Bài thu hoạch lớp Đảng viên mới - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

CÂU 1: Phân tích vì sao Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn hợp
quy luật, hợp lòng dân?
Trả lời:
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bài học lớn xuyên suốt quá
trình cách mạng Việt Nam là con đường duy nhất đúng mà Đảng ta và dân tộc
Việt Nam đã lựa chọn.
Độc lập dân tộc và CNXH là những vấn đề lý luận có ý nghĩa lịch sử và thời
đại sâu sắc. Độc lập Dân tộc thực chất là vấn đề Dân tộc; Chủ nghĩa xã hội thực
chất là vấn đề Giai cấp. Đây là hai vấn đề lớn, hai nguồn sức mạnh, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của Cách mạng VN.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức IV của Đảng, lần đầu tiên bài học
này được nêu lên: "... giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.
Đó là đường lối, là sức mạnh, là nguồn gốc thắng lợi của cách mạng nước ta".
Giữ vững mục tiêu Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội là nhân tố bản chất trong
đường lối chiến lược cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tiễn cách mạng Việt nam gần một thế kỷ qua cho chúng ta nhận thức
sâu sắc hơn bài học độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự gắn kết giữa
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là con đường tất yếu khách quan,
hợp với quy luật phát triển của đất nước, hợp lòng người. Đó là sự lựa chọn của
Đảng, Bác Hồ và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân, của lịch sử!
Ngược dòng lịch sử đất nước ta:
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta đã liên tiếp
đứng lên đấu tranh chống lại kẻ xâm lược. Nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp tàn
bạo và thất bại. Nguyên nhân chính là do không có đường lối cách mạng đúng đắn
dưới sự chỉ đạo của một hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học và cách mạng. Đó là sự
khủng hoảng đường lối cứu nước.
Tháng 6 năm 1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc,
Hồ Chí Minh, Bác Hồ...) ra đi tìm đường cứu nước. Bôn ba khắp năm châu, bốn
biển, vừa lao động, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách

nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc” như Cương lĩnh
năm 1991 của Đảng đã chỉ rõ.
Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng cộng sản lãnh đạo đã
khẳng định: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy
nhất đúng đắn.
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng
dân tộc, dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ba là, thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, củng cố vững
chắc hơn độc lập dân tộc, từng bước đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn Cách mạng mới, độc lập dân tộc không chỉ dừng lại là chủ
quyền quốc gia, lãnh thổ. Độc lập dân tộc phải được xác định cụ thể hơn, rộng lớn
hơn: Đó là độc lập về con đường phát triển, độc lập về kinh tế- xã hội, văn hóa...
gắn độc lập dân tộc với những vấn đề toàn cầu, với quá trình đaphương hóa, đa
dạng hóa các quan hệ quốc tế: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
Bên cạnh đó Chủ nghĩa xã hội cần được nhận thức và điều chỉnh để phù hợp với
xu thế của thời đại. Chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển. Đó là một quá trình với nhiều giai đoạn, bước đi phù hợp với thời đại. Đồng
thời phải gắn CNXH với những đặc trưng cụ thể, với bản sắc của dân tộc và xu thế
thời đại, với những bước đi vững chắc, cách làm phù hợp. Kết hợp độc lập dân tộc
và CNXH cũng là một quá trình vận động của các nhân tố dân tộc, giai cấp, trong
nước và quốc tế nhằm tác động đến hành trình của toàn dân tộc trên con đường đi
tới mục tiêu xây dựng một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh.

