bài thu hoạch lớp đảng viên mới - Pdf 26

BÀI THU HOẠCH LỚP ĐẢNG VIÊN MỚI
Họ và tên:
Năm tháng năm sinh:
Quê quán:
Hộ khẩu thường trú:
Ngày vào Đảng:
Nơi vào Đảng:
BÀI LÀM
Sau quá trình tham gia lớp bồi dưỡng Đảng viên mới, bản thân tôi rút
ra những thu hoạch như sau:
I. Về chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được thông qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã
chỉ rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”

Đại hội IX khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất
nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
1
thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dung và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh

những đặc trưng cơ bản của cách mạng xã hội, hiện thực hoá thắng lợi mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đó là cách tốt
nhất để bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phải kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, xét lại và bảo thủ, giáo
điều.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có
tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí MInh có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng, khoa học
và nhân đạo, vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp vào điều kiện nước ta, góp
phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng
tạo, kiên quyết đấu tranh chống những luận điệu và thủ đoạn đả kích, phủ nhận,
xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ phía những thế lực
thù địch và những kẻ cơ hội.
Trong tình hình hiện nay, việc nghiên cứu, học tập để nắm vững, vận
dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân.
2. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã
khẳng định: độc lâp dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy
nhất đúng đắn
Hơn bảy mươi năm qua, Đảng ta luôn luôn kiên định, nắm vững ngọn cờ
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhờ vậy Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành
được những thắng lợi vĩ đại.
3
Bài học chủ yếu, quan trọng hàng đầu của 15 năm tiến hành công cuộc đổi
mới và Đại hội IX xác định cũng chính là phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm trước đó, Đại hội VI
rút ra những bài học quý giá có tầm chỉ đạo trong việc xác định hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta:

nước ta.
Đại hội IX với việc bổ sung, phát triển quan niệm mục tiêu và phương
hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Tóm lại, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý
tưởng của Đảng ta, dân tộc ta. Con đường này phù hợp với chủ nghĩa Mác –
Lênin và đã được thực tiễn kiểm nghiệm hơn bảy mươi năm qua là hoàn toàn
đúng đắn. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc của đổi mới
mà thực chất là sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định con đường
“độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” mà dân tộc Việt Nam đã lựa
chọn.
II. Về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng
Việt Nam là một tất yếu lịch sử và là tất yếu khách quan. Đảng ta luôn là lực
lượng chính trị duy nhất lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo Nhà nước và là nhân tố
bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng nước ta trong mọi giai đoạn lịch sử. Sự
lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và mọi mặt của đời sống xã hội
được nhìn nhận như một quy luật có tính tất yếu.
Vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương
luôn giữ tính chất quyết định và bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một chủ trương lớn có tính chất quyết
định thắng lợi công cuộc đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thể hiện trên những nội
dung trọng yếu sau đây:
- Lãnh đạo các cơ quan nhà nước thể chế hoá đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng thành pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước và tổ
chức thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, đảm bảo cho đường lối, chủ

- Thực hiện tốt chủ trương tổng kết hoạt động lý luận - thực tiễn của Đảng
trong thời kỳ đổi mới; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn sự nghiệp bảo về Tổ quốc
trong tình hình mới.
- Đổi mới công tác chính trị - tư tưởng sát hợp với từng tầng lợp nhân
dân, hướng mạnh về cơ sở, đặc biệt quan tâm đến thanh niên, sinh viên, học
sinh; chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào, tinh thần tự cường
dân tộc, truyền thống dựng nước, giữ nước.
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chống sự xâm
nhập của văn hoá phẩm độc hại từ bên ngoài vào.
- Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu
chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc.
- Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, văn
hoá, văn nghệ; kịp thời ngăn chăn những quan điểm lệch lạc, thương mại hoá, xa
rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ, gây khó khăn cho sản
xuất kinh doanh và quan hệ đối ngoại
Ba là, về kinh tế - xã hội:
- Gắn tăng trưởng kinh tế với xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng
xã hội chủ nghĩa; bảo đảm vai trò chủ đạo thực sự của kinh tế nhà nước.
- Duy trì cho được sự ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh về tài chính
- tiền tệ, năng lượng, lương thực, thông tin; không để xảy ra những rối loạn; xáo
động lớn.
- Thực hiện tốt các chủ trương, giải pháp về hội nhập kinh tế quốc tế trong
Nghị quyết số 07, ngày 27-11-2001 của Bộ Chính trị (khoá IX), phấn đấu sớm
gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bảo đảm quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế không gây xáo trộn kinh tế - xã hội.
7
- Xây dựng có chọn lọc một số công trình, một số ngành, lĩnh vực kinh tế
quan trọng, có hiệu quả bảo đảm cho nền kinh tế giữ được độc lập tự chủ trong
mọi tình huống.
- Giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, nhất là việc làm, xoá đói giảm

