay.
- Trong nông nghiệp tăng diện tích gieo trồng nhờ biết làm thủy lợi, cải tiến kỹ
thuật nông nghiệp, tạo giống mới có năng suất cao.
Nhìn chung, trong giai đoạn này, lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội phát triển ngày càng mâu thuẫn với phạm vi chật hẹp của nền sản xuất nhỏ trong
các thành phố trung cổ. Thị trường mở rộng, vốn và lao động làm thuê tăng lên, cơ sở
kỹ thuật được cải tiến đã tạo điều kiện để tổ chức sản xuất với quy mô lớn hơn. Công
trường thủ công tư bản chủ nghĩa ra đời, đó là hình thức quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn tư bản chủ nghĩa, giữ vai trò thống trị ở châu Âu từ thế kỷ XVI đến 1/3 cuối
thế kỷ XVIII.
2.2. Kinh tế TBCN thời kỳ trước độc quyền (1640 - 1870)
2.2.1. Cách mạng tư sản và sự thiết lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
“Mặc dù ngay trong thế kỷ XIV và XV những mầm móng đầu tiên của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa đã có rải rác một số thành phố lẻ tẻ vùng Địa Trung Hải nhưng

-6-


thời đại tư bản chủ nghĩa chỉ bắt đầu từ thế kỷ XVI mà thôi” (Mác - Ăngghen, Nhà

hàm việc biến lao động thủ công thành lao động cơ khí, biến công trường thủ công
thành công xưởng TBCN.
2.2.2.1. Cách mạng công nghiệp ở nước Anh (1733 - 1825).
* Tiền đề

-7-


Cách mạng công nghiệp dựa trên những điều kiện tiền đề nhất định, nhưng điều
kiện đó không giống nhau giữa các nước. Ở nước Anh, những điều kiện của cách
mạng công nghiệp xuất hiện sớm và thuận lợi hơn nhiều so với ở các nước khác:
Nhờ phát triển mạnh ngoại thương mà thương nhân Anh đã vơ vét được của cải
của các nước Ấn Độ, Bắc Mỹ, Đức. Nước Anh đã tranh giành được nhiều thuộc địa từ
tay Tây Ban Nha, Pháp. Cho đến đầu thế kỷ XIX, Anh là nước có nhiều thuộc địa nhất.
Dựa vào ưu thế ngoại thương, Anh đã tích luỹ được vốn và nhân công cho công
nghiệp.
Buôn bán nô lệ da đen đóng vai trò quan trọng cho cách mạng công nghiệp
Anh. Tính từ năm 1680 đến năm 1786 có tới 2 triệu nô lệ bị Anh bán đi khắp nơi trên
Châu Mỹ, thu về 300.000 bảng Anh mỗi năm. Thành phố Leverpool là trung tâm buôn
bán nô lệ da đen. Thị trường nô lệ ra đời từ 1562 do nhà nước quý tộc khởi xướng và
ủng hộ. Chính phủ của Sac Lơ II đã cho thành lập một công ty buôn bán nô lệ trực
thuộc chính phủ Hoàng Gia Anh.
Phát triển CNTB trong nông nghiệp tạo nên thị trường cho công nghiệp. Đạo
luật về rào đất được ban hành. Nhà nước đã cho phép các chủ đất thả sức cướp ruộng
đất của nông dân. Bọn quý tộc đã thuê lao động, tổ chức thành trang trại để kinh doanh
theo kiểu Tư bản chủ nghĩa. Nông nghiệp Anh cung cấp ngày càng nhiều lông cừu cho
công nghiệp dệt len dạ.
Cách mạng tư sản Anh đã đưa giai cấp tư sản lên cầm quyền thủ tiêu chế độ bóc
lột của phong kiến mà không bị tổn thất.
* Tiến trình của cuộc cách mạng công nghiệp Anh

