HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
-------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LƯỢNG PHÁT SINH VÀ
THÀNH PHẦN RÁC THẢI SINH HOẠT QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
Người thực hiện
: NGUYỄN HOÀNG LONG
Lớp
: MTC
Khóa
: 57
Chuyên ngành
: MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS. ĐỖ THỦY NGUYÊN
Hà Nội – 2016
Giáo viên hướng dẫn : TS. ĐỖ THỦY NGUYÊN
Địa điểm thực tập
: QUẬN LONG BIÊN – TP. HÀ NỘI
Hà Nội – 2016
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình và
bạn bè.
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy TS.
Đỗ Thủy Nguyên, giảng viên bộ môn Công nghệ Môi trường – Học Viện Nông nghiệp Việt
Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận cũng như tận tình truyền đạt
những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể các quý thầy, cô giáo bộ môn Công nghệ Môi
trường – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực
tập tại bộ môn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới anh Trần Minh Hoàng, bạn Đinh Phương Thảo,
bạn Hoàng Tú Anh và các làm việc trên phòng thí nghiệm bộ môn Công Nghệ Môi Trường
đã nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia đình và bạn bè đã động
viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Người thực hiện
Thu nhập bình quân đầu người
GPMB
Giải phóng mặt bằng
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
QĐ
Quyết định
RTSH
Rác thải sinh hoạt
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TP
Thành phố
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng và sự
phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch...kéo theo mức sống của
người dân càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công tác bảo vệ môi
trường và sức khỏe của cộng đồng dân cư. Lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh
hoạt của con người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính
chất.
Rác thải sinh hoạt là một vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội, nhất là trong quá
trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay. Ở các đô thị lớn
của Việt Nam, rác thải đã và đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Xử lý rác thải sinh
hoạt luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý môi trường, làm thế nào để xử lý rác thải
đạt hiệu quả cao nhất, không gây nên những hậu quả xấu về môi trường trong tương lai và
lại ít tốn kém chi phí nhất.
Để có thể đạt hiệu quả cao nhất trong công tác xử lý rác thải sinh hoạt, các nhà
quản lý môi trường cần có đầy đủ thông tin về thành phần và khối lượng rác thải sinh hoạt.
Từ đó có thể tối ưu hóa được các hoạt động thu gom rác thải và thiết kế được các công
trình chôn lấp, xử lý rác một cách hợp lý. Đưa ra được các chiến lược và chính sách bảo vệ
môi trường đối với rác thải sinh hoạt. Ngoài ra, cần có các dự báo về thông tin rác thải từ
các phạm vi khác nhau để có những mô hình dự báo thành phần và khối lượng rác thải quy
mô hộ gia đình trên mối quan hệ các đặc điểm hộ gia đình.
Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông – Bắc của Thủ đô, có vị trí chiến lược
quan trọng về chính trị, văn hóa, xã hội của Thành phố Hà Nội. Quận Long Biên là khu
vực có đông dân cư với mật độ dân số cao, theo thống kê hàng ngày lượng rác thải thu gom
và vận chuyển trên địa bàn quận Long Biên khoảng 200 tấn/ngàyvà ngày càng có xu
hướng tăng lên theo thời gian. Vì thế, chúng ta cần có những nghiên cứu khoa học hiệu quả
để hỗ trợ cho công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại đây.
Xuất phát từ cơ sở lý luận thực tiễn trên, tôi tiến hành chọn đề tài “Phân tích các yếu
tố ảnh hưởng tới lượng phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt quy mô hộ gia
đình trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội” nhằm nghiên cứu rõ lượng rác
thải sinh hoạt phát sinh và nâng cao công tác quản lý tại khu vực.
nguồn gốc chủ yếu từ các nguồn sau: khu dân cư, trung tâm thương mại, viện nghiên cứu,
cơ quan, trường học, các công trình công cộng, dịch vụ đô thị, khu công nghiệp, trạm xử lý
nước thải và từ các ống thoát nước của thành phố”.
b.