Đảng uỷ Công an Trung ương trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh
+ Kiện toàn Ban Nghiên cứu của Bộ Chính trị về an ninh quốc gia ngang
tầm với nhiệm vụ. Chú trọng đào tạo, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ cấp chiến
lược.
+ Tập trung xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân, Công an
nhân dân thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
- Củng cố và hoàn nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận
quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn tỉnh,
thành phố, đặc biệt là trên các địa bàn chiến lược; xây dựng các khu vực phòng
thủ vững chắc.
- Tập trung xậy dựng lực lược Quân đội và Công an có bản lĩnh chính trị
vững vàng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, với tổ
chức, biên chế, mức tăng đầu tư ngân sách hợp lý, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ
trực tiếp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Sáu là, về đối ngoại:
- Tiếp tục ưu tiên hàng đầu cho việc củng cố quan hệ với các nước láng
giềng.
- Thúc đẩy quan hệ với các nước và trung tâm lớn trên nguyên tắc bình
đẳng, cùng có lợi, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, tạo thế đan xen
lợi ích giữa các nước với nước ta; tránh bị rơi vào thế đan xen lợi ích giữa các
nước với nước ta; tránh bị rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc.
- Mở rộng quan hệ với các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển,
phong trào không liên kết, các tổ chức quốc tế và khu vực, các Đảng Cộng sản,
công nhân, cánh tả, các phong trào giải phóng và độc lập dân tộc, các phong trào
cạch mạng, tiến bộ ; tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
9
- Dành ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng
và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo lập lợi ích đan xen với các đối tác.

tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo, để đạt tới mục tiêu
bảo vệ lợi ích chính đáng của ta.
IV. Tổ chức cơ sở Đảng và công tác xây dựng Đảng ở cơ sở
1. Tổ chức cơ sở Đảng
a) Quy định về Điều lệ Đảng về thành lập các tổ chức cơ sở đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của gia cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của
dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu
mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng phải được tổ
chức theo một hệ thống chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Tổ chức
cơ sở Đảng bao gồm chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở là nền tảng của Đảng, là hạt
nhân chính trị ở cơ sở.
Điều 21, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua Đại hội X quy
định:
- Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ
chức cơ sở đảng trực thuộc.
- Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở,
có các chi bộ trực thuộc đảng ủy.
b) Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ
sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
Tổ chức cơ sở đảng vừa là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng là nơi góp phần
phát triển và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
c) Chức năng và nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
11
- Tổ chức cơ sở đảng có hai chức năng quan trọng:
Một là, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước ở cơ sở.