- Nhiều thành phố mới xuất hiện để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
- Hình thành giai cấp công nhân công nghiệp đối lập với giai cấp tư sản.
- Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
- Nước Anh xây dựng được nền đại công nghiệp cơ khí làm cơ sở vật chất kỹ
thuật cho sự ra đời CNTB.
- Đưa nước Anh trở thành công xưởng của thế giới. Nước Anh có nền công
nghiệp kiểu mẫu ở Châu Âu, có vai trò hàng đầu trong thương nghiệp và tín dụng quốc
tế. Nước Anh là nước phát triển nhất trong thời kỳ tự do cạnh tranh. Về mặt chính trị,
giai cấp tư sản đã giữ vị trí thống trị, dân cư công nghiệp tăng lên, nông nghiệp giảm
xuống hẳn.
2.2.2.2. Cách mạng công nghiệp ở Pháp
Sau nước Anh, ở một số nước châu Âu khác như Pháp, Đức, Nga và Mỹ… cách
mạng công nghiệp cũng lần lượt xảy ra.
Cách mạng công nghiệp Pháp bắt đầu vào 1815 kết thúc 1920. Có nhiều nhân tố
làm trì hoãn cuộc cách mạng công nghiệp Pháp. Nếu ở Anh khi tiến hành cách mạng
công nghiệp giai cấp tư sản tước đoạt ruộng đất của nông dân tàn khốc thì ở Pháp chỉ
đánh thuế cao dồn nông dân vào chỗ cầm cố, bán số ruộng đất của mình. Vì thế ở Pháp
tốc độ tước đoạt tư liệu sản xuất của nông dân diễn ra chậm, còn việc cướp bóc thuộc
địa thì Pháp kém xa Anh.
Cách mạng công nghiệp Pháp cũng bắt đầu bằng công nghiệp nhẹ, cụ thể là
ngành dệt. Chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn I: Từ năm 1815 đến năm 1848, phát triển mạnh nhất là ngành dệt;
máy hơi nước; đường sắt.
Giai đoạn II: Từ những năm 1850 của thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ
XX. Nước Pháp đã xây dựng được ngành công nghiệp chế tạo máy. Pháp đã có nhiều
-9-


phát minh sáng chế. Nước Pháp hoàn thành công nghiệp hoá vào những năm 20 của
thế kỷ XX, tức là gần 100 năm (1830 - 1920).

Anh còn có Mỹ và một số nước ở Tây Âu. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản đã dẫn đến
cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất nhằm phân chia lại thị trường thế giới.

- 10 -


2.3.2. Thời kỳ từ 1914 – 1945
2.3.2.1. Hậu quả kinh tế của Chiến tranh thế giới thứ nhất
Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) có ảnh hưởng sâu sắc đến nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trước đó, Đức, Anh, Pháp đã tập trung nên kinh tế để chuẩn
bị cho cuộc chiến tranh. Khi chiến tranh xảy ra, trên thực tế có tới 70 triệu người phải
ngừng sản xuất, gần 10 triệu người bị chết, 20 triệu người bị thương, sản lượng công
nghiệp bị giảm 50% so với trước chiến tranh, 1/6 của cải vật chất của loài người đã bị
hủy hoại (trị giá 206 tỷ USD). Tất cả các nước tham chiến đều bị thiệt hại, chỉ có Mỹ
và Nhật Bản giàu lên trong chiến tranh. Thu nhập của Mỹ tăng 40%, của Nhật Bản
tăng 25% do bán vũ khí, lương thực cho các bên tham chiến hoặc chiếm lại thị trường
của họ.
2.3.2.2. Kinh tế tư bản chủ nghĩa giai đoạn 1918-1939
Phát triển không đều, không ổn định, bị sa sút hơn trước.
- 1918 - 1922: Kinh tế TBCN kiệt quệ, lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế.
- 1923 - 1928: Kinh tế TBCN bắt đầu phục hồi vượt mức trước chiến tranh.
- 1923- 1933: Khủng hoảng kinh tế trong toàn bộ thế giới CNTB. Cuộc khủng
hoảng kinh tế 1929 - 1933 của CNTB tổn thất hết sức nặng nề, sức tàn phá công
nghiệp ghê gớm. Kinh tế hệ thống tư bản giảm đi 37% so với năm 1929. Năm 1932
sản lượng công nghiệp giảm 40% làm cho CNTB thụt lùi 20 năm, nạn thất nghiệp trở
nên nặng nề. Giai cấp tư sản chuyển từ tự do dân chủ sang độc tài phát xít (Đức, Ý,
Nhật) do đó nhân loại phải chấp nhận chiến tranh thế giới thứ hai.
2.3.2.3. Hậu quả kinh tế của Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) là tai họa lớn nhất trong lịch sử loài
người. Đã có hơn 50 triệu người bị chết, chi phí quân sự của các bên tham chiến lên tới

