BÀI THU HOẠCH
LỚP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO HỌC VIÊN ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG
Câu hỏi I:
Lựa chọn 1: Chứng minh rằng sự ra đời của ĐCSVN ngày 3/2/1930 là một tất yếu
khách quan?
Đồng chí nãy nêu nhận thức của bản thân về vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với dân
tộc và cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Trả lời:
I. Sự ra đời của Đảng là một tất yếu khách quan.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn
luyện. Tám thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành Cách
mạng Tháng Tám 1945 thành công, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập
nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam); đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi
rất vẻ vang, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc
lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội; mở ra thời đại mới: thời đại Hồ Chí Minh.
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là cả
một pho lịch sử bằng vàng. Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiện
lịch sử oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc mà điều có ý nghĩa lớn lao là những
kinh nghiệm, những bài học lịch sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam được
tổng kết từ hiện thực lịch sử với những sự kiện oanh liệt hào hùng đó.
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó là kết quả của sự chuẩn bị
đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Nhìn vào hoàn cảnh
trong nước và thế giới lúc bấy giờ, nhìn vào quá trình phát triển của lực lượng cách
mạng, ta có thể thấy được sự ra đời của Đảng là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu
phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin
đã lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần tử ưu tú, tích cực ở các nước
thuộc địa vào phong trào cộng sản.
Kể từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu
nước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng vô
sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mang Việt Nam,
sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
c. Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản
Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước Xôviết
dựa trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bonsêvich Nga ra
đời. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã
trở thành hiện thực, đồng thời mở đầu một thời đại mới “ thời đại cách mạng chống đế
quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực
2
thúc đẩy sự ra đời nhiều đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hungari
(năm 1918), Đảng Cộng sản Pháp (năm 1919)…
Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười nêu tấm gương sáng trong
việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười,
Nguyễn ái Quốc khẳng định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân
dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỉ nay. Và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng
muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền, phải
bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc
Tư và Lênin”.
Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản
có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân; dung
túng, duy trì các hủ tục lạc hậu... Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chế độ cai trị
thực dân ở Đông Dương: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục
nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm... bằng thuốc phiện, bằng
rượu... chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự
do học tập”.
- Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực
dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.
Giai cấp địa chủ: Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột,
áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa,
một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu
tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.
Giai cấp nông dân: giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt
Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần
cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và
phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành
lại ruộng đất và quyền sống tự do.
Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của
thực dân Pháp. Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân,
nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam.
Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân.
Giai cấp công nhân Việt Nam bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột. Đặc điểm nổi
bật của giai cấp công nhân Việt Nam là ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam,
và vừa lớn lên nó đã sớm tiếp thụ ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc Trung
Nam…
Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp…
Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ.Ngay từ khi ra đời, giai cấp tư sản
biểu diễn ra trong thời kỳ này là:
Phong trào Cần Vương (1885 – 1896): Ngày13/7/1885, Vua Hàm Nghi xuống
chiếu Cần Vương. Phong trào Cần Vương phát triển mạnh ra nhiều địa phương ở Bắc
Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Ngày 01/11/1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt nhưng phong
trào Cần Vương vẫn tiếp tục đến năm 1896.
Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từ năm 1884, nghĩa quân Yên Thế
đã đánh thắng Pháp nhiều trận và gây cho chúng nhiều khó khăn, thiệt hại. Cuộc chiến
đấu của nghĩa quân Yên Thế kéo dài đến năm 1913 thì bị dập tắt.
Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918): các cuộc khởi nghĩa vũ
trang chống Pháp của nhân dân Việt Nam vẫn tiếp diễn, nhưng đều không thành công.
Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng
phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước, giải quyết thành
công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam.
Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa nêu trên, đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước dưới
sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản
diễn ra sôi nổi. Về mặt phương pháp, tầng lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải phóng
dân tộc đầu thế kỉ XX có sự phân hóa thành hai xu hướng. Một bộ phận chủ trương
đánh đổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia bằng
biện pháp bạo động; một bộ phận khác lại coi cải cách là giải pháp để tiến tới khôi
phục độc lập.
