Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRANG ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH HẢI DƢƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số: 60.31.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Tô Thị Ánh Dƣơng

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Trang Anh




AFTA

Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

ARGB Hải Dƣơng

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
chi nhánh Hải Dƣơng

CAR

Tỷ lệ an toàn vốn

CU

Liên minh Thuế quan

DN

Doanh nghiệp

EFTA

Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Âu

EU

Liên minh Châu Âu


Tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu

TCTD

Tổ chức tín dụng

TMCP

Thƣơng mại cổ phần

TPP

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng

Vietcombank (VCB)

Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam

VCB Hải Dƣơng

Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam chi
nhánh Hải Dƣơng

VTB Hải Dƣơng

Vietinbank- Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng
Việt Nam chi nhánh Hải Dƣơng

WB


2011- 2015
Hệ số an toàn vốn (CAR) giai đoạn 2011-2015 của một số
NHTM trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng
Một số chỉ tiêu đánh giá quy mô, chất lƣợng tài sản của
VCB Hải Dƣơng, 2011- 2015
ROA và ROE của VCB Việt Nam vàVCB
Hải Dƣơng, 2011- 2015

Trang
35

37

38

39

40

41

43

44

45

51




Biểu đồ 2.5

Tỷ lệ nợ xấu của VCB Hải Dƣơng, 2011-2015

47

Biểu đồ 2.6
Biểu đồ 2.7
Biểu đồ 2.8

Dƣ nợ tín dụng so với tổng tiền gửi của
VCB Hải Dƣơng, 2011-2015
Cơ cấu nguồn vốn huy động giai đoạn, 2011-2015 của
VCB Hải Dƣơng
Thị phần huy động nguồn tiền gửi của một số NHTM
trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng năm 2015

48

49

50

Biểu đồ 2.9

ROA của một số NHTM, 2011- 2015

51


cạnh tranh với các NHTM trong nƣớc mà còn với các ngân hàng nƣớc ngoài; không
chỉ cạnh tranh với hệ thống ngân hàng trên toàn quốc mà còn trên từng địa bàn và ở
các chi nhánh cụ thể. Các chi nhánh ở các địa phƣơng, trong đó có chi nhánh VCB
Hải Dƣơng vừa thực hiện chiến lƣợc hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần
Ngoại thƣơng Việt Nam vừa phải tự nâng cao năng lực hoạt động để chiến thắng
trong cạnh tranh trên địa bàn qua đó góp phần nâng cao năng lực hoạt động của cả

1


hệ thống.
Xuất phát từ lý do trên tác giả lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực hoạt
động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thươngViệt Nam chi nhánh Hải
Dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
- Đặng Văn Dân (2012), “Hội nhập quốc tế của ngân hàng thương mại Việt
Nam đến năm 2020”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Ngân hàng thành phố
Hồ Chí Minh, tác giả đã hệ thống những lý luận cơ bản liên quan đến hội nhập quốc
tế trong ngân hàng. Đánh giá thực trạng của tiến trình hội nhập quốc tế của hệ thống
ngân hàng thƣơng mại trong thời gian qua và đề xuất những giải pháp cho quá trình
hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
- Nguyễn Quỳnh Hoa (2014), “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí
Minh, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tái cấu trúc hệ thống NHTM là
chƣơng trình mang tầm cỡ quốc gia. Phân tích và đánh giá thực trạng tái cấu trúc hệ
thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012, qua đó tổng hợp những thành
tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình tái cấu trúc hệ
thống NHTM Việt Nam;


Vol.

13,

No.

2,

pp.