cách mạng, là sự tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối, quan điểm của Đảng
trong điều kiện lịch sử mới.
Qua 30 năm tiến hành kháng chiến chống ngoại xâm (1945 - 1975), truyền
thống quý báu ấy đã được nâng lên tầm cao mới, trở thành động lực và sức mạnh
chủ yếu của dân tộc ta, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa đến
những thắng lợi vĩ đại của cách mạng nước ta từ năm 1930 đến nay.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, đứng trước tình hình khủng hoảng kinh
tế - xã hội trầm trọng, đổi mới trở thành yêu cầu có ý nghĩa sống còn đối với vận
mệnh dân tộc. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã hoạch định đường lối đổi mới
đất nước, chỉ rõ bốn bài học kinh nghiệm lớn, trong đó bài học đầu tiên là: “Trong
toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc’’, xây
dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Thực hiện Nghị quyết
Đại hội VI, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tám đã ra Nghị quyết 8b
(ngày 27-3-1990) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng và nhân dân, trong đó nhấn mạnh quan điểm: cách mạng là sự
nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đến Đại hội VII của Đảng (năm 1991), lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định lấy
khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng cho khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Điều đó thể hiện: Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về vị trí, vai
trò của các giai tầng trong xã hội, nhất là của tầng lớp trí thức đối với sự nghiệp
cách mạng nước ta trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát
triển mạnh mẽ và kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát
triển lực lượng sản xuất. Cương lĩnh (năm 1991) nêu năm bài học lớn được rút ra
từ thực tiễn cách mạng, trong đó có bài học: “sự nghiệp cách mạng là của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch
sử" và “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết
toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế". Đại hội VII của Đảng chỉ rõ: “Cách
mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quan hệ giữa Đảng
với nhân dân bao giờ cũng là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách

dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh
đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng
và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội” (15). Như vậy, trong thời
kỳ mới, quan điểm nhất quán của Đảng ta là: đại đoàn kết toàn dân, đồng thuận
mọi giai tầng, trên cơ sở giải quyết hài hòa các lợi ích, phát huy mọi tiềm năng và
nguồn lực của toàn xã hội, là động lực chủ yếu để phát triển đất nước trong giai
đoạn cách mạng mới.
Nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 7 khóa IX về Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, coi đại đoàn kết toàn dân
tộc là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, tư duy về đại
đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta được phát triển lên một bước mới. Cụm từ “Đại
đoàn kết toàn dân” được bổ sung, hoàn chỉnh thành “Đại đoàn kết toàn dân tộc”
với ý nghĩa mở rộng đại đoàn kết, đoàn kết không chỉ đối với nhân dân ta ở trong
nước mà còn với cả cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Từ tư duy
đổi mới về vai trò của nhân dân, về vấn đề dân tộc trong thời kỳ mới, Đại hội X
của Đảng khẳng định: “đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là
đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh,
động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(16).

Footer Page 4 of 126.


Header Page 5 of 126.

Sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đại hội XI

đoàn kết toàn dân và sự đồng thuận của toàn xã hội trong tiến trình xây đựng đất
nước hiện nay. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng cần có những quyết sách nhằm
động viên và tổ chức mọi tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống yêu nước và
lòng tự hào dân tộc, đưa đất nước vượt qua thách thức.
Với những thành quả cách mạng Việt Nam đã đạt được, dưới sự lãnh đạo
đầy bản lĩnh, trí tuệ của một chính Đảng Cộng sản được lý luận Mác - Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh soi rọi, với sự quản lý điều hành năng động, sáng tạo của Nhà
nước cách mạng Việt Nam, với tài năng, trí thông minh, đức tính cần cù, ý chí và
khát vọng vươn lên mãnh liệt của nhân dân ta, tiếp tục vận dụng bài học phát huy
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh lịch sử mới, chúng ta có đầy đủ
cơ sở để vững tin vào sự hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thực tiễn của công cuộc đổi mới hiện nay đang đặt ra những vấn đề bức
thiết mà Cương lĩnh trình Đại hội XI của Đảng phải tập trung làm rõ hơn cả về lý
luận và thực tiễn nhằm thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên sức mạnh to

Footer Page 5 of 126.


Header Page 6 of 126.

lớn hơn. Theo ý kiến của tôi, cần tổng kết thực tiễn sâu sắc hơn nữa về chiến lược
đại đoàn kết để củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn
dân thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển) và các văn kiện
trình Đại hội XI của Đảng. Tôi xin đề xuất một số vấn đề, nội dung dưới đây.
Một là, hoàn thiện nội dung nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và thực hiện đồng
bộ, triệt để. Dân chủ càng mở rộng và thiết thực càng tạo sự đồng thuận xã hội và
do đó sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới, nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa
phát triển và đòi hỏi phải nhận thức và thực hiện đúng đắn cả từ phía Nhà nước và

nhân còn thấp, làm sao để trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước
ngoài, công nhân không bị giới chủ bóc lột quá đáng. Đối với nông dân, cần thực
hiện đồng bộ chính sách tam nông của Đảng gắn liền với công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Đối với trí thức, sự quan tâm đến
điều kiện và đời sống vật chất là cần thiết, nhưng nhiều khi, sự động viên kịp thời,
đánh giá và phát huy được năng lực thật sự của họ lại có tác dụng gấp nhiều lần.
Các tổ chức Mặt trận, đoàn thể nhân dân cần đổi mới nhiều về nội dung, phương

Footer Page 6 of 126.