5
Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu ( 1867-1941) - quê Nghệ An
với chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nền
độc lập cho dân tộc. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu trải qua nhiều bước
thăng trầm, đi từ lập trường quân chủ lập hiến đến lập trường dân chủ tư sản, nhưng
đều bị thất bại. Vào nửa đầu của thế kỉ XX, Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng của Cách
mạng Tháng Mười Nga. Nguyễn Ái Quốc đánh giá “Phan Bội Châu là tiêu biểu cho
chủ nghĩa quốc gia”.Việc cụ dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác nào đuổi hổ cửa
khủng bố dữ dội, tổ chức đảng bị vỡ ở nhiều nơi. Trước tình thế nguy cấp, lãnh đạo
Việt Nam quốc dân Đảng đã quyết định dốc hết lực lượng vào trận đấu tranh sống mái
6
với kẻ thù. Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng bắt đầu từ đêm ngày 9- 2 –
1930 ở Yên Bái, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình… trong tình thế hoàn toàn bị động
nên đã bị thực dân Pháp nhanh chóng dập tắt.
Trước yêu cầu lịch sử của xã hội Việt Nam, các phong trào đấu tranh chống Pháp
diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành
độc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấp khác nhau nhằm khôi phục chế
độ phong kiến, hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao hơn là thiết lập chế
độ cộng hòa tư sản. Các phong trào đấu tranh diễn ra với các phương thức và biện
pháp khác nhau: bạo động hoặc cải cách; với quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài
khác nhau; dựa vào Pháp để thực hiện cái cách, hoặc dựa vào ngoại viện để đánh
Pháp… nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại.
Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai
trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong
trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ
chức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng xã hội cơ bản (công nhân
và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công. Sự thất bại của các phòng trào yêu
nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phản ánh địa vị
kinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp này trong tiến trình cách mạng dân tộc, phản
ánh sự bất lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra.
Mặc dù bị thất bại, nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là sự tiếp nối truyền thống yêu
nước, kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và chính sự phát
triển của phong trào yêu nước đã tạo cơ sở xã hội thuận lợi cho việc tiếp nhận chủ
nghĩa Mác - Lênin, quan điểm cách mạng Hồ Chí Minh. Phong trào yêu nước trở
thành một trong ba nhân tố dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Việt Nam: về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế
giới… Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác –Lênin.
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (12/1920) Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc
gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này
đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người - từ người yêu
nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn “Muốn cứu
nước phải giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô
sản”.
Từ đây cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế,
Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, vạch phương hướng chiến
lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Quá trình Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng được đánh dấu
bằng việc Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - LêNin vào Việt Nam thông qua
những bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và đặc
biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925). Tác phẩm này đã vạch rõ
những âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc che dấu tội ác dưới cái vỏ bọc
“khai hóa văn minh”, từ đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần
dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Mùa hè 1923 từ Pháp sang Liên Xô,
Người tham gia nhiều Đại hội quốc tế và học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê nin.
Với tư cách là đại diện của quốc tế cộng sản, tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến
Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 6-1925, người thành lập Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên. Chương trình và Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích là: làm cách mạng dân
tộc và cách mạng thế giới. Sau khi cách mạng thành công. Hội chủ trương thành lập
Chính phủ nhân dân; mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân; tiến lên xây dựng xã hội cộng
sản chủ nghĩa; thực hiện đoàn kết với giai cấp vô sản các nước, với phong trào cách
mạng thế giới.
8
Nhìn chung, phong trào công nhân những năm 1919- 1925 đã có bước phát triển
mới so với trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hình thức bãi công đã trở nên phổ
biến, diễn ra trên quy mô lớn hơn và thời gian dài hơn.
Trong những năm 1926 - 1929, phong trào công nhân đã có sự lãnh đạo của các tổ
chức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản
ra đời từ năm 1929. Từ năm 1928 đến năm 1929, có khoảng 40 cuộc đấu tranh của
công nhân diễn ra trong toàn quốc.