cho sản xuất và tiêu dùng.
Do không bị thiệt hại mà còn làm giàu trong chiến tranh, Mỹ có ưu thế hơn hẳn
các nước Tây Âu, họ thực hiện các biện pháp xâm nhập vào nền kinh tế của các nước
đồng minh, đồng thời thi hành “cuộc chiến tranh lạnh” ngăn cản các nước tư bản buôn
bán với các nước xã hội chủ nghĩa, bao vây kinh tế Liên Xô.
Đối với Tây Âu, thông qua Kế hoạch Marshall, Mỹ đã viện trợ 12,5 tỷ USD
(tính đến tháng 12/1951), trong đó 16% là tư liệu sản xuất, còn lại là hàng tiêu dùng.
Các nước nhận viện trợ (chủ yếu là Anh, Pháp, Đức) phải mua hàng hóa của Mỹ, thực
hiện chính sách mở cửa cho hàng hóa của Mỹ, hoặc đảm bảo cho Mỹ có được nguồn
nguyên liệu từ thuộc địa của các nước này. Trong những năm 1946-1951 Mỹ đã thu
được 30 tỷ USD trong cán cân mậu dịch, phần lớn là thặng dư với các nước Tây Âu.
Đối với Nhật Bản, nơi Mỹ đang chiếm đóng, Mỹ đã viện trợ và cho vay khoảng
2,3 tỷ USD, đồng thời có nhiều chính sách cải cách có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế
xã hội Nhật Bản trong những năm khôi phục sau chiến tranh.
Đến cuối năm 1950, hầu hết các nước tư bản (trừ Nhật Bản) đã khôi phục kinh
tế đạt bằng mức trước chiến tranh. So với năm 1938, tổng sản phẩm trong nước (GDP)
năm 1950 của Mỹ bằng 179%, Anh: 114%, Pháp: 121%, Italia: 104%.
2.3.3.2. Giai đoạn tăng trưởng nhanh (1951-1973)
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước TBCN bắt đầu đi vào khôi phục kinh tế.
Nhờ viện trợ của Mỹ và sự nỗ lực của các nước phương Tây mà chỉ sau 3 năm
(1948 - 1951), kinh tế Châu Âu đã được khôi phục. Giá trị công nghiệp tăng lên đáng
- 12 -


kể so với 1937, sản lượng công nghiệp tăng 113%, trong đó Nhật khôi phục chậm hơn
vì bị Mỹ khống chế.
Từ năm 1951 đến 1973, nền kinh tế TBCN phát triển nhanh chóng, sản lượng
công nghiệp 1970 so với 1951 tăng lên 3 lần. Bình quân thu nhập một công nhân từ
3.090 USD (năm 1950) lên 6.110 USD (năm 1970). Nhịp độ tăng trưởng kinh tế hàng
năm 4,8%. Công nghiệp có 3 ngành cơ khí, hoá chất, năng lượng phát triển nhanh