Header Page 7 of 126.

thức hoạt động. Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị có
ảnh hưởng to lớn đến củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, chú trọng giáo dục, đào tạo, hoàn thiện con người Việt Nam trong
thời đại mới, bởi con người là thành tố, là cái gốc vững bền của dân tộc và đất
nước. Mỗi người, mỗi công dân cần phải nêu cao niềm tự hào, tự tôn dân tộc, bồi
đắp tinh thần yêu nước, sống và làm việc có trách nhiệm đối với đất nước, vì sự
hùng cường, vững bền của Tổ quốc. Không ngừng nâng cao học vấn, kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp, thể chất và đạo đức. Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động học
tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ, hiện thân của khối đoàn kết toàn
dân, Người luôn chăm lo chiến lược con người, nâng cao đạo đức, con người sống
với nhau phải có tình nghĩa, mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người,
không tham lam, lười biếng, ỷ lại.

Câu 3: Phân tích quan điểm phát triển nhanh và bền vững nêu trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020?
Trả lời:
Quan niệm phát triển bền vững xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 80 thế

Như vậy, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và
Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ
trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất
nước trong nhiều thập kỷ qua. Nhà nước ta cũng đã có những cam kết mạnh mẽ về
phát triển bền vững.
Từ thực tiễn nêu trên, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nêu
bài học “Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát
triển… giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng” và
xác định “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững
là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”, với các nội dung chủ yếu là “Phải phát
triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh
kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng
đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Tăng
trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;
nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường. Nước ta có điều
kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp
thiết; phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo
nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn
gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế xã hội. Phải đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường
quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.”
Để hiện thực hoá quan điểm phát triển nhanh và bền vững, phải thực hiện
đồng bộ các định hướng phát triển đã nêu trong dự thảo Chiến lược, trong đó cần
tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, bằng các giải pháp và sức mạnh tổng hợp, kiên quyết giữ vững độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường hoà bình và
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước. Đây là điều kiện tiên quyết nhất
cho sự phát triển nhanh và bền vững và cũng là một lợi thế của đất nước ta.

triển con người, đầu tư phát triển những khu vực khó khăn, thu hẹp khoảng cách
phát triển giữa các vùng trong nước, mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Với ưu thế về nguồn lực con người, chính
trị xã hội ổn định, vị trí địa - kinh tế thuận lợi, lại là nước đi sau, chúng ta có điều
kiện để phát triển nhanh. Mặt khác, có nâng cao chất lượng tăng trưởng mới tăng
được hiệu suất sử dụng vốn và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mới mở rộng được
thị trường tiêu thụ trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trên cơ sở đó,
tạo ra giá trị gia tăng lớn cho đất nước, tăng khả năng tích luỹ từ nội bộ nền kinh
tế, bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng cao và ổn định trong dài hạn.
Yêu cầu cấp bách trong thời kỳ chiến lược tới là thực hiện tái cấu trúc nền
kinh tế trên cả ba nội dung chính: tái cấu trúc các ngành sản xuất, dịch vụ gắn với
các vùng kinh tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ. Phải chuyển đổi mô hình tăng
trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào sự gia tăng vốn đầu tư và nguồn nhân
lực chất lượng thấp hiện nay sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng
với tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về khoa học, công
nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại. Trong mười năm
tới, nhất là trong những năm đầu của thời kỳ chiến lược, chúng ta chưa thể từ bỏ
hoàn toàn mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Vì, để tăng trưởng theo chiều sâu
phải sử dụng công nghệ hiện đại và phải có nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là
quá trình tích luỹ vốn và phát triển nguồn nhân lực trong từng doanh nghiệp và cả
nền kinh tế. Hơn nữa, phát triển bền vững phải gắn với yêu cầu giải quyết việc làm
và toàn dụng lao động trong khi nguồn lao động thiếu việc làm còn nhiều, nhất là
ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, phải hành động khẩn trương, kiên quyết tạo lập
đồng bộ các tiền đề để chuyển mạnh sang tăng trưởng theo chiều sâu ngay trong
những năm đầu của thời kỳ chiến lược, trước hết là ở những lĩnh vực khoa học,
công nghệ phát triển nhanh và nước ta có điều kiện. Đây là con đường cơ bản

