Journal of Science – 2016, Vol. 10 (2), 52 – 62
Part B: Political Sciences, Economics and Law
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP NGÀNH KINH DOANH CÁ TRA TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Tăng Thị Ngân1, Tô Minh Chiến1, Nguyễn Minh Tân2, Võ Văn Nhì3
Trường CĐ Công Thương TP. HCM
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ
3
Công ty Cổ Phần Thủy Sản Mekong
1
2
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 29/03/2016
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
23/04/2016
Ngày chấp nhận đăng: 06/2016
Title:
Several factors affecting the
competition of the catfish
business industry in Can Tho
City
Từ khóa:
Doanh nghiệp, yếu tố, ngành
kinh doanh cá tra, năng lực
cạnh tranh
Keywords:
Business, factors, catfish
industry, competitivenes
các DN kinh doanh cá tra là vấn đề đang được Nhà
nước và các chủ DN rất quan tâm. Do đó, nghiên
cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp ngành kinh doanh cá tra
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình hội nhập kinh tế, các doanh
nghiệp kinh doanh cá tra ở Việt Nam nói chung và
thành phố Cần Thơ (TP Cần Thơ) nói riêng đang
đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn.
Những thách thức đặt ra là không nhỏ, cạnh tranh
trở nên quyết liệt hơn bởi các yêu cầu về chất
lượng sản phẩm ngày càng cao. Bên cạnh đó,
những vần đề còn tồn tại trong hoạt động kinh
doanh cá tra của các doanh nghiệp (DN) như vốn,
công tác nghiên cứu thị trường, quảng cáo, xây
52
Journal of Science – 2016, Vol. 10 (2), 52 – 62
Part B: Political Sciences, Economics and Law
tại thành phố Cần Thơ” là rất cần thiết nhằm giải
quyết các vấn đề nêu trên.
Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang,
2009, tr. 171). Khi đó, thành quả cạnh tranh bao
gồm các yếu tố hiệu quả hoạt động kinh doanh,
qui mô DN, thị phần và sự hài lòng của khách
thừa nhận lợi thế khác biệt quyết định rất lớn đến
chiến lược kinh doanh mà DN theo đuổi. Những
lợi thế khác biệt này của DN chính là cơ sở cho lý
thuyết nguồn lực của DN (Wernefelt, 1984; 1995
và Barney, 1991; 2001). Lý thuyết dựa trên nguồn
lực của DN (RBV - Resources-based view) do
Wernerfelt đưa ra năm 1984 và sau đó được
Barney (1991) phổ biến thông qua các nghiên
cứu. Đây được xem là một hướng tiếp cận mới
trong nghiên cứu NLCT của DN (Barney và cs.,
2001). Theo Barney (1991), một nguồn lực tạo
nên lợi thế cho DN trong cạnh tranh phải thỏa
mãn 4 điều kiện sau: (1) giá trị, (2) hiếm, (3) khó
bắt chước, (4) không thể thay thế. Bên cạnh đó,
theo Grant RM (1991), nguồn lực có thể chia làm
nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. Nguồn
lực hữu hình bao gồm nguồn lực về tài chính và
nguồn lực vật chất hữu hình. Nguồn lực vô hình
bao gồm công nghệ, danh tiếng và nhân lực của
DN. Tuy nhiên, Sanchez & Heene (1996) cho
rằng, trong môi trường cạnh tranh hiện nay, DN
cạnh tranh không chỉ bằng sự khác biệt về nguồn
lực mà tập trung vào khả năng phối hợp và sử
dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhằm đạt mục
tiêu chiến lược của mình.
Bên cạnh đó, Michael Porter (1980) cho rằng
NLCT của DN là khả năng sáng tạo ra những sản
phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá
trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng,
trung vào khả năng sử dụng và kết hợp tài sản,
nguồn, năng lực nhằm đạt được tăng trưởng và
hiệu quả tổng thể của tổ chức. Tuy nhiên, theo
Grimm và cs. (2006), mô hình kinh tế học tổ chức
và lý thuyết nguồn lực có điểm tương đồng là
không nghiên cứu quá trình động của thị trường.