379-408:

http://www.jstor.org/stable/3990103. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu
quả kinh doanh của ngân hàng, tác giả sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia trong giai
đoạn 1988-1995, nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bị tác
động bởi nhiều yếu tố nhƣ: đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ
mô, quy mô tài sản của ngân hàng, đặc biệt quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn sẽ cho
thấy sức mạnh của ngân hàng, đồng thời đa dạng hóa đƣợc hoạt động của các ngân
hàng và có điều kiện để làm tăng lợi nhuận cho các ngân hàng.
Tóm lại, vấn đề năng lực hoạt động của các Ngân hàng Thƣơng mại Việt
Nam đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập dƣới các góc
độ cụ thể khác nhau. Những công trình nghiên cứu trong nƣớc chủ yếu bàn về xu
hƣớng phát triển và vấn đề tái cấu trúc của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế. Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài chủ yếu tìm hiểu
các yếu tố ảnh hƣởng tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. Đây sẽ là
những tƣ liệu quý để tác giả học hỏi và kế thừa có chọn lọc.
Tuy nhiên, chƣa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập sâu và có hệ thống

3

Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về năng lực hoạt động của VCB Hải Dƣơng

4


trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Về không gian: Đề tài nghiên cứu VCB Hải Dƣơng
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng năng lực hoạt động của VCB Hải
Dƣơng giai đoạn 2011-2015, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của
VCB Hải Dƣơng giai đoạn 2016-2020
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Luận văn sử dụng phƣơng pháp phân tích nghiên cứu định tính, phƣơng
pháp phân tích thống kê mô tả, phƣơng pháp so sánh, tổng hợp để tiến hành đánh
giá thực trạng năng lực hoạt động của VCB Hải Dƣơng. Chẳng hạn, luận văn so
sánh hệ số an toàn vốn (CAR) của VCB Hải Dƣơng với CAR của cả hệ thống VCB
Việt Nam, cũng nhƣ CAR của Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV)
chi nhánh Hải Dƣơng, CAR của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (AGRIBANK)
chi nhánh Hải Dƣơng, qua đó đƣa ra kết luận là CAR của VCB Hải Dƣơng vƣợt xa
so với quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, điều này thể hiện
sức mạnh tài chính của VCB Hải Dƣơng.
- Phương pháp thu thập số liệu: dữ liệu thứ cấp về thực trạng năng lực hoạt
động của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng chi nhánh Hải Dƣơng đƣợc
thu thập trong giai đoạn 2011-2015. Nguồn gốc của các tài liệu này đều đƣợc chú
thích rõ ràng sau mỗi bảng số liệu.
- Phương pháp xử lý số liệu: thông tin và các dữ liệu sau khi thu thập đƣợc
sẽ đƣợc tác giả cập nhật và tính toán tùy theo mục đích và nội dung nghiên cứu,
phân tích của đề tài trên chƣơng trình Excel 2007 của Microsoft.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

mại cổ phần Ngoại thƣơng chi nhánh Hải Dƣơng trong điều kiện Hội nhập kinh tế
quốc tế.

6


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC
NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1.

Khái niệm

a. Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
 Hội nhập kinh tế quốc tế
Thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ
tiếng nƣớc ngoài (tiếng Anh là “ international economic integration ”). Trên thực tế
cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “ hội nhập
quốc tế ”. Nhìn chung, hội nhập kinh tế quốc tế đƣợc hiểu là quá trình gắn kết các
nền kinh tế của từng nƣớc với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự
do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phƣơngđến
song phƣơng, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh
tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ.
Ở Việt Nam, thuật ngữ „hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu đƣợc sử dụng từ
khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham
gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác.
Trƣớc khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” đƣợc đƣa vào sử dụng, trong tiếng
Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tế” và “nhất thể hóa kinh tế quốc
tế”. Cả ba thuật ngữ này thực ra đƣợc sử dụng để chỉ cùng một khái niệm mà tiếng
Anh gọi là “international economic integration”. Trong thực tiễn sử dụng ở Việt

khối) nhƣ: Liên minh Châu Âu (EU) hiện nay.
Một nƣớc có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính
chất, phạm vi và hình thức khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, mỗi nƣớc phải trải qua
các bƣớc hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong
những điều kiện đặc thù nhất định.
Tóm lại: Hội nhập kinh tế là quá trình thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở
cửa trên các cấp độ đơn phƣơng, song phƣơng và đa phƣơng chủ động gắn kết nền
kinh tế thị trƣờng của từng nƣớc với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Hội nhập
kinh tế quốc tế có nghĩa là tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế ở cả trong và ngoài
nƣớc vì quá trình hội nhập làm cho nền kinh tế mỗi nƣớc ngày càng liên kết chặt
chẽ với các nền kinh tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát
triển theo hƣớng tạo ra một thị trƣờng chung thống nhất trong đó những cản trở đối
với sự giao lƣu và hợp tác quốc tế dần dần giảm và mất đi, tuy nhiên sự cạnh tranh
trở nên gay gắt hơn.

