SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT XUÂN TRƯỜNG
------
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
DẠY HỌC PHẦN II-LỚP 10 MÔN GDCD THEO CHỦ ĐỀ
“NGHĨA VỤ CÔNG DÂN” DƯỚI DẠNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
KIẾN THỨC LIÊN MÔN THÔNG QUA BÀI TẬP DỰ ÁN
Tác giả
:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ
:
Nơi công tác
:
VŨ THỊ NỘI
Cử nhân sư phạm GDCT
Giáo viên GDCD
Trường THPT Xuân Trường
Nam Định, tháng 5 năm 2016
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: DẠY HỌC PHẦN II-LỚP 10 MÔN GDCD THEO CHỦ ĐỀ
“NGHĨA VỤ CÔNG DÂN” DƯỚI DẠNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM KIẾN
THỨC LIÊN MÔN THÔNG QUA BÀI TẬP DỰ ÁN
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn GDCD trong trường THPT
GDCD
Giáo dục công dân
GD & ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GTS&KNS
Giá trị sống và kỹ năng sống
1
HS
Học sinh
2
GV
Giáo viên
3
CNTT
Công nghệ thông tin
B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP: DẠY HỌC PHẦN II-LỚP 10 MÔN GDCD THEO
CHỦ ĐỀ “NGHĨA VỤ CÔNG DÂN” DƯỚI DẠNG HOẠT ĐỘNG TRẢI
NGHIỆM KIẾN THỨC LIÊN MÔN THÔNG QUA BÀI TẬP DỰ ÁN……….6
I. Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến -Thực trạng dạy học và kiểm tra đánh
giá môn GDCD
II. Giải pháp sau khi có sáng kiến
1. Giới thiệu chung về dạy học phần II- môn GDCD lớp 10 theo chủ đề “nghĩa
vụ công dân” dưới dạng các hoạt động trải nghiệm KTLM thông qua BTDA ..9
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn …………………………………………………….9
1.2. Thực chất của hoạt động trải nghiệm KTLM thông qua BTDA………….10
1.2.1. Hoạt động trải nghiệm KTLM…………………………………………….13
1.2.2. Bài tập dự án là gì…………………………….............................................13
1.2.3. Ví dụ minh họa về BTDA được trò thực hiện bởi KTLM……………….14
1.3. Ưu điểm của mô hình dạy học phần II môn GDCD lớp 10 dưới dạng hoạt
động trải nghiệm KTLM thông qua BTDA …………………………………….17
2. Cách thức tiến hành
2.1. Tổ chức hướng dẫn trò đọc – nghiên cứu chủ đề lớn “ nghĩa vụ công dân”
qua bốn chủ đề “vệ tinh” ………………………………………………………...17
2.2. Trải nghiệm KTLM thông qua BTDA theo bốn chủ đề “vệ tinh”………..20
3. Một số lưu ý…………………………………………………………………….26
C. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
1. Hiệu quả kinh tế………………………………………………….…………….28
2. Hiệu quả về mặt xã hội…………………………………………………...........29
D. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN…….....30
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-4-
trước một số hành vi ra tay đầy bạo lực và vô cảm của chính học sinh với nhau…
Chúng ta đang sống trong một thế giới biến đổi không ngừng đòi hỏi giáo dục
cũng phải thích ứng phải đổi mới phương pháp không ngừng. Môn GDCD cũng
vậy. Học sinh không phải là mảnh đất mà thầy cô gieo vãi lên đó những kiến thức
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-5-
và rồi suy nghĩ theo tư duy rập khuôn. Người thầy nhất là môn GDCD phải có
những phương pháp giáo dục biện chứng như chính cuộc sống vậy. Trong quá trình
giảng dạy tôi nhận thấy kiến thức phần II- GDCD lớp 10 đặc biệt có ý nghĩa trong
việc chuẩn hóa hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của cộng đồng, góp phần hoàn