Tính chất RTSH
Rác thải sinh hoạt nói chung có thành phần không ổn định. Ở các đô thị lớn như Hà
Nội thành phần hữu cơ chiếm 40-50%, chủ yếu là các thành phần dư thừa của rau, hoa quả.
Chất dẻo dưới dạng túi nilon bao bì ngày một nhiều trở thành nguy cơ ô nhiễm trong
những năm gần đây. Gạch ngói, đá sỏi, vôi sữa khô chiếm tỷ lệ rất lớn. Các thành phần này
phụ thuộc vào tốc độ xây dựng, cải tạo nhà cửa của từng thành phố (Hoàng Kim Cơ,
2001).
Tính chất của chất thải rắn gồm:
- Tính chất vật lý của chất thải rắn (CTR): những tính chất vật lý quan trọng nhất
của CTR đô thị là khối lượng riêng, độ ẩm, kích thước, cấp phối hạt, khả năng giữ ẩm thực
tế và độ xốp của CTR. Trong đó, khối lượng riêng và độ ẩm là hai tính chất được quan tâm
nhất trong công tác quản lý CTR đô thị.
- Tính chất hóa học của CTR: Các thông tin về thành phần hóa học, các vật chất cấu
tạo nên CTR đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, lựa chọn phương pháp xử lý
và tái sinh chất thải.
10
Việc xác định các nguyên tố cơ bản trong rác thải sinh hoạt để xác định công thức
hóa học của thành phần hữu cơ có trong rác thải sinh hoạt cũng như xác định tỷ lệ C/N
thích hợp cho quá trình làm phân compost. Trong các cấu tử hữu cơ của RTSH, thành phần
hóa học chủ yếu của chúng là C,H,O,N,S và các chất tro.
- Tính chất sinh học của CTR: tính chất sinh học của CTR bị chi phối về thành phần chất
•
•
chết, vỏ hoa quả,...
Các chất khó bị phân hủy sinh học: gỗ, cành cây, cao su, túi nlon...
Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: kim loại, thủy tinh, mảnh sành sứ, gạch
ngói, vôi vữa khô, sỏi cát, vỏ ốc hến ...
Bảng 1.1: Định nghĩa thành phần của rác thải sinh hoạt
Thành phần
Định nghĩa
Ví dụ
a.Giấy
Các vật liệu làm từ giấy bột và giấy
Các túi giấy, mảnh bìa, giấy vệ
sinh
b.Hàng dệt
Các nguồn gốc từ các sợi
Vải, len, nilon...
c.Thực phẩm
Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm
tạo từ da và cao su
Bóng, giày, ví, băng cao su...
2.Các chất không cháy
a.Các kim loại
sắt
Các vật liệu và sản phẩm được chế
tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút
Vỏ hộp, dây điện, hàng rào,
dao, nắp lọ...
b.Các kim loại
phi sắt
Các vật liệu không bị nam châm
hút
Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ
đựng...
c.Thủy tinh
Các vật liệu và sản phẩm được chế
tạo từ thủy tinh
Chai lọ, đồ đựng bằng thủy
tinh, bóng đèn...
50,07
62,24
Giấy
2,72
2,82
0,59
Giẻ rách, củi, gỗ
6,27
2,72
4,25
Nhựa, nylon, cao su
0,71
2,02
0,46
Vỏ ốc, xương
30,21
23,9
15,27
Tạp chất khó phân hủy
Nguồn:Nguyễn Xuân Thành, (2010)
Bảng 1.3: Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số quốc gia trên thế giới
Thành phần (%)
Các chất dễ cháy
Giấy
12
Nhật Bản
28,2
12,1
Pháp
0
30
Singapore
0
20-25
Mỹ
0
7
0
13
0
0
26-45
0
23-26
0
1-2
2-4
3-7
5-9
0
5-10
9,4
2
0,5
7
0,5
0,5
0,5
7,9
0
3,2
Nguồn: Nguyễn Xuân Thành(2010)
d. Phân loại RTSH
sử dụng cho con người.