8


 Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Hội nhập kinh tế quốc tế về tài chính - tiền tệ là việc thực hiện quá trình tự
do hóa tài chính (xóa bỏ các định hƣớng, các hạn chế, hay ràng buộc trong việc
phân bổ nguồn lực tài chính). Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa tỷ giá hối
đoái, tự do hóa lãi suất, xóa bỏ bao cấp vốn thông qua chỉ định tín dụng, giảm thiểu
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tự do hóa các hoạt động của các tổ chức tài chính trong nƣớc
và quốc tế trên nền tảng của tự do hóa các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn. Tự
do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh của các định chế tài
chính, cùng với việc chấm dứt phân biệt đối xử về pháp lý giữa các loại hoạt động
khác nhau [23, tr13]
Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình chủ động gắn
kết hoạt động ngân hàng của mỗi nƣớc với hoạt động của hệ thống ngân hàng trong

Tự do hóa lãi suất đƣợc hiểu là lãi suất hoàn toàn đƣợc điều chỉnh theo yêu
cầu của thị trƣờng. Sự can thiệp của Ngân hàng Trung ƣơng (NHTƢ) đối với lãi suất
thị trƣờng đƣợc điều hành thông qua các công cụ gián tiếp nhƣ lãi suất tái chiết khấu
hay tái cấp vốn để tác động lên cung cầu vốn trên thị trƣờng tiền tệ nhằm xác lập
mức lãi suất cân bằng. Nhƣ vậy tự do hoá lãi suất có thể đƣợc hiểu là việc tháo bỏ
hoàn toàn các ràng buộc về lãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền
kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó.
Để tự do hóa lãi suất, cần có những điều kiện sau: Một là, hành lang pháp
lý cho hoạt động kinh tế tài chính đã tƣơng đối đồng bộ và hoàn chỉnh. Hai là, thị
trƣờng tài chính gồm thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng chứng khoán đã ra đời và vận
hành hiệu quả. Ba là, các tổ chức kinh tế đều đảm bảo khả năng sử dụng vốn triệt
để và có hiệu quả. Bốn là, môi trƣờng kinh tế vĩ mô đã ổn định và tƣơng đối chắc
chắn. Năm là, hệ thống ngân hàng ổn định và hoạt động hữu hiệu. Sáu là, các
ngƣồn lực trong nƣớc nhƣ vốn, tài nguyên, lao động…đã đƣợc phân phối và sử
dụng tƣơng đối hợp lý.
+) Tự do hoá cơ chế tín dụng
Tự do hoá cơ chế tín dụng là tôn trọng các điều kiện khách quan trong hoạt
động tín dụng. Tự do hóa tín dụng đòi hỏi phải xóa bỏ các hạn chế, định hƣớng hay
ràng buộc về số lƣợng trong quá trình cung cấp cũng nhƣ phân phối tín dụng nhằm
nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng cho mọi thành phần kinh tế [2, tr38]
Nội dung tự do hóa hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn hạ thấp
vai trò của Chính phủ. Ở các nƣớc đang phát triển, để duy trì tỉ lệ cần thiết quan
trọng trong tín dụng cho nền kinh tế theo sự chỉ định của Chính phủ, Chính phủ có

10


thể can thiệp vào cơ cấu đầu tƣ cũng nhƣ bảo đảm sự lành mạnh của các trung gian
tài chính. Tuy nhiên tự do hóa tín dụng, thừa nhận vai trò chính, song không đồng
nhất với sự can thiệp quá sâu của Chính phủ vì hậu quả của nó có thể dẫn đến thị