thiện nhân cách, bồi dưỡng năng lực bằng con đường tự trải nghiệm cho người học
từ đó nâng cao GTS và KNS, cũng như năng lực hoạt động thực tiễn cho công
dân. LVEP (Living Values Activities for Young Adults) - một chương trình giáo
dục GTS, KNS của UNICEP đã chỉ ra 12 giá trị sống của một công dân toàn cầu:
yêu thương, khoan dung, tôn trọng, trung thực, giản dị, khiêm tốn, đoàn kết,
hợp tác, trách nhiệm, hòa bình, tự do, hạnh phúc. Về kỹ năng: có 24 kỹ năng
sống cơ bản: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác lập mục tiêu, kỹ năng biết
lắng nghe, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng kiên định, kỹ năng tìm kiếm thông
tin, kỹ năng hợp tác, kỹ năng phân tích phán đoán, kỹ năng ra quyết định…
Những kiến thức, giá trị sống và nhóm kỹ năng ấy cũng là trọng tâm của phần 2GDCD lớp 10, một trong những phần học quan trọng trong môn GDCD cấp THPT
dễ dạy nhưng khó đạt đúng mục đích. Vận dụng những kiến thức trong đợt tập
huấn hè năm 2010 về giáo dục GTS và KNS cho học sinh THCS,THPT của Bộ
GDĐT, tôi đã thực hiện một đề tài SKKN thứ tư: “Dạy học phần II- môn GDCD
lớp 10 theo chủ đề nghĩa vụ công dân dưới dạng trải nghiệm KTLM thông qua
BTDA” nhằm góp phần nâng cao hứng thú môn học, hướng các em đến phương
pháp học tích cực và tự chủ, nâng cao kỹ năng trí tuệ, nhất là khả năng vận dụng
kiến thức bài học trên lớp vào thực tế cuộc sống trở thành kỹ năng sống tích cực.
tạp hoá, trầm trọng hoá vấn đề đến mức tranh luận hàng giờ với học trò theo nguyên
tắc nọ, lí luận kia rôì lại quay trở về xuất phất điểm ban đầu…Rõ ràng trong trường
hợp này giáo viên nhầm tưởng trò như mình nên cứ việc tranh luận y hệt như trao
đổi với những nhà hiền triết. Cách dạy như vậy, lí luận càng trở thành lí luận suông
thậm chí còn gây những hậu quả không tốt cho học sinh.
2.Thực trạng học trò “học vẹt”, trả bài “kiểu vẹt” dẫn đến khó hoặc không
chuẩn hóa hành vi sống.
Khi không hiểu về bản chất của các nội dung lí thuyết mà lại chịu quá nhiều sức
ép từ bố mẹ thầy cô, học trò không có cách chọn lựa nào tốt hơn là ngồi “học vẹt”
hàng giờ đồng hồ để mà nhồi nhét vào đầu để khi cô giáo kiểm tra không bị điểm
xấu. Phải chăng đó là một sự thực dụng không nên có trong giáo dục ?
Và cuối cùng, kết quả các em trả bài theo kiểu: “chữ nghĩa y sách” thì làm sao
kiến thức có thể đi vào trong hành động thực tiễn hành ngày của các em?
3. Hậu quả:
Nhìn thẳng vào thực tế cho thấy, tất cả các thực trạng trên đưa đến hiện tượng
thiếu khuyết và thậm chí “thiểu năng” GTS & KNS ở một bộ phận không nhỏ học
trò. Ngoài ra, đây còn là hậu quả của việc học kiểu trọng tâm trọng điểm – môn nào
thi thì học. Một thiên hướng khá phổ dụng hiện nay: học để thi để đỗ đạt có địa vị,
báo cáo thành tích với phụ huynh mà quên hẳn hoặc ít chú ý đến “ tiên học lễ hậu
học văn”. Học trò không thể tìm thấy cái hay, cái hữu dụng do kiến thức bộ môn
GDCD đem lại, các em sẽ không thiết tha gì với môn học và nhiều hậu quả khác
nữa như:
+ Học sinh không hiểu được hết các khái niệm, nội dung kiến thức vừa học, ít
biết liên hệ thực tế vậy thì sau này khả năng vận dụng thành thạo để trở thành kỹ
năng sống sẽ kém hơn.