Đây chính là điểm yếu của các mô hình trên và lý
thuyết năng lực động của DN được phát triển bởi
Easterby-Smith và cs. (2009) đã khắc phục được
điểm yếu này. Giống như lý thuyết nguồn lực, lý
thuyết năng lực động cũng tập trung nghiên cứu
khả năng và kết quả kinh doanh của DN, mặc dù
năng lực động nhấn mạnh vào sự thay đổi. Mặt
khác, Ambrosini & Bowman (2009) cho rằng, lý
thuyết về năng lực động đánh giá được khả năng
DN có thể tạo ra được lợi thế cạnh tranh trong
môi trường thay đổi nhanh chóng. Hơn thế nữa,
Ambrosini & Bowman (2009); Helfat và cs.
(2007) cho thấy, năng lực động cho phép DN tạo
ra và duy trì lợi nhuận trong môi trường thay đổi
nhanh chóng. Theo Teece DJ, Pisano G & Shuen
A (1997) năng lực động được định nghĩa là “khả
năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những
tiềm năng bên trong và bên ngoài DN để đáp ứng
với thay đổi của môi trường kinh doanh”. Như
vậy, theo các quan điểm về NLCT nêu trên, có thể
rút ra nhận định rằng NLCT của DN chịu ảnh
hưởng bởi các yếu tố nội tại và các yếu tố bên
ngoài của DN.
Bảng 1. Hình thành thang đo năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh cá tra
Yếu tố
Ký hiệu
Nguồn
Các yếu tố môi trường bên trong doanh nghiệp
Năng lực quản lý
NLQL
Tambunan (2009); Nguyễn Viết Lâm (2014)
Năng lực nhân sự
NLNS
Anton và cs. (2015); Tambunan (2009); Nguyễn
Viết Lâm (2014)
Năng lực tài chính
NLTC
Grant RM (1991); Tambunan (2009); Nguyễn
Viết Lâm (2014); Anton và cs. (2015)
Năng lực công nghệ
Hiệu quả hoạt động kinh doanh
NLCT1
Porter (2008); Ramasamy (1995); Nguyễn Văn
Thanh (2003); Hult và cs. (2004)
Qui mô doanh nghiệp
NLCT2
Kaplan & Norton (1992); Neely và cs. (1995)
Thị phần
NLCT3
Ramasamy (1995); Kaplan & Norton (1992);
Neely và cs. (1995)
Sự hài lòng của khách hàng
NLCT4
Porter (1980); Kaplan & Norton (1992); Neely và
cs. (1995)
Năng lực cạnh tranh
nhìn và phân tích tốt; Người quản lý của DN có
trình độ tổ chức và quản lý DN; Người quản lý
của DN đã có kinh nghiệm quản lý lâu năm.
Thang đo Năng lực nhân sự: có 3 biến quan sát
bao gồm Nguồn lao động của DN luôn ổn định;
Lao động của DN có tay nghề cao; Khả năng tiếp
thu và vận dụng công nghệ của DN tốt.
Thang đo Cơ sở hạ tầng địa phương: có 3 biến
quan sát bao gồm Hệ thống cung cấp điện, nước
đáp ứng được yêu cầu; Thông tin liên lạc thuận
tiện (internet, điện thoại, vv); Hệ thống giao thông
thuận lợi (cầu, đường, cảng, vv).
Thang đo Năng lực tài chính: có 3 biến quan sát
bao gồm Nguồn tài chính của DN dồi dào; Khả
năng huy động vốn của DN tốt; DN sử dụng vốn
hiệu quả và quản lý tài chính tốt.
Thang đo Tác động của hội nhập: có 3 biến
quan sát bao gồm Hội nhập quốc tế giúp DN tiếp
cận được công nghệ tiên tiến; Hội nhập quốc tế là
cơ hội tốt để DN mở rộng thị trường; DN có khả
năng cạnh tranh được với các DN nước ngoài.