động kinh tế tài chính đối ngoại phải tƣơng đối ổn định. Bốn là, dự trữ ngoại hối
phải đủ lớn, cán cân vãng lai thặng dƣ và tƣơng đối ổn định. Năm là, hệ thống ngân
hàng trong nền kinh tế hoạt động hiệu quả và ổn định.
+) Tự do hóa các luồng vốn quốc tế
Tự do hóa các luồng vốn quốc tế là làm cho các nguồn vốn nƣớc ngoài và
trong nƣớc tự do luân chuyển, tạo sự hấp thụ có hiệu quả các nguồn vốn từ bên
ngoài để phát triển kinh tế, bên cạnh đó mở rộng giao lƣu kinh tế thƣơng mại với
các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng [2, tr41].
Với vị trí quan trọng của các nguồn lực tài chính, lĩnh vực ngân hàng giữ vai
trò huyết mạch của nền kinh tế, thông qua các chính sách và công cụ để điều hành
nền kinh tế. Để hội nhập thành công, chúng ta cần tạo ra hành lang pháp lý trên cơ
sở tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan của thị trƣờng, tạo điều kiện cho các
chủ thể trên thị trƣờng có thể tự do quyết định việc hình thành và sử dụng các
nguồn lực tài chính theo tín hiệu thị trƣờng.

 Cơ hội và thách thức trong lĩnh vực ngân hàng tại các nƣớc đang
phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế
+) Những cơ hội
Một là, việc mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng ngoài việc các
NHTM trong và ngoài nƣớc hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong một sân chơi
công bằng và bình đẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM trong nƣớc thâm
nhập thị trƣờng quốc tế và mở rộng hoạt động kinh doanh. Hội nhập còn đem lại
cho hệ thống NHTM các nƣớc đang phát triển những cơ hội trao đổi, hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực hoạch định chính sách tài chính, tiền tệ, quản lý ngoại hối, thanh
tra, giám sát phòng ngừa rủi ro và thanh toán, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của
các NHTM của các nƣớc đang phát triển trong các giao dịch tài chính ngân hàng
quốc tế, vốn là hạn chế của hệ thống NHTM các nƣớc đang phát triển hiện nay.
Hai là, sự tham gia thị trƣờng của các NHTM nƣớc ngoài không chỉ làm tăng

thủ các chuẩn mực quốc tế về kế toán, công bố công khai. Mặt khác, những ngân
hàng ở các nƣớc đang phát triển muốn thâm nhập vào thị trƣờng các nƣớc cần phải
đảm bảo đáp ứng đƣợc các yêu cầu và tiêu chuẩn của những thị trƣờng này mới
nhận đƣợc giấy phép hoạt động.
+) Những thách thức
Thứ nhất, hệ thống NHTM các nƣớc đang phát triển có tiềm lực tài chính
nhỏ bé, chất lƣợng tài sản thấp, danh mục sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, chất
lƣợng sản phẩm dịch vụ chƣa cao, cơ cấu tổ chức chƣa thực sự hợp lý và chƣa

13


chuyên nghiệp, trình độ quản lý điều hành còn thấp, công nghệ ngân hàng còn có
khoảng cách đáng kể so với trình độ của các nƣớc phát triển. Hệ thống NHTM các
nƣớc đang phát triển chỉ có lợi thế về mạng lƣới chi nhánh phân phối sản phẩm dịch
vụ và khách hàng rộng rãi, am hiểu về tập quán địa phƣơng và môi trƣờng kinh
doanh. Tuy nhiên, đây không phải là những lợi thế lâu dài, mang tính quyết định và
sẽ mất dần khi lĩnh vực ngân hàng thực sự tự do hóa hoàn toàn.
Thứ hai, hoạt động của NHTM nƣớc ngoài trên thị trƣờng nội địa với những
sản phẩm mới cùng với các giao dịch trên một phạm vi rộng lớn và với tốc độ rất
nhanh sẽ gây khó khăn cho việc kiểm soát của các cơ quan quản lý, giám sát của
từng quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng hiện đại làm cho nhiều hoạt động ngân hàng thoát khỏi sự kiểm soát của
các cơ chế giám sát đã đặt ra.
Thứ ba, các NHTM nƣớc ngoài hoạt động trên thị trƣờng nội địa tạo ra áp
lực cạnhtranh gay gắt, có thể gây ra những xung đột về lợi ích giữa các nhóm khác
nhau, ảnh hƣởng đến đặc quyền kinh doanh của các ngân hàng trong nƣớc.
Thứ tư, trong môi trƣờng vốn luân chuyển tự do giữa các nƣớc, kích thích
các tổ chức trong nƣớc nhận vốn vay nƣớc ngoài một cách thiếu thận trọng. Nếu
những tổ chức kinh tế có hệ số nợ nƣớc ngoài cao bị mất khả năng trả nợ sẽ ảnh

vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Nhờ NHTM mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải
rác trong xã hội sẽ đƣợc huy động tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp
tín dụng cho các chủ thể kinh tế nhằm phát triển kinh tế xã hội.

 Khái niệm năng lực hoạt động của ngân hàng thƣơng mại
Quan niệm về năng lực hoạt động của doanh nghiệp đƣợc dựa trên nhiều góc
độ nhƣ dựa trên góc độ chỉ số kinh doanh, hay góc độ thứ bậc, cũng có khi dựa trên
góc độ chất lƣợng sản phẩm của hoạt động sản xuất. Đối với ngành ngân hàng, với
đặc thù là ngành tài chính với các hoạt động đa dạng và sâu rộng, do đó, khái niệm
năng lực hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu một cách khái quát là
năng lực tập hợp và phát huy các điều kiện, tiềm lực hoạt động riêng có của ngân
hàng, biểu hiện qua hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp cả định tính và định lƣợng nhằm
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, bằng việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân
hàng chất lƣợng một cách lâu dài và đối với Ngân hàng thƣơng mại là có lợi nhuận
và phát triển bền vững.

 Mô hình hoạt động của ngân hàng thƣơng mại
Tùy từng nƣớc và từng thời kỳ, mô hình hoạt động của các NHTM có thể áp
dụng khác nhau. Có 3 mô hình hoạt động chủ yếu của NHTM: ngân hàng chuyên
doanh, ngân hàng kinh doanh tổng hợp, ngân hàng đa năng [23, tr20]
Ngân hàng chuyên doanh: là những ngân hàng chỉ chuyên hoạt động trong

15


một lĩnh vực nhất định nhƣ: ngân hàng công nghiệp, ngân hàng nông thôn, ngân
hàng đô thị…
Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là những ngân hàng có thể thực hiện đồng
thời nhiều loại nghiệp vụ truyền thống trong nhiều lĩnh vực. Thực chất ngân hàng
làm nghiệp vụ tổng hợp của nhiều ngân hàng chuyên doanh.