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-7-
Một là: Do vấn đề nhận thức của nhiều phía chưa đúng về bộ môn đẫn đến
quan tâm chưa đầy đủ
Trong thời đại xã hội trọng bằng cấp và thích môi trường làm việc ổn định,
lương hấp dẫn như hiện nay thì rất dễ hình thành trong các cấp quản lý giáo dục,
học sinh và phụ huynh nhận thức : học thi thành tích trong khi thực tế xã hội cho
thấy chưa chắc việc những trò có điểm số cao, đõ đạt đã có năng lực sinh tồn cao và
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-8-
thích ứng nhanh được với xã hội đầy biến động như hiện nay. Những nhóm năng
lực, KNS & GTS rất phong phú rất cần thiết cho nguồn nhân lực chất lượng cao
đang còn trầm tích trong môn GDCD.
Vậy nên, sự chỉ đạo của các cấp quản lí giáo dục là yếu tố chi phối đầu tiên quan
trọng. Phụ huynh là đại diện quan trọng của xã hội vào việc tham gia vào đào tạo
con em họ cùng với nhà trường và họ không nên chi phối quá nhiều mục đích học
của con em như hiện nay. Khi các em học sinh vốn đã phải học thi nặng nề, lại thêm
được bố mẹ định hướng chủ quan nên chủ yếu học những môn thi và tất yếu phát
triển không toàn diện. Hơn nữa: môn GDCD là “môn phụ”, tâm lí ấy còn tồn tại
trong dư luận, hậu quả sẽ không đơn giản gói gọn trong lớp học.
Hai là: Do phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn.
Cách dạy sẽ khác đi tuỳ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Do vậy cách dạy truyền
thống đọc chép gói gọn trong cuốn sách giáo khoa GDCD không còn phù hợp và
phải đào thải từ lâu. Rất nhiều giáo viên bộ môn chưa thấu suốt bản chất của mọi
phương pháp, hay cách làm mới chính là sự vận động của chính bản thân kiến thức
vốn sống họ có được. Chính mô hình dạy học theo chủ đề dưới dạng hoạt động
trải nghiệm KTLM thông qua BTDA giúp làm tăng sự ghi nhớ hiểu biết, vận
dụng dựa trên sự trải nghiệm hành vi sâu sắc của chính người học.
Chúng ta nên nhìn thẳng vào vấn đề: bản chất của việc chán học của học trò đối
học đạo đức, nếu thiếu những trải nghiệm sinh động từ thực trạng đạo đức nhân
cách và từng biểu hiện cụ thể của nó trong cuộc sống chúng ta thường ngày. Phần
này gồm 7 bài:
Bài 10: Quan niệm về đạo đức
Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình.
Bài 13: Công dân với cộng đồng.
Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại.
Bài 16: Tự hoàn thiện bản thân
Theo tôi phần này nên lấy tư liệu – những vấn đề nóng về đạo đức và nhất là
biểu hiện cụ thể của nó trong giới trẻ hiện nay trong tương quan với cộng đồng xã
hội làm chủ đề chính yêu cầu các em trải nghiệm và tự có những đánh giá, thẩm
bình chủ động đưa ra chuẩn mực hành vi sống ngay sau khi giải quyết các vấn đề
đó. Chúng ta nên dạy học theo chủ đề “ nghĩa vụ công dân” dưới dạng các hoạt
động trải nghiệm KTLM thông qua BTDA vào 7 bài này. Đây thực chất là con
đường tích hợp những nội dung từ 7 bài học này đang có liên hệ với nhau làm thành
một nội dung học lớn có ý nghìa bám sát thực tiễn hơn mang tên chủ đề “nghĩa vụ
công dân”. Nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và
vận dụng vào thực tiễn .Việc chọn chủ đề lớn cho phần kiến thức này là “nghĩa vụ
công dân” hoàn toàn có cơ sở rất khách quan. Vì 7 bài này kiến thức rộng nhưng
đều tựu chung một nội dung khoa học : Trách nhiệm công dân với 4 trụ cột trách
nhiệm chính: Trách nhiệm đối với bản thân, trách nhiệm đối với gia đình, trách
nhiệm đối với xã hội, trách nhiệm đối với đất nước. Từng trụ cột trách nhiệm tương
thích với nhóm bài như sau:
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-10-
chuyển hóa luôn thành hành vi thực tiễn qua đó trực tiếp đúc rút được kinh nghiệm
quý báu làm bài học theo ta suốt cả cuộc đời. Sự “thấm lâu” này chỉ có được ở hình
thức học tập trải nghiệm. Có một câu chuyện nói lên tất cả ý nghĩa của học trải
nghiệm rằng : ở một ngôi chùa tọa lạc trong cánh rừng nọ, có một vị thiền sư cao
đạo ngày đêm miệt mài cần mẫn luyện công thuyết pháp với nhiều đệ tử của mình.