Footer Page 9 of 126.



văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển.
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là nội dung rất quan trọng của phát
triển bền vững. Đây còn là tiêu chí thể hiện bản chất của chế độ ta. Sự bất bình
đẳng và phân hoá giàu nghèo ở mức cao tạo nên xung đột xã hội ở không ít các
quốc gia trên thế giới, làm suy giảm tăng trưởng. Vì vậy, Đảng ta chủ trương phải
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách
phát triển. Chúng ta sẽ tập trung hơn cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, đa dạng
hóa các nguồn lực và phương thức để thực hiện giảm nghèo bền vững. Khuyến
khích làm giàu theo pháp luật, đồng thời hạn chế phân hoá giàu nghèo, chủ yếu
thông qua chính sách điều tiết thu nhập, phát triển hệ thống phúc lợi xã hội và an
sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế
phân phối trong các doanh nghiệp, chính sách tiền lương, bảo đảm công bằng lợi
ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Footer Page 10 of 126.


Header Page 11 of 126.

Tập trung sức phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy
nghề để có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ cấu hợp lý nhằm đẩy nhanh quá
trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Phát triển mạnh
sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Tập trung chỉ đạo kiên quyết, đồng bộ và huy động sức mạnh của cả hệ
thống chính trị để bảo đảm đạt được những chuyển biến rõ rệt, vững chắc trong
công tác phòng chống tham nhũng, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông.
Năm là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi,
nhất là dân chủ trực tiếp, xây dựng xã hội đồng thuận, cởi mở.
Thực hiện dân chủ là một thành tố của phát triển bền vững, được Đảng ta
nêu rõ tại Đại hội Đảng lần thứ X, nhằm hoàn thiện, làm phong phú thêm nội

Footer Page 11 of 126.


Header Page 12 of 126.

triển kinh tế xanh là nội dung có tác động mạnh nhất đến phát triển bền vững, phải
được thể hiện trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng
như trong từng lĩnh vực, ở từng địa phương, đơn vị.
Thực hiện có hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững đòi hỏi
phải tạo được sự chuyển biến có tính cách mạng, thấu suốt về nhận thức, đổi mới
mạnh mẽ về tư duy, quán triệt trong mọi chính sách, quy hoạch, kế hoạch, dự án
và chương trình hành động; tổ chức thực hiện quyết liệt ở tất cả các ngành, các cấp
với sự đồng thuận tham gia của cả hệ thống chính trị, của cộng đồng doanh nghiệp
và mọi người dân trong cả nước.
Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng,
phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với sự điều hành có hiệu
quả của Nhà nước, sự phấn đấu nỗ lực của toàn dân, toàn quân, nhất định đất nước
ta sẽ bước vào một thời kỳ mới phát triển nhanh và bền vững./.

Câu 4: Phân tích vị trí, vai trò của người đảng viên ĐCSVN.....
1. Người đảng viên có vị trí, vai trò sau đây:
a) Đảng viên là chiến sĩ cách mạng trong đội quân tiên phong của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
→ Đảng CSVN là đội tiên phong của giai cấp công nhân nên từng đảng
viên phải là chiến sỹ tiên phong vì lợi ích giai cấp. Sức mạnh, năng lực lãnh đạo
của Đảng được tạo thành từ từng đảng viên.
→ Đảng CSVN đồng thời là đội quân tiên phong của nhân dân lao động và
của dân tộc, vì vậy đảng viên là người tiên tiến trong nhân dân và của dân tộc. Mỗi
ĐV luôn phấn đấu vì lợi ích giai cấp và dân tộc.
→ Đảng CSVN là đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao

d) Đảng viên là người kiên định bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương của
Đảng.
→ Trước hết là phải cương quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch
“Diễn biến hoà bình”.
→ Để chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch cần phải:
+ Giữ vững và tăng cường vị trí lãnh đạo của Đảng đây là yếu tố quyết định thắng
lợi.
+ Đòi hỏi khách quan thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước theo
định hướng XHCN.
+ Đảng viên phải có trách nhiệm bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương của
Đảng.
+ Đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, hữu khuynh, giáo điều, bảo thủ.
+ Làm cho Đảng ta luôn vững vàng kiên định có sức chiến đấu cao ngang tầm với
yêu cầu của thời đại mới.
2. Nhiệm vụ của người Đảng viên.
Tại Điều 2, Điều lệ ĐCSVN được thông qua ngày 19/01/2011 tại Đại hội XI xác
định nhiệm vụ của người đảng viên gồm 4 nhiệm vụ:
(1) Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành
nghiêm chỉnh cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối
sự phân công và điều động của đảng.
Footer Page 13 of 126.


Header Page 14 of 126.

(2) Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực của
công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu
tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, và
các biểu hiện tiêu cực khác. Chấp hành quy định của Ban Chấp hành Trung ương

quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục
tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng”.
Những tiêu chuẩn đảng viên trên được thể hiện qua các điểm sau:
Footer Page 14 of 126.


Header Page 15 of 126.

1. về lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị
2. Về nhận thức, kiến thức, năng lực thực hiện nhiệm vụ.
3. Về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách
4. Có ý thức tổ chức kỹ luật, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của Đảng trên cơ
sở thực hiện đúng các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên
tự phê bình và phê bình.
5. Có quan hệ mật thiết với quần chúng
6. Kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Một là, về lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị
Đảng viên phải tuyệt đối trung thành với lý tưởng, kiên định lập trường cách
mạng, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng; vững vàng, không dao động trước
khó khăn, thử thách.
Mục tiêu phấn đấu, nhiệm vụ của người đảng viên hiện nay là phấn đấu thực
hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, sớm đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.
=> Đây là thước đo phẩm chất, năng lực, vai trò tiên phong gương mẫu của người
đảng viên.
Hai là, về nhận thức, kiến thức, năng lực thực hiện nhiệm vụ.
Bên cạnh lòng nhiệt tình và dũng cảm đảng viên cần phải không ngừng học
tập, nâng cao trình độ, năng lực. Đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay, đòi hỏi
đảng viên phải có kiến thức văn hóa, chuyên môn, có trình độ lý luận, năng lực làm

đặc quyền, đặc lợi, trù dập ức hiếp dân và mọi hành vi vi phạm quyền làm chủ của
nhân
dân.
Muốn gắn bó được với quần chúng nhân dân thì ngoài tiêu chuẩn của nhân cách đảng
viên thì phải thể hiện được năng lực hoạt động chính trị, thực tiễn, phương pháp và
phong cách làm việc của đảng viên.
=> Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, quyết định sự tín nhiệm của nhân dân đối
với đảng viên.
Sáu là, kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân.
Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa quốc tế.
Ngày nay bước vào giai đoạn mới, vấn đề đoàn kết quốc tế của nước ta mang
nội dung mới. Đó là, kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
trong sáng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nguồn lực bên trong và
bên ngoài.
Trên đây là 06 nội dung phấn đấu của bản thân. Còn về phần liên hệ bản thân đồng
chí tự liên hệ.

câu 2:
một số nội dung quan điểm phát huy sức mạnh toàn dân tộc và nội dung, giải
pháp!
1. Một số nội dung, quan điểm:
Một là, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hai là, đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt
nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình
thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có
ý nghĩa quan trọng hàng đầu..
Ba là, vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc bắt đầu từ sự đặt đúng vị trí của yếu

pháp luật; tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật một cách có hiệu quả,
thông qua bộ máy công quyền trong sạch, công tâm, hết lòng phục vụ nhân
dân.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đóng vai trò đại
diện cho lợi ích chung và lợi ích từng giai cấp, từng giới quần chúng, đồng
thời là cầu nối giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.
- Đại đoàn kết phải được thực hiện từ cơ sở, trong từng cộng đồng dân
cư ở cơ sở như thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị...
- Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn trước mắt cần:
+ Thực hiện đồng bộ các chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm
phát huy dân chủ.
+ Tổ chức và động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu
nước, làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế với văn hóa-xã hội.
+ Chăm lo và bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân, bảo đảm công
bằng xã hội.
+ Tôn trọng và phát huy vai trò gương mẫu, dẫn dắt của những người
tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng.

Footer Page 17 of 126.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status