hoảng, chu kỳ khủng hoảng tương đối ngắn.
- 13 -


Năm 1973 có cuộc khủng hoảng năng lượng đã làm cho các nước OPEC nâng
giá dầu từ 10 USD/thùng lên 30 USD/thùng, năng lượng khó khăn đòi hỏi phải phát
triển nguồn năng lượng mới.
Cuối năm 1977, cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Anh, đồng đôla bị sụt giá
nhanh chóng. Đầu những năm 1970 hệ thống tiền tệ lấy "đồng đôla" làm bản vị đã bị
suy yếu và hình thành 3 trung tâm. Đôla Mỹ, Mark Tây Đức, Yên Nhật Bản. Thị
trường tiền tệ dưới chủ nghĩa tư bản giai đoạn này bị rối loạn.
Khủng hoảng từ 1970 trở đi diễn ra trong toàn bộ các nước tư bản chủ nghĩa đã
làm cho nền công nghiệp phát triển thụt lùi (giảm 3%).
Lạm phát cao tồn tại đồng thời với khủng hoảng kinh tế. Sở dĩ có lạm phát là vì
các nước chủ nghĩa tư bản tăng cường chạy đua vũ trang, chi tiêu quá lớn cho quân sự,
giá cả tăng vọt.
Khủng hoảng chính trị xã hội gắn liền với khủng hoảng kinh tế. Do quá trình
ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật đẻ ra mâu thuẫn: Máy móc hiện đại cần ít công
nhân, do đó công nhân thất nghiệp tăng lên; các chủ trại không có khả năng về vốn và
kỹ thuật nên bị phá sản. CNTB trút gánh nặng lên đầu người lao động. Mâu thuẫn giữa
lao động và tư bản trở nên gay gắt. Nhiều cuộc đình công, bãi công nổ ra liên tiếp.
- Các trung tâm tư bản mâu thuẫn nhau: Mâu thuẫn giữa Mỹ, Tây Âu và Nhật
Bản được biểu hiện tập trung trên lĩnh vực thương mại, tài chính. Điều này làm cho giá
hàng hoá Nhật trên thị trường thế giới lên cao, dẫn đến các công ty Nhật bị phá sản.
Trước những khó khăn thử thách, chủ nghĩa tư bản đã cố gắng điều chỉnh nền
kinh tế của mình nhằm thích nghi với điều kiện mới.
2.3.3.4. Điều chỉnh kinh tế của các nước tư bản (từ năm 1982 đến nay)
Sau Chiến tranh tế giới thứ hai, dựa trên lý thuyết của Keynes, điều chỉnh kinh
tế được coi là hoạt động thường xuyên của chính phủ các nước. Tuy nhiên, trước
những khó khăn, mâu thuẫn và các điều kiện mới xuất hiện, nên từ đầu thập niên 80

Tăng cường hoạt động thương mại, bằng cách dung hòa các mâu thuẫn trong
quan hệ quốc tế. Hàng năm hội nghị nhóm G7 để bàn luận về kinh tế quốc tế. Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) ra đời thay thế GATT, nhằm khắc phục tình trạng bảo hộ
mậu dịch. Nhiều tổ chức thương mại khu vực ra đời nhằm xây dựng các khu vực mậu
dịch tự do như APEC, NAFTA, EU. Tăng cường đầu tư ra nước ngoài. Dòng vốn đầu
tư có thay đổi các nước phát triển chuyển vốn đàu tư vào các nước phát triển (60%),
hạn chế đầu tư vào các nước đang phát triển (40%).
Tóm lại, xét về mặt lịch sử, sự ra đời của CNTB là một bước phát triển tiến bộ
so với chủ nghĩa phong kiến. Vai trò của CNTB là đã tạo ra một lực lượng sản xuất
phát triển với một nền công nghiệp cơ khí hiện đại. Tuy nhiên từ sau cách mạng tháng
Mười những mâu thuẫn đối kháng dần dần bộc lộ ra hết sức sâu sắc và bùng nổ dữ dội,
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến những cuộc chạy đua quân sự
tốn kém trong thời chiến tranh lạnh.
Câu hỏi ôn tập
1. Phân tích nội dung và tác động của điều chỉnh kinh tế TBCN từ năm 1982 đến nay.
2. Tiền đề để xuất hiện các cuộc CMCN tại Anh, Pháp, Đức là gì?
3. Sự phát triển kinh tế của các nước TBCN có đặc điểm gì nổi bật ở mỗi thời kỳ lịch
sử?
4. Kinh tế tư bản chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ II?
5. Phân tích nguyên nhân kinh tế TBCN từ 1973 – 1982 phát triển chậm chạp và
không ổn định.