Một trong số đồ đệ đó, có một chú tiểu tuổi nhỏ lại rất hiếu động. Chú thường hay
trốn ra rừng chơi dọc các con suối và nghịch ngộ bắt bất kể một sinh vật nào: cua,
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-11-
cá, nhái, rắn rồi buộc vào đuôi hay chân chúng hòn đá nặng hơn cả cơ thể khiến cho
chúng không di chuyển được, rồi dần kiệt sức mà chết. Chuyện này lặp lại quá
nhiều lần khiến cho vị Thiền sư ấy rất buồn. Một hôm, trong khi chú tiểu ngủ say, vị
Thiền sư đó đã buộc vào mình chú tiểu một hòn đá rất to, khi tỉnh dậy chú tiểu xoay
người kiểu gì cũng không thể nào bò dậy được. Đợi khi chú khóc lóc van xin hết
nước mắt nhà sư mới răn dạy thêm bài học cần thiết. Kể từ đó chú tiểu không bao
giờ tái phạm nữa, chú đã trải nghiệm qua sự đề nặng của hòn đá…từ đó chú biết yêu
thương nâng niu tất cả các sinh vật quanh mình.
Qua đây chúng ta hiểu rằng trong cuộc sống chúng ta có thể quên đi những
điều người khác nói nhưng sẽ không thể quên những xúc cảm được gieo vào lòng
mình. Xúc cảm đó chỉ có thể có được khi chúng ta là chủ thể hoặc nhập vai chủ thể
ở trong, trải qua từng hoạt động, từng tình huống thực tiễn chứ không phải đơn
thuần là nghe nói, diễn giảng hay chứng kiến tình huống trong tư cách một khách
thể. Có thể nói học trải nghiệm nếu được tiến hành “trọn gói” sẽ luôn là những bài
học có giá trị nhất.
1.2.1. Hoạt động trải nghiệm KTLM
Kiến thức phần này có nhiều nội dung tương đồng với nhiều môn khoa học xã hội
như ngữ văn, lịch sử, địa lý, GDQPAN, Tiếng Anh. Khi vận dụng kiến thức của
1.2.2. BTDA là gì ?
Giáo viên cần cung cấp đầy đủ thông tin về BTDA từ khái niệm đến cách tiến
hành cụ thể. Có thể phô tô cho học sinh tài liệu( nếu thời gian trên lớp không cho
phép). Giống như tất cả các dạng bài tập thông thường giáo viên giao bài cho học
trò, nhưng sự khác biệt rõ rệt thể hiện ở điểm: BTDA đòi hỏi về mặt nội dung gắn
với một chủ đề thực hiện yêu cầu trong một thời gian nhất định thường là 1
tuần đến một học kỳ hoặc một năm học, với hình thức làm việc hợp tác kiểu
nhóm. Để thực hiện yêu cầu của chủ đề đòi hỏi người học phải có sự trải nghiệm
thực tế thêm trong một thời gian giới hạn nhất định để tự mình cảm nhận, suy ngẫm,
tìm tòi phương pháp, thu thập, xử lý hoàn thành mọi yêu cầu liên quan đến chủ đề
của nhóm. Khi thực hiện xong việc đó, họ còn phải chia sẻ cảm xúc, đúc rút kinh
nghiệm và tự đưa ra bài học cũng như phương hướng cho tương lai của chính mình
và cộng đồng ( nếu có).
*Bốn bước thực hiện: Để hoàn thành xong một BTDA học trò cần thực hiện các
bước: xây dựng kế hoạch cụ thể; bắt tay vào thực hiện dự án theo kế hoạch đã xây
dựng; tổng hợp kết quả thực hiện dự án; báo cáo và đánh giá kết quả thực hiện dự
án( thường tổ chức báo cáo trong một tiết dạng hội thảo).