Thang đo Năng lực trang thiết bị, công nghệ:
có 4 biến quan sát bao gồm Máy móc thiết bị phục
vụ sản xuất kinh doanh của DN hiện đại; Các dây
chuyền sản xuất của DN đa phần là tự động hoá;
DN ứng dụng tốt công nghệ thông tin vào công
Hình 1. Mô hình nghiên cứu
mối tương quan giữa các biến độc lập (thuộc yếu
tố môi trường bên trong và bên ngoài DN) với
biến phụ thuộc là NLCT của DN ngành kinh
doanh cá tra trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Trong đó, các biến quan sát được đo lường thông
qua thang đo Likert 5 mức độ. Phương trình hồi
qui đa biến có dạng như sau:
Giả thuyết nghiên cứu:
-
H1: Năng lực quản lý có mối quan hệ tương
quan thuận với NLCT của các DN ngành kinh
doanh cá tra TP Cần Thơ.
-
H2: Năng lực nhân sự có mối quan hệ tương
quan thuận với NLCT của các DN ngành kinh
doanh cá tra TP Cần Thơ.
-
H3: Năng lực tài chính có mối quan hệ tương
quan thuận với NLCT của các DN ngành kinh
doanh cá tra TP Cần Thơ.
-
tương quan thuận/nghịch với NLCT của các
DN ngành kinh doanh cá tra TP Cần Thơ.
β0: là hệ số góc hồi qui tổng thể Y khi các biến
độc lập bằng 0, nó đánh giá ảnh hưởng của các
nhân tố khác ngoài nhân tố được xác định trong
mô hình đến biến.
βk : là hệ số hồi qui tổng thể Y với các biến độc
lập X tương ứng (k=1,7).
εi : Sai số.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO
LUẬN
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp kiểm
định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám
phá (EFA) để kiểm định độ tin cậy của các thang
đo và phương pháp hồi qui đa biến để kiểm định
4.1 Mô tả đối tượng khảo sát
Đặc điểm của đối tượng khảo sát được mô tả ở
Bảng 2 sau đây.
56
Journal of Science – 2016, Vol. 10 (2), 52 – 62
Part B: Political Sciences, Economics and Law
13,8
8
3,6
36
16,1
159
71,0
29
12,9
Giới tính
Nam
Nữ
Độ tuổi
Dưới 30
Trên 50
Trình độ
Trên đại học
Đại học
Cao đẳng/Trung cấp
Số quan sát (N)
4.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhằm đo
lường độ tin cậy của 7 thang đo với 31 biến quan
sát, hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,758 đến 0,893,
các giá trị này đều >0,6 chứng tỏ các thang đo này
có độ tin cậy cao (Peterson, 1994). Tuy nhiên,
trong 31 biến quan sát của các thang đo thì có 4
biến quan sát là NLQL4, CSHT24, CSHT25,
TDHN31 (thuộc các thang đo Năng lực quản lý,
Chính sách hỗ trợ và Tác động của hội nhập) có
hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại biến tương ứng
là 0,884; 0,884; 0,897 và 0,893 lớn hơn hệ số
Cronbach’s Alpha của từng thang đo, do đó 4 biến
quan sát này không tin cậy và được loại bỏ. Như
vậy, với 7 thang đo bao gồm 27 biến quan sát còn
lại sẽ được thực hiện cho bước phân tích nhân tố
khám phá tiếp theo.