- 15 -


CHƯƠNG 3
KINH TẾ HOA KỲ
3.1. Đặc điểm KT-XH Bắc Mỹ dưới thời cai trị của thực dân Anh (trước 1776)
3.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội Bắc Mỹ
Sau phát kiến địa lý vĩ đại của Christopher Columbus vào cuối thế kỷ XV

triển yếu ớt. Lực lượng nắm quyền lực ở đây là chủ các đồn điền.
- 16 -


Nhìn chung kinh tế Mỹ, trong thời kỳ thống trị của thực dân Anh, cho đến cuối
thế kỷ XVIII, nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Vùng thuộc địa phía Bắc tiến bộ hơn,
nhưng 90% dân số vẫn sống bằng nghề nông, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, chủ yếu
dựa vào sự bóc lột sức lao động rẻ mạt của nô lệ và dân nghèo làm thuê. Nước Anh
thực hiện chính sách kìm hãm Bắc Mỹ, lệ thuộc cả kinh tế và chinh trị.
3.1.2. Chính sách cai trị của thực dân Anh tại Bắc Mỹ
Nước Anh chia thuộc địa Bắc Mỹ thành hai loại. Những vùng được hưởng đặc
quyền của nhà Vua như: Maryland, Rhode Island, Connecticut, Pennsylvania,
Delaware là những vùng tự trị. Ở các vùng khác, Chính phủ Anh trực tiếp cử các
Thống đốc cai trị. 13 vùng thuộc địa không có luật pháp riêng, mà phải tuân theo luật
pháp của nước Anh. Quyền tự do dân chủ của dân cư bị hạn chế, chỉ có quý tộc giàu
có (chiến 2-9% dân cư) mới có quyền bầu cử, người nô lệ, người da đỏ không có
quyền công dân.
Nhà nước Anh còn có chính sách bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp quý tộc và địa
chủ. Như việc khôi phục và áp đặt quan hệ sở hữu ruộng đất mới. Vua Anh đã phân
phong những vùng đất mới cho quý tộc, có vùng rộng lớn tới hàng vạn km2. Đặc biệt
năm 1763, Chính phủ Anh ra đạo luật quy định những đất đai từ dãy núi Allegheney
trở về phía tây đều thuộc về Nữ hoàng Anh. Đạo luật này đã gây nên làn sóng bất bình
của những người dân di thực từ châu Âu sang Bắc Mỹ với nguyện vọng thiết lập trang
trại trên cơ sở sở hữu cá nhân về ruộng đât.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Chính phủ Anh ban hành đạo luật như cấm đưa
vào Bắc Mỹ máy móc, mẫu hàng sáng chế, thợ cả. Năm 1750 “đạo luật về sắt” cấm
xây dựng các cơ sở sản xuất sắt thép, xưởng rèn lớn, lò nấu thép. Chính phủ Anh còn
ngăn cấm Bắc Mỹ buôn bán với các nước khác, cũng như giữa các thuộc địa với nhau.
Chính sách thuế khóa ngày càng gây khó khăn cho sản xuất công nghiệp và thương
nghiệp. Chính phủ ban hành nhiều đạo luật quy định với Bắc Mỹ, trong đó có đạo luật