Các cuộc đấu tranh của công nhân Việt Nam trong những năm 1926 - 1929 mang
tính chất chính trị rõ rệt. Mỗi cuộc đấu tranh đã có sự liên kết giữa các nhà máy, các
ngành và các địa phương. Phong trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộc
theo con đường cách mạng vô sản.
9
Cũng vào thời gian này, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là
phong trào nông dân diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước, dân cày cũng đã tỉnh dậy,
chống đế quốc và địa chủ rất kịch liệt. Năm 1927, nông dân làng Ninh Thanh Lợi
( Rạch Giá) đấu tranh chống bọn thực dân và địa chủ cướp đất, đòi chia ruộng công…
Phong trào nông dân và công nhân đã hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống thực
dân, phong kiến.
Sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam:
Trước sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, cuối tháng
3- 1929, tại 5D Hàm Long- Hà Nội, một số hội viên tiên tiến của tổ chức Thanh niên
ở Bắc Kỳ đã lập ra Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 đồng chí do đồng chí
Trần Văn Cung làm Bí thư Chi bộ.
Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (5/1929) đã xảy
ra bất đồng giữa các đoàn đại biểu về vấn đề thành lập đảng Cộng sản, mà thực chất là
sự khác nhau giữa những đại biểu muốn thành lập ngay một đảng cộng sản và giải thể
tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, với những đại biểu cũng muốn thành lập
ta, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả những người cộng sản Việt Nam.
Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản
đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng cộng sản thống
nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt Nam. Điều này phản ánh
quá trình tự ý thức của những người cộng sản Việt Nam về nhu cầu phải thống nhất
các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất.
Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người Cộng sản Đông Dương tài
liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản Đông Dương, yêu cầu những người cộng
sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập
một đảng giai cấp vô sản. Quốc tế Cộng sản chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lập
Đảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi bộ trong các nhà máy, xí nghiệp: chỉ rõ
mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với phong trào cộng sản quốc tế.
Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông Dương, Nguyễn Ái
Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, tại Hương
Cảng, Trung Quốc. Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (18/2/1930). Nguyễn Ái
Quốc viết: “Chúng tôi họp vào ngày 6-1… Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao Động Việt Nam
(10/9/1960) quyết định lấy ngày 3-2 dương lịch hàng năm làm ngày kỉ niệm thành lập
Đảng.
Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân
tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
Việt Nam và hệ tư tưởng Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách
mạng Việt Nam ta, nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh
đạo cách mạng”, đưa cách mạng Việt Nam từng bước thắng lợi trên con đường xây
dựng xã hội chủ nghĩa.
II. Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong giai đoạn hiện nay.
Từ khi ra đời đến nay, với vai trò là một đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Trong lịch sử Đảng ta, mối
quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân luôn luôn được củng cố, tăng cường và
Nam độc lập, tự chủ trên trường quốc tế. Nhờ liên hệ mật thiết với nhân dân, Đảng,
Nhà nước ta đã huy động đựoc sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và thực hiện
thành công từng bước tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong giai đoạn mới của Cách mạng Việt Nam hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang
đứng trước những đòi hỏi mới và nhiệm vụ mới. Đó là nhiệm vụ tiếp tục sự nghiệp
đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; là yêu cầu giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo
của Đảng trong điều kiện đổi mới hệ thống chính trị, dân chủ hóa, xây dựng Nhà nước
pháp quyền Xã hội chủ nghĩa; là nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, làm
thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong điều
kiện mở cửa, hội nhập quốc tế và khu vực. Thế giới đã có nhiều thay đổi và diễn biến
phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, phát triển và hội nhập vẫn là xu thế lớn,
nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn
diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh, các nước lớn dùng mọi thủ đoạn tinh vi,
thậm chí cả hành động quân sự dưới mọi chiêu bài để can thiệp, lấn lướt các quốc gia
nhỏ, yếu thế và tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu như
biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, thiên tai, dịch bệnh,... sẽ tiếp tục diễn biến phức
tạp, không chỉ còn là vấn đề của mỗi quốc gia mà muốn giải quyết được phải có sự
chung tay, góp sức của tất cả các nước trên thế giới. Song, chế độ chính trị, lợi ích của
12
mỗi nước lại khác nhau, số nước do Đảng Cộng sản là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh
đạo không còn nhiều, trong khi sự chia sẻ trên tinh thần đoàn kết, hy sinh giúp đỡ của
các nước có chế độ do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo đối với nước ta cũng đã
thay đổi nhiều. Tuy xu hướng hòa bình, hữu nghị vẫn là chính, nhưng việc tính toán
để bảo vệ quyền lợi của mỗi quốc gia cũng thay đổi. Quốc gia nào cũng có toan tính
riêng trong bối cảnh phức tạp hơn. Toàn cầu hóa, hội nhập và cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, làm cho thời gian như
ngắn lại, không gian như nhỏ đi, thúc đẩy hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri
thức. Quá trình cấu trúc lại nền kinh tế thế giới và nền kinh tế của mỗi quốc gia diễn
công CNXH.