- Các loại hoa, lá cây, cỏ
không được con người sử
dụng sẽ trở thành rác thải
trong môi trường
- Các loại rau, củ,
quả đã bị hư, thối...
Rác vô cơ là những
loại rác không thể sử
dụng được nữa mà
cũng không thể tái
chế được mà chỉ có
thể xử lý bằng cách
mang ra các khu chôn
- Các loại vật liệu xây
dựng không thế sử dụng
hoặc đã qua sử dụng và
được bỏ đi.
- Các loại bao bì bọc bên
ngoài hộp, chai thực
phẩm.
- Gạch, đá, đồ sành,
đồ sứ bị vỡ hoặc
không còn giá trị sử
dụng
- Ly, cốc, bình thủy
- Một số loại vật dụng,
thiết bị trong đời sông
hàng ngày của con người.
Rác vô cơ là loại rác Kim loại, nhựa, vỏ hộp
khó phân hủy nhưng có chai lọ,... bỏ đi
thể đưa và tái chế nhằm
mục đích phục vụ nhu
cầu của con người.
Ví dụ
- Đồ da, đồ cao su,
đồng hồ hỏng, băng
đĩa, radio,... không
thể sử dụng.
1.1.2. Các phương thức xử lý rác thải sinh hoạt
Trên thế giới có 3 phương pháp xử lý rác thải chủ yếu là: đốt, ủ sinh học và chôn
lấp.
- Chôn lấp: đối với các loại rác thải không thế chế biến được nữa.
- Ủ sinh học: đối với các loại rác thải chứa các chất hữu cơ.
- Đốt: đối với một số loại rác thải độc hại.
1.1.3. Quy định của Nhà nước về rác thải sinh hoạt
Theo Điều 53 Chương VI Luật Bảo vệ tài nguyên môi trường thì hộ gia đình cần có
trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường sau đây:
-
Thu gom và chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường
-
Tổ chức thực hiện nếp sống vệ sinh, văn minh, xóa bỏ các thói quen và tập quán
xấu như vứt rác thải, chất thải bừa bãi... Mỗi đô thị phải có các quy định cụ thể về các việc
nói trên.
- Về quản lý việc xử lý, tiêu hủy chất thải:
Tổ chức và tiến hành việc quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải, xây dựng các bãi
chôn lấp chất thải đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường và đáp ứng được yêu cầu chôn lấp
chất thải của địa phương mình tối thiểu là 25 năm.
Có các công nghệ phù hợp để xử lý hoặc tiêu hủy chất thải đảm bảo các tiêu chuẩn
môi trường, đặc biết đối với chất thải công nghiệp nguy hại cần phải được xử lý triệt để.
Có các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường do các bãi chôn lấp chất thải cũ gây ra
v.v...
Các quy định, văn bản pháp luật của Nhà nước về vấn đề rác thải sinh hoạt nhìn
chung phù hợp với hiện trạng nước ta. Tuy nhiên việc thực hiện chưa tốt nên trên thực tế
vẫn chưa hiệu quả. Đội ngũ những người đảm bảo việc thực hiện các quy định này còn
thiếu và yếu.
1.2. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
1.2.1. Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên thế giới
Với lượng rác gom góp được trên toàn thế giới từ 2,5 đến 4 tỉ tấn mỗi năm, thế giới
hiện nay có lượng rác ngang bằng với sản lượng ngũ cốc (đạt 2 tấn) và sắt thép (1 tỉ tấn),
khẳng định của Viện nguyên vật liệu Cyclope và Veolia & Propreté – công ty quản lý rác
lớn thứ hai thế giới.