Người Mỹ còn mở rộng đất đai xuống phía Nam (Châu Mỹ La tinh), gây chiến
với Tây Ban Nha giành Mexico (1846 - 1848), dự định sát nhập CuBa vào Mỹ, đưa
quân đến vùng biển Uruguay, Argentina, nhằm nắm toàn bộ kinh tế của châu Mỹ,
đồng thời mở rộng sang các khu vực khác trên thế giới. Từ những năm 40 của thế kỷ
XIX, Mỹ tham gia chia phần trong cuộc chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc, Mỹ đã
ký với triều đình Mãn Thanh hiệp ước năm 1844, sau đó với Anh và triều đình Mãn
Thanh đàn áp phong trào nông dân Thái bình thiên quốc. Năm 1853, gây sức ép buộc
Nhật Bản phải mở cửa, ký hiệp ước bất bình đẳng cho Mỹ vào buôn bán trên đất Nhật.
Như vậy, từ giữa thế XIX, Mỹ đã thực hiện mọi biện pháp nhằm bành trướng
đất đai, mở rộng thị trường tạo điều kiện cho kinh tế Mỹ phát triển.
3.2.2. Cách mạng công nghiệp và sự phát triển kinh tế
Cuộc mạng công nghiệp đã diễn ra ở miền Bắc nước Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII.
Năm 1790 nhà máy dệt đầu tiên đã được xây dựng. Đầu thế kỷ XIX công nghiệp dệt ở
Mỹ phát triển rất mạnh. Thời gian 20 năm (1815- 1840) số lượng sợi bông sử dụng
tăng 5 lần. Công nghiệp len dạ phát triển mạnh: 1810 có 24 nhà máy. Giá trị sản phẩm
thặng dư đến cuối thế kỷ XVIII tăng từ 2,6 triệu lên 68,8 triệu USD.

- 18 -


Công nghiệp nặng tuy ra đời sau do đòi hỏi của công nghiệp nhẹ song đạt thành
tựu đáng kể. Năm 1810 ở Mỹ có 153 lò cao, sản lượng thép đạt 33.908 tấn. Năm 1860
sản lượng thép 600.000 tấn, sản lượng than đạt 14,3 triệu tấn.
Hệ thống đường sắt được xây dựng, năm 1825 đến 1850 có độ dài 14.518 km;
các kênh đào cũng được mở rộng, dài 5950 km; đường sá, cầu cống phát triển mạnh.
Từ năm 1810 nền công nghiệp Mỹ phát triển nhanh chóng, sản lượng công
nghiệp tăng 5 lần. Nhiều trung tâm công nghiệp mọc lên. Sản xuất công nghiệp của
Mỹ đứng thứ 4 thế giới sau Anh, Pháp, Đức. Cách mạng công nghiệp Mỹ tiến hành
thuận lợi vì Mỹ có lợi thế về điều kiện tự nhiên, về vốn, về lao động kỹ thuật từ Châu
Âu. Cách mạng công nghiệp Mỹ đi từ công nghiệp nhẹ chuyển dần dần sang công

nhiều trở ngại cho sự phát triển công nghiệp ở phía Bắc. Cách mạng công nghiệp phía
Bắc đang tiến hành, cần mở rộng thị trường và quy mô sản xuất. Nhưng các chủ đồn
điền phía Nam không quan tâm đến sự phát triển công nghiệp phía Bắc. Trong khi phía
Bắc thực hiện chính sách bảo hộ công nghiệp, thì ở phía Nam thực hiện chính sách
“mậu dịch tự do”. Mặt khác chế độ kinh doanh kiểu đồn điền chiếm hữu nô lệ đã giam
hãm hàng triệu những người da đen, với cuộc sống nghèo khổ đã hạn chế cung cấp
nguồn nhân công cho công nghiệp và giảm sức mua trên thị trường.
Những mâu thuẫn về kinh tế - chính trị - xã hội nói trên ngày càng diễn ra gay
gắt dẫn tới bùng nổ cuộc nội chiến vào tháng 4 năm 1861 và kết thúc vào tháng 4 năm
1865. Cuộc nội chiến này mặc dù có thiệt hại về vật chất 6,7 tỷ USD, 600.000 người bị
chết, và 500.000 người bị thương, nhưng đã mang lại thắng lợi cho phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa ở phía Bắc, thủ tiêu chế độ nô lệ ở đồn điền phía Nam.
Tháng 5 năm 1862, Luật cư trú được ban hành, quy định cấp phát đất không
mất tiền cho các chủ trại. Mỗi người được cấp 160 arce (tương ứng 65 ha). Đây là giải
pháp dân chủ và tiến bộ trong chính sách ruộng đất, tạo điều kiện cho nông nghiệp
phát triển theo hướng trang trại tư bản chủ nghĩa, tạo thị trường rộng lớn cho công
nghiệp phát triển.
“Luật giải phóng nô lệ” được ban hành ngày 1 tháng 1 năm 1863, hơn 4 triệu
lao động nô lệ da đen đã được giải phóng, là nguồn nhân lực quan trọng bổ sung cho
công nghiệp phát triển. Đồng thời, chính sách bảo hộ mậu dịch đã thực hiện trên toàn
lãnh thổ nước Mỹ, tạo cơ sở cho kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng được phát
triển nhanh chóng, đưa nước Mỹ vươn lên vị trí hàng đầu về kinh tế vào cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX.
3.3. Kinh tế Hoa Kỳ thời kỳ độc quyền (1865 đến nay)
3.3.1. Thời kỳ “bùng nổ” kinh tế (1865 - 1913)
Sau cuộc nội chiến (1861-1865), kinh tế Mỹ có điều kiện phát triển nhanh
chóng, đến đầu thế kỷ XX nước Mỹ đã trở thành cường quốc công nghiệp đứng đầu
thế giới.
Sản xuất công nghiệp Mỹ tăng rất nhanh. Sản xuất công nghiệp tăng 13 lần
trong giai đoạn 1860-1913. Nhiều ngành công nghiệp quan trọng phát triển nhanh như