13
Câu hỏi II:
Phân tích luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ
hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng
luyện càng trong”.
Trong quá trình phấn đấu vào ĐCSVN, lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý
nghĩa như thế nào đối với đồng chí?
Trả lời:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo
đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng,
lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại, có tới gần
50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những
vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách
mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có
đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ
vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông
thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh,
nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất
bại, đều do cán bộ tốt hay kém”, Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không
có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có
đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết
điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con
người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con
người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người
cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc
và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con
người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời".
Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau,
nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người
Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.
Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế
hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười
biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là
nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân,
của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng
lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương
hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm
phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không
tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không
ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá".
Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự cao,
tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa
đổi điều dở của bản thân mình.
Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn
giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc.
15
nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, đưa lại cuộc sống ấm no, tự do cho tất cả mọi
người. Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần phải ý thức được sự nghiệp cao cả đó; đưa nhân
dân từ thân phận nô lệ trở thành người chủ nước nhà, sự nghiệp cách mạng đó là của
toàn dân. Người cán bộ, đảng viên phải thấu hiểu và thấm nhuần một cách triệt để:
Trung thành với cách mạng chính là trung thành với sự nghiệp của nhân dân. Hồ Chí
Minh nhắc nhở, dù ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của nhân dân
lên trên hết, trước hết. Cán bộ phải ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng,
hết sức trung thành phục vụ nhân dân. Có trung thành và quyết tâm phấn đấu vì sự
nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc thì mới dám dũng cảm hy sinh quên mình
vì nghĩa lớn. Lòng trung thành cao đẹp ấy phải được thể hiện bằng hành động thiết
thực, cụ thể hàng ngày, trong từng công việc phải biến khát vọng làm sao cho “nước ta
16
được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành” của Hồ Chí Minh thành hiện thực. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dạy mỗi cán bộ rằng: “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục
vụ cho lợi ích của nhân dân”. Người khuyên bảo cán bộ: “Việc gì có lợi cho dân thì
làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân,
tôn trọng nhân dân và tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, tổ chức tuyên truyền,
thuyết phục nhân dân, đồng thời phải lắng nghe, học tập nhân dân. Thấm nhuần lời
dạy của Người, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Cán
bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân
dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Trong chế độ chúng ta,
địa vị của người dân là cao nhất, dân là chủ: “Tất cả quyền bính trong nước là của
toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,
tôn giáo”. Một yêu cầu có tính nguyên tắc mà Hồ Chí Minh đã đặt ra là phải xây dựng
pháp luật để bảo đảm các quyền tự do dân chủ và cán bộ phải tuyệt đối trung thành