57
Journal of Science – 2016, Vol. 10 (2), 52 – 62
Part B: Political Sciences, Economics and Law
thấy hệ số Eigenvalue là 1,029 > 1 và hệ số KMO
= 0,742 >0,5 và Sig.=0,000 chứng tỏ mô hình
phân tích nhân tố là thích hợp (Hair và cs.,
1998, trích bởi Hoàng Trọng và Chu Nguyễn
Mộng Ngọc, 2008), do đó kết quả này đạt yêu
cầu cho phân tích nhân tố. Bên cạnh đó, k ết quả
Thuế suất đối với hoạt động kinh
doanh phù hợp
0,819
CSHT16
Các chính sách triển khai nhanh đến
DN
0,819
CSHT17
Địa phương có chính sách khuyến
khích và ưu đãi đầu tư
0,752
CSHT21
Chính sách lãi suất hợp lý
0,738
CSHT18
Thủ tục hành chính đơn giản, giải
quyết nhanh chóng
Người quản lý của DN có tầm nhìn và
phân tích tốt
0,855
NLQL1
Người quản lý của DN có trình độ
chuyên môn cao
0,812
NLQL3
Người quản lý của DN có trình độ tổ
chức và quản lý DN
0,766
NLTC9
Khả năng huy động vốn của DN tốt
0,884
NLTC8
Nguồn tài chính của DN dồi dào
0,846
4
5
6
NLTBCN13
DN ứng dụng tốt công nghệ thông tin
vào công tác quản lý
0,832
NLTBCN12
Các dây chuyền sản xuất của DN đa
phần là tự động hoá
0,747
NLTBCN14
DN ứng dụng tốt công nghệ vào sản
xuất kinh doanh
0,735
NLTBCN11
Máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh
Lao động của DN có tay nghề cao
0,820
(Nguồn: Số liệu khảo sát, 2014)
Kết quả của phép xoay nhân tố cuối cùng (Bảng
3) cho thấy, các biến quan sát thuộc các thang đo:
Nhân tố 1 là “Chính sách hỗ trợ”, Nhân tố 2 là
“Năng lực quản lý”, Nhân tố 3 là “Năng lực tài
chính”, Nhân tố 4 là “Năng lực trang thiết bị
công nghệ”, Nhân tố 5 là “Cơ sở hạ tầng địa
phương” và Nhân tố 6 là “Năng lực nhân sự”.
tra tại TP Cần Thơ, phương pháp hồi qui đa biến
được sử dụng với 6 nhân tố được khám phá ở
trên. Như vậy, mô hình hồi qui bao gồm các nhân
tố độc lập: Chính sách hỗ trợ, Năng lực quản lý,
Năng lực tài chính, Năng lực trang thiết bị công
nghệ, Cơ sở hạ tầng địa phương và Năng lực
nhân sự và biến phụ thuộc là NLCT của các DN
ngành kinh doanh cá tra tại TP Cần Thơ. Giá trị
của các biến độc lập và biến phụ thuộc được đo
lường bằng giá trị trung bình các quan sát thuộc
các nhân tố đó. Kết quả phân tích hồi quy đa
biến thể hiện qua Bảng 4.
4.4 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân
0,050
0,054
0,353
Năng lực tài chính
0,259
0,043
0,000
Năng lực trang thiết bị công nghệ
0,071
0,053
0,177
59
Journal of Science – 2016, Vol. 10 (2), 52 – 62
Tiêu chí
0,000
Số quan sát
224
(Nguồn: Số liệu khảo sát, 2014)
Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính như
sau: (1) Mức ý nghĩa quan sát Sig. rất nhỏ (Sig. =
0,000) cho thấy mức độ an toàn bác bỏ giả thuyết
Ho, có nghĩa là tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa
NLCT của DN ngành kinh doanh cá tra tại TP Cần
Thơ với ít nhất một trong các nhân tố là biến độc
lập, như vậy mô hình hồi qui tuyến tính được đưa
ra phù hợp với dữ liệu; (2) Giá trị R2=0,620 có
nghĩa là 62% sự biến động về NLCT của DN
ngành kinh doanh cá tra tại TP Cần Thơ có thể
được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình
nghiên cứu.
5. KẾT LUẬN
Kết quả phân tích hồi qui đa biến từ Bảng 4 cho
thấy, trong 6 nhân tố độc lập đưa vào mô hình phân
tích có 4 nhân tố ảnh hưởng thuận chiều đến NLCT
của DN ngành kinh doanh cá tra tại TP Cần Thơ và
có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%. Nhân tố
Chính sách hỗ trợ, Năng lực tài chính và Năng
lực nhân sự tương quan có ý nghĩa với NLCT của
ngành kinh doanh cá tra tại TP Cần Thơ.
Nghiên cứu này phân tích dựa trên bộ dữ liệu gồm
224 cán bộ lãnh đạo của các DN ngành kinh
doanh cá tra trên địa bàn TP Cần Thơ. Kết quả
phân tích về đặc điểm đáp viên tham gia khảo sát
cho thấy, có 144 đáp viên là nam và 80 đáp viên
là nữ, độ tuổi đáp viên phần lớn tập trung trong độ
tuổi từ 30 - 40 tuổi. Trình độ học vấn của đáp viên
cũng khá tốt, có khoảng 71,0% đáp viên có trình
độ đại học, số lượng đáp viên có trình độ cao học
chiếm 16,1% và đáp viên có trình độ cao
đẳng/trung cấp là 12,9%.