Một là: lập kế hoạch chung, phân công công việc
Hai là: thực hiện dự án theo kế hoạch đã xây dựng:
Học sinh thực hiện các nhiệm vụ đã được nhóm phân công theo các phương pháp
và định hướng đã đưa vào bản kế hoạch chung của nhóm. Trong quá trình thực hiện
học sinh nên tham vấn ý kiến của giáo viên để đảm bảo thực hiện được mục tiêu dự
án.
Công việc chủ yếu của học sinh khi thực hiện bước này là:
+ Tìm kiếm và thu thập thông tin bằng cách đọc sách, báo tài liệu, tìm thông
tin trên mạng Internet theo nguồn giáo viên đã chỉ dẫn
+ Tìm hiểu, điều tra những vấn đề thuộc nhiệm vụ được giao. Ghi chép lại
những điều đã quan sát và điều tra
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra viết theo phương pháp trắc
nghiệm khách quan kết hợp với tự luận. Dựa vào mục tiêu, các nội dung chính của
chủ đề, giáo viên xây dựng đề kiểm tra để đánh giá kiến thức học sinh thu được sau
khi thực hiện dự án.
Về đánh giá kết quả thực hiện dự án
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-14-
Giáo viên tổ chức cho học sinh tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng dựa vào các tiêu chí
đánh giá. Đồng thời chia sẻ cảm xúc, bài học thực tiễn, kinh nghiệm…
1.2.3 Ví dụ minh họa về BTDA được trò thực hiện bởi KTLM :
BTDA cho chủ đề vệ tinh: “bảo vệ môi trường nông thôn” liên quan đến trụ cột
trách nhiệm của công dân với cộng đồng xã hội có thể đưa ra dạng BTDA như sau:
Bạn hãy tự chọn nhóm cho mình, mỗi nhóm sẽ có một tuần để trải nghiệm
thêm những câu chuyện môi trường hàng ngày đang diễn ra quanh bạn, sau đó hãy
nghiên cứu tìm tòi thông tin minh chứng, hình ảnh, …tự tạo lập một bài báo về chủ
đề “ bảo vệ môi trường nông thôn”,
Hãy chia sẻ cảm xúc cá nhân, đề xuất những giải pháp cần thiết (nếu có), ( khuyến
khích viết bằng Tiếng Anh để thuyết trình trong buổi hội thảo.
Để tiến hành thực hiện một bài tập kiểu dự án đòi hỏi cả cô và trò phải chuẩn bị
công phu hơn nhưng các học sinh sẽ háo hức chủ động tích cực với kiến thức hơn.
Giáo viên dày công hơn trong viêc kết hợp vốn sống, kiến thức bài từ nhiều góc
nhìn từ nhiều bộ môn trong tương quan các vấn đề nóng mang tính thời sự để chọn
chủ đề và thiết kế BTDA. Thay vì từng nội dung riêng rẽ của phần II này giáo viên
cần tiếp cận học phần này theo mục tiêu giáo dục hiện nay hướng sự hoc tập của trò
sang tự hoc theo phương châm: học để biết , học để hiểu, học để chung sống, học để
làm người”. Từ đó xác định nội dung cần thiết : giáo dục dân số, giáo dục bình đẳng
chất của hành động của các em vẫn chủ yếu là học tập hoặc bắt chước ở người khác
là nhiều. Do vậy lấy thực tiễn cuộc sống để nêu gương đạo đức theo phương pháp
“gạn đục khơi trong” đồng thời áp dụng hoạt động trải nghiệm KTLM thông qua
BTDA là việc rất tiện ích và khoa học trong việc giúp các em tự chuẩn hóa hành vi
sống sao cho phù hợp với chuẩn mực của cộng đồng.