với sự nghiệp của nhân dân, cho dù ở bất kỳ tình huống nào cũng phải đặt lợi ích của
dân lên trên hết và trước hết. Người viết: “Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân
giám sát các công việc có liên quan đến ngân sách, tài sản của Nhà nước”. Rõ ràng,
chống tham nhũng là một quyết tâm chính trị lớn của Đảng. Để thực hiện quyết tâm
đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, tự giác “thực hiện chế độ công khai, minh
bạch về kinh tế, tài chính…; thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản,
thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định”. Mỗi cán bộ, công chức, đảng viên và
nhân dân phải sống và làm việc theo pháp luật; sáng tạo, kỷ cương trong lao động; tiết
kiệm trong lối sống và công việc. Muốn đạt được mục tiêu chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011 - 2020 mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra,
ngoài việc phát huy tốt các yếu tố nội lực và ngoại lực, thực hiện triệt để, đồng bộ các
giải pháp, thì một yếu tố quan trọng và cần kíp là chống tham nhũng. Đi liền với nạn
tham nhũng là nạn lãng phí, đó cũng là một thứ giặc nội xâm. Muốn xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội thì phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trong thời gian
qua, do cách tổ chức quản lý chưa tốt của cán bộ nên có không ít nơi để xảy ra tình
trạng lãng phí của công đến mức phải cảnh báo. Hồ Chí Minh quan niệm lãng phí của
công tuy không lấy của công cho riêng cá nhân như tham nhũng, song kết quả cũng
rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ, có khi tai hại hơn cả tham nhũng và trộm
cướp. Lãng phí của công điển hình là các cơ quan công quyền dùng vật liệu, điện
nước một cách phí phạm; các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không đúng
mức; các cơ quan dùng xe vào mục đích cá nhân, không tiết kiệm xăng dầu; các dự án
đầu tư dàn trải, không hiệu quả,… Những thứ bệnh đó một phần là do hậu quả của xã
hội cũ để lại, do lòng tự tư, tự lợi, ích kỷ, hại dân mà ra. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến
thâm hụt ngân sách nhà nước, làm khủng hoảng kinh tế - xã hội. Cho nên nhiệm vụ
của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước là phải triệt để loại bỏ những
căn bệnh đó và tăng cường thực hành tiết kiệm; có như thế mới thực hiện được đạo
đức mới, đạo đức cách mạng, mới làm cho dân cường, nước thịnh. Khi nói về vai trò
của việc chống lãng phí trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã từng căn dặn
chúng ta là phải thông qua pháp luật để nhổ tận gốc tất cả những hiện tượng lãng phí.
Hồ Chí Minh còn lưu ý chúng ta là ngoài vai trò của pháp luật, phải phát động tư
tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tham ô, lãng phí, để biến
“hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng” thành những ngọn đèn pha soi
hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Đại hội xác định bảy nhiệm vụ trọng tâm
cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo:
(1) Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
(2) Cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức và
hoạt động của doanh nghiệp, sinh hoạt của nhân dân.
(3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất nước.
(4) Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, nhất là hệ thống giao
thông.
(5) Đổi mới quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập của cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động; khắc phục tình trạng bất hợp lý và tác động
tiêu cực của quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập hiện nay.
(6) Tập trung giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc (suy thoái đạo đức, lối
sống, tệ nạn xã hội, trật tự, kỷ cương xã hội).
(7) Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng,
lãng phí để thực sự ngăn chặn, đẩy lùi được tệ nạn này.
Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là góp
phần thiết thực và trực tiếp thực hiện tốt cả bảy nhiệm vụ nêu trên, góp phần thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.
Yêu cầu của việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh là phải thường xuyên và tự giác trong việc rèn luyện và tu dưỡng đạo đức,
lối sống của mỗi người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, theo tấm gương đạo đức của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên tinh thần đó, mỗi cá nhân, mỗi tập thể cần phải tự cảm
19
thấy bức xúc, tự cảm nhận nhu cầu tự thân phải thực hiện cho chính mình, vì chính sự
phát triển của cá nhân và tập thể mình.