31,5 triệu thì năm 1910 là 92,4 triệu.
- Mỹ tận dụng được kỹ thuật mới của phương Tây, trong khi đó việc thay đổi cơ
cấu kinh tế không diễn ra phức tạp, đổi mới tư bản cố định không nặng như ở Châu
Âu.
- Mỹ là nước giàu có và đa dạng tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí thuận lợi
nhất thế giới.
Nhìn chung, nền kinh tế Mỹ đến đầu thế kỷ XX chuyển dần sang CNTB độc
quyền. Các tổ chức tư bản độc quyền đã nắm và khống chế toàn bộ nền kinh tế nước
Mỹ. Những lĩnh vực then chốt như công nghiệp, xuất khẩu đều do công ty tư bản độc
quyền thao túng, độc quyền hóa trở thành một xu thế tích cực ở Mỹ thời bấy giờ.
3.3.2. Thời kỳ từ 1914 – 1945
Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu từ năm 1914 đến tháng 4 năm 1917 khi đã
phân thắng bại thì nước Mỹ mới tham gia nhằm chia lại thị trường. Khi mới tham gia
chiến tranh, nền kinh tế Mỹ bị xáo trộn, nhưng chiến tranh lại kích thích nền kinh tế
- 21 -


Mỹ phát triển. Mỹ lợi dụng bán vũ khí và thiết bị cho các nước tham chiến thu được 35
tỷ USD lợi nhuận. Vốn đầu tư cho nông nghiệp từ 1914-1919 tăng khoảng 2 lần, sản
phẩm công nghiệp tăng 1,7 lần, nông nghiệp tăng 1,5 lần. Sau chiến tranh Mỹ trở
thành trung tâm kinh tế tài chính của thế giới tư bản chủ nghĩa, đồng thời là chủ nợ lớn
nhất, riêng các nước Tây Âu vay nợ của Mỹ là 7 tỷ USD. Chiến tranh thế giới thứ nhất
kết thúc năm 1918, trong khi các nước châu Âu phải khôi phục kinh tế sau chiến tranh,
thì kinh tế Mỹ tiếp tục được phát triển.
Cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ 1920-1921 cũng tác động làm cho kinh tế Mỹ
giảm sút nhưng với tiềm lực kinh tế mạnh Mỹ khôi phục nhanh và bước vào giai đoạn
phát triển ổn định 1924-1928. Các công ty độc quyền tập trung vào một số ngành công
nghiệp mới như hóa chất, kỹ thuật điện, radio, sản xuất xe ôtô, luyện kim, cơ khí chế
tạo theo hướng đổi mới tài sản cố định và giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường thế giới. Về sản xuất ô tô năm 1913 mới có 485.000 chiếc thì năm

Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu từ năm 1939, nhưng đến tháng 12 năm
1941 Mỹ mới thực sự tham gia, đứng về phía Đồng Minh. Trong Chiến tranh thế giới
thứ hai. Mỹ thiệt hại không đáng kể. Nhưng Mỹ lại tiếp tục giàu lên vì chiến tranh.
Nhờ bán vũ khí cho các nước Đồng Minh, Mỹ thu được 117,2 tỷ USD lợi nhuận. Từ
năm 1940-1945 sản xuất công nghiệp tăng gấp đôi; GDP tăng hơn 2 lần từ 99,7 tỷ
USD lên 211,9 tỷ USD. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai nước Mỹ chiếm hơn 50% sản
xuất công nghiệp, hơn 50% kim ngạch xuất nhập khẩu, gần ¾ dự trữ vàng và giữ vai
trò thống trị tuyệt đối trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa.
3.3.3. Kinh tế Hoa Kỳ giai đoạn 1945 – 1990
3.3.3.1. Kinh tế Mỹ giai đoạn 1945 – 1973
Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là nước thắng trận. Sau chiến tranh thế giới thứ
hai, các nước ngày càng lệ thuộc vào Mỹ. Kế hoạch Marshall, Mỹ cam kết đã viện trợ
cho Tây Âu gần 20 tỷ USD. Để đổi lấy viện trợ, Tây Âu phải cung cấp các thông tin
kinh tế, kỹ thuật và phải nhập hàng hóa của Mỹ. Hàng hoá của Mỹ phải được ưu đãi về
thuế quan.
Hội nghị Bretton Wood tổ chức năm 1944 thiết lập hệ thống tiền tệ thế giới lấy
đồng Đô la Mỹ làm trụ cột, điều này đã mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế Mỹ.
Bên cạnh kế hoạch Marshall, Mỹ còn viện trợ cho các nước đang phát triển.
Tính trong vòng 23 năm sau chiến tranh Mỹ đã viện trợ 90 tỷ đến 100 tỷ USD cho các
nước đang phát triển. Về kinh tế các nước này là nơi đầu tư, thị trường cung cấp
nguyên liệu cho Mỹ.
Mỹ phát triển mạnh đầu tư nước ngoài, tính từ 1950 đến 1969 vốn đầu tư của
Mỹ từ 11,8 tỷ lên 70 tỷ đô la. Mỹ rất chú trọng đầu tư vào Tây Âu và Canada. Ở Tây
Âu, Mỹ kiểm soát 50 % máy tính điện tử, 80% thiết bị máy tính. Ở Canađa l/2 doanh
số của 400 công ty thuộc về các nhà tư bản Mỹ.
Vùng Đông Nam Á trở thành điểm nóng của chiến lược Châu Á, Thái Bình
Dương của Mỹ, do đây là vùng nguyên liệu và nhân công rẻ, lợi nhuận mà Mỹ thu
được ở đây từ 1946 đến 1972 là 62,5 tỷ USD.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai bùng
nổ. Mỹ đã tranh thủ để chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đầu tư chiều sâu. Để thực hiện ý

Sau chiến tranh vị trí kinh tế của Mỹ suy giảm có nhiều nguyên nhân:
- Chạy đua vũ trang với Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh Mỹ tìm mọi
biện pháp để dành ưu thế về kinh tế và quân sự đối với Liên Xô và các nước XHCN.
- Mỹ lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ năm 1955-1975 Mỹ tiêu tốn
352 tỷ đô la. Chiến tranh Việt Nam đã cho Mỹ một bài học về chính sách hiếu chiến
của các tập đoàn tư bản lũng đoạn.
- Sử dụng phương pháp Tay Lo trong quản lý công nghiệp không đạt hiệu quả
mong muốn. Phương pháp Tay Lo chủ yếu dựa vào kỹ thuật, không chú ý tới vai trò
của thể chế và con người.
- Do cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới vào 1971 đã đẩy giá dầu từ 3,3 đô la/
thùng lên tới 11,28 đô la/thùng.
Từ 1970 hệ thống đồng Đô la Mỹ không còn được đảm bảo bằng vàng, hệ
thống tỷ giá bị thả nổi. Tuy nhiên đồng Đô la vẫn đảm bảo khả năng thanh toán quốc
- 24 -



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status