1.3. Ưu điểm của mô hình dạy học phần II lớp 10 theo chủ đề “nghĩa vụ công
dân” dưới dạng trải nghiệm KTLM thông qua BTDA
Cần khẳng định đây là một mô hình dạy học tích cực. Nếu đặt ra vấn đề của
giáo dục hôm nay nói chung và của môn GDCD phần II lớp 10 nói riêng : làm thế
nào để nội dung kiến thức trở nên hấp dẫn và có ý nghĩa trong cuộc sống? Làm thế
nào để học tập phải nhắm đến mục đích phát huy năng lực (ví dụ năng lực ứng biến
và thích nghi), rèn kỹ năng giải quyết vấn đề đặc biệt những vấn đề thực tiễn đang
đặt ra? Có phải cứ dạy “nhoài mình” theo kiến thức từng bài SGK đã viết thì học
sinh mới hiểu và vận dụng được kiến thức? Làm thế nào để nội dung chương trình
phần II lớp 10- môn GDCD luôn cập nhật được những kiến thức mới trước sự bùng
nổ như vũ bão của thông tin để kiến thức của việc học và dạy học phần này thực sự
là thế giới mới cho người hoc? Câu trả lời có khá đủ trong dạy học theo mô hình tôi
đang đề cập. Có thể nhận rõ một số ưu điểm khi thực hiện sáng kiến này như sau:
- Các nhiệm vụ học tập được giao, học sinh quyết định chiến lược học tập với
những hướng dẫn hỗ trợ, hợp tác của giáo viên( học sinh là trung tâm)
- Hướng tới những mục tiêu: chiếm lĩnh nội dung kiến thức khoa học, hiểu biết tiến
trình khoa hoc , bồi dưỡng GTS, rèn luyện các KNS xã hội cần
- Kiến thức thu được là các nội dung có liên hệ mạng lưới với nhau
- Trình độ nhận thức của học trò có thể đạt được ở mức độ cao: phân tích, tổng hợp,
đánh giá…
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-16-
khác: QPAN, Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa Lý, Tiếng Anh. Ví dụ như Bài 14: công dân
với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nội dung “ lòng yêu nước” liên môn
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-17-
với môn Lịch Sử: Chuyên đề: Nguyễn Ái Quốc, hoặc môn Văn học: Tập thơ “Nhật
ký trong tù”- của Hồ Chí Minh, có bài:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
(Rằm tháng riêng)
Hoặc trong tình yêu quê hương đất nước luôn gắn với tình yêu đôi lứa:
Anh yêu em như yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi chặng đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn…
Hoặc những bài luận trong môn Tiếng Anh có nội dung nói về tình yêu quê hương
đất nước…..
Bước 2: tự đọc- nghiên cứu chủ đề lớn thông qua bốn chủ đề vệ tinh kết hợp
liên môn và cuốn sách cuộc sống ( nếu cần thiết có thể hỗ trợ thêm bằng xem
phim, video, âm nhạc…có trong đĩa kèm theo)
Để làm sáng lên chủ đề lớn bao trùm kiến thức của toàn bộ 7 bài học của phần
này là “nghĩa vụ công dân”, giáo viên có thể triển khai chủ đề lớn này thành các chủ
đề “vệ tinh”, và sẽ có 4 chủ đề vệ tinh tương ứng với 4 trụ cột trách nhiệm của một
công dân Việt Nam ( trách nhiệm đối với chính mình; với gia đình; với xã hội; với
đất nước). Sau đó giáo viên hướng dẫn học trò tìm hiểu- đọc theo các chủ đề vệ tinh
Gia đình là nơi cho ta tất cả mà không đòi hỏi bất cứ điều gì….
Hãy yêu thương gia đình mình nhiều nhất bởi đó chính là món quà tuyệt vời nhất
mà thượng đế ban tặng cho mỗi chúng ta.”
Giáo viên chuẩn hóa: gia đình là nơi sớm tối ta đi về gắn với dậu mùng tơi,
con đường làng, với ngõ nhỏ, với triền đê quanh co, uốn mình ôm ấp lấy quê
hương…Bởi thế cho nên, yêu gia đình là tiền đề của tình yêu Đất nước bền vững
trong trái tim mỗi người con đất Việt. Có thể hát, cho học sinh hát để cùng tĩnh tâm
cảm nhận bài hát Quê hương của Đỗ Trung Quân:“quê hương là chùm khế ngọt…
mỗi người chỉ một mẹ thôi…quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành
người”
* Về chủ đề vệ tinh thứ ba- Trách nhiệm của công dân với xã hội: học sinh đọc tìm
hiểu- nghiên cứu những nội dung sau:
Bài 13: Công dân với cộng đồng
Bài 14: Công dân với các vấn đề cấp thiết của nhân loại
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-19-
Giáo viên đề nghị các em làm việc nhóm, liệt kê các trách nhiệm chính của bản
thân chúng ta với cộng đồng xã hội? Đồng thời làm rõ tại sao cần thực hiện các
trách nhiệm đó?