Ý nghĩa lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hiện nay đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đạ i hóa
tốt nhiệm vụ được giao, gắn bó với tập thể, nhân dân, tích cực tham gia các hoạt động
đoàn thể, công tác xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng…
Tôi đã xác định cho mình động cơ vào Đảng: Đảng là tổ chức các mạng có sứ
mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội.
Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là được đứng trong một tổ chức của những
20
người cùng chung chí hướng đấu tranh xây dựng một xã hội tốt đẹp, dân giàu, nước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn mình. Khi vào Đảng, bản thân tôi sẽ được phục vụ
cách mạng, được phục vụ nhân dân, được nhân dân tin cậy và yêu mến. Động cơ vào
Đảng của tôi là muốn góp sức mình xây dựng đất nước ta ngày càng tốt đẹp hơn nữa.
Bác Hồ khẳng định người có đạo đức cách mạng là người phải có lối sống cần
kiệm liêm chính. Đây chính là những phầm chất tốt đẹp cần thiết cho mọi người Việt
Nam trong việc tu dưỡng đạo đức cá nhân, trong mọi hoạt động kể từ cuộc sống gia
đình cho đến việc xây dựng đất nước. Đó cũng là nền tảng cho đời sống đạo đức mới
ở nước ta. Để trở thành một Đảng viên, tôi xác định bản thân phải rèn luyện bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng. Tôi quyết kiên định mục tiêu, lý tưởng đã
chọn, trong bất cứ tình huống khó khăn nào cũng không giao động, giảm sút niềm tin
và ý chí chiến đấu. Đồng thời, tôi rèn luyện cho mình tinh thần độc lập, sáng tạo. Bản
thân tôi đã nỗ lực học tập, nắm vững lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền
tảng tư tưởng của Đảng. Tôi tự rèn luyện mình qua thực tế hoạt động chính trị, xã hội.
Bên cạnh đó tôi trau dồi đạo đức cách mạng, đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân. Đạo
đức cách mạng cần phải tu dưỡng rèn luyện suốt đời, bởi vậy tôi sẽ củng cố hàng ngày
để có được phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, tự giác rèn luyện, vững vàng
trước mọi cám dỗ, dũng cảm đấu tranh quyết liệt chống mọi biểu hiện sai trái trong lối
sống, nhân cách. Tôi nhận thức được, trong bối cảnh ngày nay, đạo đức cách mạng là
ý chí, quyết tâm và góp sức đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở
thành quốc gia giàu mạnh, văn minh, nhân dân làm chủ xã hội và có cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc. Tôi quyết tâm đi theo đường lối của Đảng: kết hợp hài hoà ba loại
việc làm như: Tích cực hưởng ứng các phong trào, các hoạt động triển khai chủ
trương, nhiệm vụ do đảng bộ, chi bộ đề ra với tinh thần chủ động, sáng tạo, nỗ lực
phấn đấu cao nhất. Góp phần tích cực đưa những chủ trương, nhiệm vụ đó vào cuộc
sống. Chủ động nắm bắt tình hình thực tế, những tư tưởng của quần chúng, kịp thời
phản ánh đề xuất với tổ chức Đảng. Tích cực mạnh dạn tham gia góp ý kiến đối với
lãnh đạo của tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên. Tích cực và kiên quyết đấu tranh bảo
vệ Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở, đơn vị.
Đứng trước tình hình mới trong giai đoạn đất nước đang tiến lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội, tích cực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mỗi cá nhân không
những cần phải không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, mà còn phải không
ngừng rèn luyện đạo đức, lối sống. Phải luôn ghi nhớ và thực hiện tốt lời Bác dặn:
chống tâm lí tự tư tự lợi, chi lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lí
ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem kinh lao động, nhất là lao động
chân tay, chống lười biếng, xa xỉ, chống cách sinh hoạt ủy mị, chống kiêu ngạo, giả
dối, khoe khoang. Không ngừng phấn đấu để trở thành một công dân có ích trong thời
đại mới, đáp ứng những nhu cầu mới của thế giới, góp phần xây dựng đất nước ngày
một tiến lên.
22