Huy động vốn chủ sở hữu của ngân hàng
Để có thể thành lập một NHTM, thông thƣờng chủ sở hữu phải có một số
vốn nào đó lớn hơn số vốn mà luật pháp quy định (vốn pháp định).
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập NHTM do pháp luật
quy định. Mỗi NHTM lại có số vốn hoạt động khác nhau gọi là vốn điều lệ phải lớn
hơn hoặc bằng vốn pháp định. Tùy theo từng loại hình NHTM mà nguồn hình thành
vốn điều lệ do các chủ sở hữu đóng góp khác nhau. Nếu NHTM tƣ nhân thì vốn này
do vốn riêng của chủ doanh nghiệp đầu tƣ, NHTM cổ phần do các cổ đông đóng
góp, NHTMNN do Nhà nƣớc cấp vốn, nếu là ngân liên doanh hình thành từ đóng
góp của nƣớc sở tại và bên nƣớc ngoài, vốn chủ sở hữu là nguồn vốn riêng thuộc
quyền sở hữu của ngân hàng mức vốn điều lệ là bao nhiêu tùy thuộc vào quy mô
kinh doanh và pháp luật quy định cụ thể. Trong hoạt động ngân hàng nguồn vốn này
thƣờng nhỏ so với tổng nguồn vốn và do đó chúng chủ yếu tham gia vào tài sản cố
định, cơ sờ vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu là nguồn lực cơ bản để minh chứng sức mạnh tài chính
củacác NHTM, đóng vai trò quan trọng vừa để một ngân hàng bầt đầu hoạt động,
vừađảm bảo khả năng tồn tại của ngân hàng đó, quyết định quy mô hoạt động, tầm
vƣơnvà độ an toàn cho các hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng trên thƣơng
trƣờng. Để đo lƣờng và quyết định mức vốn chủ sở hữu hợp lý của một NHTM
ngƣời ta thƣờng xem xét vốn chủ sở hữu trong mối liên hệ với nhiều khoản mục
khác nhau của bảng tổng kết tài sản nhƣ : tổng tiền gửi, tổng tài sản, tổng tài sản rủi
ro, đều quan tâm đến khả năng của ngân hàng trong việc duy trì mức vốn chủ sở
hữuvà phƣơng pháp quản trị vốn chủ sở hữu.
Huy động vốn nợ (tiền gửi và đi vay)
Ngoài vốn chủ sở hữu, các NHTM thực hiện huy động vốn nợ. Đây là một
trong những hoạt động chủ yếu của NHTM nhằm giải quyết "đầu vào", tức là giải
quyết nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng chính đáng của tất cả các khách hàng.
Để huy động vốn, các NHTM có thể thu hút từ các nguồn vốn từ bên ngoài và dƣới
các hình thức khác nhau nhƣ:
Nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài

từ 60% đến trên 80% tài sàn của các NHTM. Việc cấp tín dụng của các NHTM
thƣờng dƣới nhiều hình thức nhƣ: theo thời gian sử dụng, theo mục đích sử dụng,
theo cách thức cho vay chiết khấu thƣơng phiếu, tín dụng ứng trƣớc, thấu chi, tín
dụng thời vụ, cho thuê tài chính, bảo lãnh và nhiều hình thức khác. Khi cho vay các
NHTM quan tâm đến việc bảo toàn vốn của mình và có lợi nhuận tối đa, còn khách
hàng muốn nhận đƣợc khoản tín dụng với những điều kiện ƣu đãi nhất. Đây là hoạt

18


động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng, tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro (rủi ro thanh khoản, rủi ro
lãi suất, rủi ro chính trị, rủi ro đạo đức) khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ảnh hƣởng
lớn đến ngân hàng vì phần lớn vốn của ngân hàng là đƣợc huy động từ nền kinh tế.
Tín dụng là hoạt động cơ bàn củaNHTM và là nguồn thu nhập chính.
Chất lƣợng của đầu tƣ tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng, nó quyết định
hiệu quả kinh doanh của NHTM, dù hết sức tiết kiệm chí phí, tận thu các khoản
nhƣng chất lƣợng món vay thấp sẽ dẫn tới mất vốn hoạt động của Ngân hàng vàcó
thế đi tới sự phá sản.
Hoạt động đầu tư: Các NHTM dùng vốn của mình để mua các loại chứng
khoán khác nhau có độ rủi ro thấp, năng lực thị trƣờng cao, chủ yếu do Chính phủ
hoặc do các doanh nghiệp lớn phát hành nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh khoản khi
cần và thu lợi nhuận. Ngày nay, các ngân hàng đã tham gia ngày càng nhiều hơn
vào các thị trƣờng chứng khoán. Ngoài ra, các NHTM còn hùn vốn để liên doanh,
liên kết với các doanh nghiệp khác để kinh doanh. Hiệu quả hoạt động đầu tƣ của
NHTM thể hiện ở tỉ lệ sinh lời của các khoản đầu tƣ, sự tăng giá các chứng khoán
và sự an toàn của các khoản đầu tƣ đó. Hoạt động đầu tƣ và kinh doanh chứng
khoán mang lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận tƣơng đối lớn, song đó cũng là
một hoạt động có nhiều rủi ro.
+) Hoạt động kinh doanh dịch vụ khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status