- Tuy nhiên, trong thời kỳ phát triển mới, thực hiện nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống tổ chức cơ sở đãng đã và đang bộc
lộ những hạn thế, yếu kém ở mức độ khác nhau. Đại hội lần thứ IX chỉ rõ “Tổ
chức cơ sở đảng ở nhiều nơi quá yếu kém, kém sức chiến đấu”. Hậu qủa của tình
hình trên là nghiêm trọng. Bởi vì “nền móng” yếu thì không thể vững , “gốc rễ”
có phần bị “tê liệt” thì cây không thể khỏe mạnh, phát triển tốt tươi. Vì vậy, Đại
hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định trong những năm tới, một trong bốn
công tác quan trọng cần tập trung làm tốt là xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở
đảng.
Việc xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng cần phải thực hiện các
yêu cầu sau đây:
+ Tất cả các đảng bộ, chi bộ cơ sở đều phải nâng cao nhận thức và thực
hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị đối với các tổ chức trong hệ
thống chính trị, các tổ chức kinh tế, sự nghiệp, các mặt công tác và các tầng lớp
nhân dân ở cơ sở. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp để đánh giá đúng
chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.
+ Đổi mới phương thức lãnh đạo, từ việc ra nghị quyết, xây dựng và thực
hiện quy chế làm việc, xây dựng đội ngũ cán bộ… đến việc lãnh đạo các cuộc
bầu cử, bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc, tiêu chuẩn.
+ Thực hiện tốt nguyên tắc dựa vào dân để xây dựng Đảng từ cơ sở. Có
cơ chế để nhân dân tham gia ý kiến vào việc xây dựng các nghị quyết, quyết
định của tổ chức đảng, chính quyền cơ sở trực tiếp liên quan đến quyền lợi và
nghĩa vụ của nhân dân; bố trí cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở, để
nhân dân tham gia giám sát tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên.
+ Nâng cao tính chiến đấu, khắc phục tình trạng thụ động, ỷ lại, buông
lỏng vai trò lãnh đạo.
13
- Để xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng cần thực hiện tốt các chủ
trương và biện pháp sau:

sở; nhất là đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.
Thực hiện những giải pháp đồng bộ, nhất là xây dựng cơ chế đế phát huy
quyền làm chủ, quyền giám sát của quần chúng đối với tổ chức đảng, đảng viên.
Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong Đảng.
- Sớm xây dựng và đưa vào thực hiện các quy định mới về vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng đảm bảo vai trò hạt nhân
lãnh đạo chính trị ở cơ sở.
- Tổ chức thực hiện các chính sách và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
cơ sở, đặc biệt là ở những khu vực có vị trí quan trọng và nhạy cảm về kinh tế,
chính trị, vùng sâu, vùng xa. Cán bộ lãnh đạo chủ trì và cấp ủy cấp trên trực tiếp
phải chịu trách nhiệm liên đới nếu để tổ chức cơ sở đảng yếu kém.
VII. Không ngừng phấn đấu và rèn luyện để xứng đáng với danh hiệu
người Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam
1. Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của người Đảng viên
a) Đảng viên là chiến sỹ cách mạng trong đội quân tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
b) Đội ngũ đảng viên là những người có trách nhiệm góp phần xây dựng
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; đồng thời có trách nhiệm tổ chức
thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
c) Đảng viên dù ở cương vị nào, cũng vừa là người lãnh đạo, vừa là người
phục vụ quần chúng.
Trong Điều lệ Đảng được các Đại hội của Đảng ban hành, qua nhiều lần
sửa đổi, bổ sung, nhưng chưa bao giờ Chương I luôn là chương Đảng viên và là
một trong những Chương quan trọng nhất. Điều lệ đã chỉ rõ những tiêu chuẩ
đảng viên, điều kiện những người vào Đảng, nhiệm vụ của đảng viên.
15
d) Đảng viên là người kiên định bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chủ
trương của Đảng.
2. Rèn luyện để xứng đáng với danh hiệu Đảng viên
Để xứng đáng với danh hiệu đảng viên cần thực hiện tốt tiêu chuẩn đảng viên

chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu,
đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
+ Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ
và cải thiện môi trường sinh thái.
+ Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo,
năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
+ Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình
độ thẩm mỹ và thể lực.
Được kết nạp vào Đảng, rồi trở thành đảng viên chính thức là khởi đầu
một quá trình phấn đấu, rèn luyện để giữ vững và nêu cao vai trò người đảng
viên. Là đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam, mỗi cán bộ đảng viên phải:
- Tích cực học tập và nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt, nhất là về
lý luận chính trị, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, về
văn hóa, khoa học – kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ.
- Luôn phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, đóng góp ý kiến có giá trị
tham gia vào sự lãnh đạo chung của tổ chức và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm
vụ được giao.
- Tự giác gương mẫu giữ gìn phẩm chất cộng sản, đạo đức của người cách
mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
- Giữ nghiêm kỷ luật đảng, thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh
hoạt đảng và chăm lo củng cố sự đoàn kết nhất trí của Đảng
- Liên hệ mật thiêt với quần chúng; tôn trọng tất cả mọi người; lắng nghe
tâm tư, nguyện vọng của quần chúng;
- Luôn trau dồi phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, phấn
đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân giao phó.
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status