Theo các chuyên viên nghiên cứu của Ngân hàng thế giới World Bank (WB) và
Viện nguyên vật liệu Cyclope &Veolia & Propreté, trong tổng số rác trên thế giới, có 1,2 tỉ
15
tấn rác tập trung ở vùng đô thị, từ 1,1 đến 1,8 tỉ tấn rác công nghiệp không nguy hạivà 150
triệu tấn rác nguy hiểm (mức tính toán thực hiện tại 30 quốc gia).
Nhìn chung, lượng RTSH ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự
phân bón (Nguyễn Văn Sang, 2015).
Tại Singapore: mỗi ngày thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở
Singapore được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp...).
Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái
chế. Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt
thành tro. Mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác không thể
đốt được sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill. Như vậy khối lượng từ
16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổ rác cho hơn
10% lượng rác đó, xấp xỉ 2.000 tấn. Chưa hết, nhiệt năng sinh ra trong khi đốt
rác được dùng để chạy máy phát điện đủ cung cấp 3% tổng nhu cầu điện của
Singapore (Trần Nhật Nguyên, 2010).
Trong Báo cáo "Đánh giá toàn cầu về quản lý rác thải rắn" WB nhận định khối
lượng rác thải ngày càng lớn của cư dân đô thị đang là một thách thức lớn không kém gì
tình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối với các quốc gia
nghèo khó, đặc biệt là ở Châu Phi.
Các chuyên gia WB ước tính đến năm 2025, tổng khối lượng rác cư dân thành thị
thải ra sẽ là 2,2 tỷ tấn/năm - tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí xử
lý rác thải rắn dự kiến lên tới 375 tỷ USD/năm, so với mức 205 tỷ USD ở thời điểm hiện
tại (Minh Cường, 2015).
17
1.2.2. Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Lượng CTRSH tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng,
tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu
hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các
đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá
(12,7%), Cao Lãnh (12,5%)… Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH
tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%).
1,07
237.350
3,68
Miền núi Tây Bắc Bộ
Tây Nguyên
Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng & Môi trường sạch (2015)
Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP.Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà
Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn – 12,3 tấn/ngày;
Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP.Đồng Hới 32,0 tấn/ngày;
TP.Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô
thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát
sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 – 0,73
kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu
người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.
18
Tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả
nước là 0,73kg/người/ngày.
19
Bảng 1.6: Tỷ lệ phát sinh RTSH ở một số TP
Tổng lượng CTR đô thị phát sinh
(tấn/ngày)
2009
2010
2015
2020
2025
25,5
29,74
26,22
30,2
35
38
44
45
52
50
0,95
hướng phát triển bền vững của vùng. Để có được những biện pháp quản lý phù hợp thì
những dữ liệu liên quan tới mức độ phát sinh rác thải là những thông tin hết sức quan trọng
và không thể thiếu. Tuy vậy, mức độ phát sinh rác thải đến từng cá nhân trong ngày là một
con số khó có thể đo đạc trực tiếp và khó có thể được cập nhập liên tục, thường được thu
thập bằng phương pháp ước lượng dựa trên các con số của các chương trình điều tra khảo
sát. Do đó, sẽ rất khó khăn để thu thập được thông tin nếu thiếu đi các chương trình điều
tra mất nhiều thời gian và tốn kém, trong khi các thông tin này chỉ mang tính chất hiện
trạng, ít tính liên hệ với những đặc thù phát triển kinh tế xã hội trong tương lai.
Tuy nhiên, mức độ phát sinh rác thải có liên quan chặt chẽ đặc điểm của cộng đồng
dân cư, và từ mối liên hệ gắn kết giữa những đặc thù này, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra
những nhận định về mức độ rác thải được phát sinh trên các quy mô từng hộ gia đình nói
riêng cho đến quy mô khái quát của cả vùng. Các đặc điểm của cộng đồng dân cư trên quy
mô từng hộ gia đình quyết định rất nhiều tới hành vi tiêu dùng và mức độ xả rác cũng như
các thành phần rác thải. Tổng hợp các nghiên cứu của các tác giả Abu Qdais và cộng sự
(1997),Lebersorger(1998) và Dennison (1996), có thể liệt kê một số yếu tố đặc điểm hộ gia
đình có thể giải thích và tiên lượng cho lượng rác thải phát sinh bao gồm các giả thuyết
liên quan tới thu nhập bình quân đầu người, tuổi trung bình và trình độ học vấn. Xét trên
quy mô rộng, đặc thù phát sinh rác thải phụ thuộc vào đặc điểm nhân khẩu, định hướng
phát triển kinh tế và xã hội của khu vực sinh sống của cộng đồng dân cư.