6. KIẾN NGHỊ
Để tận dụng tối đa lợi thế từ Chính sách hỗ trợ và
Cơ sở hạ tầng địa phương, các DN ngành kinh
doanh cá tra ở TP Cần Thơ cần phải kịp thời tìm
đến các hiệp hội để được hỗ trợ nhiều hơn trong
hoạt động kinh doanh từ các chính sách. Đồng
60
Journal of Science – 2016, Vol. 10 (2), 52 – 62
Part B: Political Sciences, Economics and Law
thời, tận dụng tốt hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng
giao thông nhằm phục vụ tốt cho việc nắm bắt
thông tin thị trường và vận chuyển hàng hóa
sách hỗ trợ kịp thời cho DN ngành kinh doanh cá
tra trên địa bàn TP Cần Thơ, thông qua các
chương trình, chính sách nhằm xúc tiến đẩy mạnh
thị trường đầu ra cho các DN, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc quảng bá sản phẩm tại các hội chợ,
triễn lãm thương mại trong và ngoài nước. Bên
cạnh đó, tăng cường xúc tiến hợp tác thương mại
với các nước có thị trường tiêu thụ cá tra mạnh, đề
xuất Chính phủ hỗ trợ nhiều hơn cho các DN
ngành kinh doanh cá tra như hỗ trợ tín dụng, cải
cách thủ tục hành chính, vv.
Grant RM. (1991). A resource based theory of
competitive advantage: implication for
strategy formulation. California Management
Review, 33(3), 114-351.
Helfat CE, Finkelstein S, Mitchell W, Peteraf
MA, Singh H, Teece DJ, et al. (2007).
Dynamic Capabilities: Understanding Strategic
Change In organizations. Singapore: Blackwell
Publishing.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc.
(2008). Phân tích dữ liệu Nghiên cứu với
SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức.
Ambrosini V, Bowman C. (2009). What are
dynamic capabilities and are they a useful
Bharati, P., & Chaudhury, A. (2009). SMEs and
competitiveness - The role of information
systems. International Journal of E-Business
Research, 5(1), 1-9.
Buckley, P.J., Pass, C.L. & Prescott, K. (1988).
Measures of International Competitiveness: A
Neely, A.D., Gregory, M. & Platts, K. (1995).
Performance measurement system design – a
61
Journal of Science – 2016, Vol. 10 (2), 52 – 62
Part B: Political Sciences, Economics and Law
literature review and research agenda.
International Journal of Operations &
Production Management, Vol. 15No.4,pp.80116.
Competition: Theory and Practice in the New
Strategic Management. Oxford, Elsevier
Pergamon, 39-62.
Sanchez, R., & Heene, A. (2004). The new
strategic
management:
Organization,
competition, and competence. New York, NY:
Wiley.
doi:10.110 8/17506200910943661
Nguyễn Văn Thanh. (2003). Một số vấn đề về
năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
quốc gia. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 317.
Teece DJ, Pisano G & Shuen A. (1997). Dynamic
capabilities and strategic management.
Strategic Management Journal, 18(7):509-33.
Nguyễn Viết Lâm. (2014). Bàn về phương pháp
xác định NLCT của doanh nghiệp Việt Nam.
Tạp chí Kinh tế&Phát triển, Số 206, tr 47-53.
Waheeduzzaman, A., & Ryans, J. (1996).
Definition, perspectives, and understanding of
international competitiveness: A quest for a
common ground. Competitiveness Review, 6(2),
7-26.
Peterson, R. A. (1994). A Meta-Analysis of
Cronbach’s Coefficient Alpha. Journal of
Consumer Research, No. 21 Vo.2.
Porter, M.E. (1980). Competitive Strategy:
Techniques for Analyzing Industries and
Competitors. New York: Free Press.
Wernerfelt B. (1984). A resource-based view of the
firm. Strategic Management Journal, 5, 171-80.
Wernerfelt B. (1995). The resource-based view of