Với thành phần rác thải, để có thể xác định được mối liên hệ giữa đặc thù nhân
khẩu và thành phần phát sinh, đối tượng rác thải sinh hoạt có thể được phân chia theo ba
dạngkhác nhau:
- Dạng 1: Phân chia theo đặc tính tự nhiên của rác thải như: rác thải hữu cơ, giấy,
thủy tinh, nhựa, kim loại, các dạng khác....
- Dạng 2: Phân chia theo phương thức thu thập rác thải bao gồm rác thải tái chế
được, rác thải không tái chế được.
21
mẫu
Số lượng
thông số
độc lập
Giá trị
R2
Thủy tinh
Kim loại
Giấy
RTSH
RTSH
RTSH
Rác thải không tái
chế được
507
156
649
550
103
100
7
7
8
6
3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
-
Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi không gian: Quận Long Biên –Thành phố Hà Nội
-
Phạm vi thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 6/2016.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của
quận Long Biên – Hà Nội
a. Điều kiện tự nhiên.
b. Điều kiện kinh tế xã hội.
c. Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội.
2.3.2. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ
phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
2.3.3. Phân tích các yếu tố ảnh huởng đến mức độ phát sinh và thành phần rác thải
sinh hoạt
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
-
Tài liệu khoa học liên quan tới các mô hình rác thải từ các nguồn có sẵn: sách, báo, tạp chí
o Yếu tố khu vực: phân thành 4 phường dựa theo mức phát triển của từng
khu vực như đã nói ở trên
Ngọc Lâm
Ngọc Thụy
Thạch Bàn
Cự Khối
o Yếu tố thu nhập: Dựa trên thu nhập của hộ gia đình, ta chia thành ba
nhóm hộ trên cơ sở Quyết định 59/2015QĐ-TTg ban hành về chuẩn
nghèo
Nhóm hộ gia đình giàu
Nhóm hộ gia đình trung bình
Nhóm hộ gia đình nghèo
o Yếu tố độ tuổi: Cách xác định yếu tố nhóm tuổi của hộ gia đình dựa trên
cơ sở phân loại của Lebersorger, 2003. Trong nghiên cứu này, tôi lấy độ
tuổi trung bình của các thanh viên trong gia đình rồi phân thành ba
nhóm tuổi chính để nghiên cứu:
Nhóm trẻ tuổi: ≤ 32 tuổi
Nhóm trung niên: 33 – 49 tuổi
Nhóm cao tuổi: ≥ 50 tuổi
o Yếu tố học vấn: Cách xác định yếu tố học vấn của hộ gia đình dựa trên
cơ sở nghiên cứu của Lebersorger, 2003. Trong nghiên cứu này, phân
nhóm trình độ học vấn của hộ gia đình dựa trên trình độ học vấn của
người quyết định mua các sản phẩm sinh hoạt hàng ngày của hộ để xác
định ảnh hưởng tới lượng và thành phần phát sinh rác thải sinh hoạt.
Nhóm hộ có trình độ học vấn Trung học cơ sở
Nhóm hộ có trình độ học vấn Trung học phổ thông
Nhóm hộ có trình độ học vấn Đại học
2.4.3. Phương pháp xác định khối lượng và thành phần
- Xác định khối lượng rác và khối lượng và thành phần rác bằng phương pháp
cân trực tiếp. Tiến hành phát túi cho các hộ gia đình vào thứ 2, thứ 5 và thứ 7