Giáo viên chuẩn hóa: sống nhân nghĩa hòa nhập hợp tác, kiềm chế bùng nổ dân số,
bảo vệ môi trường, kiềm chế bệnh dịch…
* Về chủ đề vệ tinh thứ tư- trách nhiệm của công dân với đất nước
Giáo viên hướng dẫn các em đọc hiểu tìm tòi nghiên cứu theo nhóm nội dung:
Bài 14: công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Giáo viên đề nghị các em liệt kê những trách nhiệm của mỗi công dân Việt
Nam với Đất nước hiện nay là gì? Tại sao phải thực hiện những trách nhiệm này?
Sau bốn tháng thực hiện, sẽ tiến hành tổng kết bài tập trong một tiết hội thảo,
có thể tích hợp trong bài kiểm tra thành những câu hỏi cụ thể:
- Cảm xúc sau khi trải nghiệm BTDA: đi tìm thiên thần của bạn?
- Em có tìm thấy thiên thần của mình không?
- Nếu có tìm thấy thì kỹ năng sống ở đây là gì ?
- Bài học kinh nghiệm nào được rút ra để vận dụng trong phát
triển và xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp ?
- Sống như thế nào là sống Đẹp ?....Làm gì để hoàn thiện bản thân toàn diện?
BTDA thứ hai là : Chúng ta có một tuần để trải nghiệm quan sát thêm những câu
chuyện về tình yêu nam nữ trong cuộc sống, sau đó mỗi nhóm tự thiết lập một bài
báo với chủ đề: “ yêu trong sáng” hoặc “Tình yêu học trò- những điều nên tránh”
( khuyến khích minh họa hình ảnh thẩm mỹ lành mạnh, châm ngôn, ngạn ngữ, thơ
ca, có thể sử dụng ngôn ngữ khác: Tiếng Anh)
Giáo viên đưa ra vấn đề có tính gợi ý và đây cũng là những câu hỏi chia sẻ trong tiết
hội thảo trên lớp khi thực hiện xong BTDA để chuẩn hóa cho học trò ví dụ: có thể
tiếp cận từ kiến thức về giới trong môn Sinh học:
+ SEX là gì? SEX có cần gắn với tình yêu chân chính? Tại sao?
+ Tình yêu chân chính biểu hiện như thế nào?
+ Có nên yêu sớm ở tuổi học trò ? Nên làm gì khi tình yêu đến khi các em còn ngồi
trên ghế nhà trường ?
+ Có nên yêu nhiều người một lúc? Có nên tình dục trước hôn nhân?
Giáo viên sau cùng phải chốt lại sau tất cả những chia sẻ của học trò: trách
nhiệm mỗi chúng ta cần xây dựng cho mình một tâm hồn đẹp, lối sống đẹp. Khi một
ngày tình yêu đến, nên suy nghĩ thật thấu đáo và cần được tư vấn để ra quyết định
đúng, nhất là không tình dục trước hôn nhân. Vấn đề đó thực chất là yêu có văn hóa,
trong sáng lành mạnh, không vội vã vì tình yêu không phải là cái bằng lái xe 18 tuổi
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-21-
nhạc phẩm rất ý nghĩa về GTS& KNS mang tên: “về đây nghe em”- có trong đĩa
kèm theo.
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-22-
BTDA thứ tư: Chúng ta có một tuần sử dụng kỹ năng hòa nhập và hợp tác nhóm để
cùng trải nghiệm thêm những câu chuyện về lòng nhân ái ( yêu thương), đồng thời
liên hệ với các môn học( Văn học) để thiết lập một bài luận về chủ đề này( khuyến
khích viết hoặc thuyết trình bằng Tiếng Anh, có tranh ảnh, châm ngôn…minh họa)
Tương tự BTDA trên giáo viên cũng tiến hành chuẩn hóa và đánh giá cho điểm và
tặng quà ví dụ những cuốn sổ tay nhỏ xinh cho nhóm tốt nhất. Trên thực tế lớp học
10A10 sau khi nhóm chia sẻ sự trải nghiệm của nhóm về chủ đề “ lòng nhân ái”, cả
lớp đều thấy ý nghĩa và thiết thực của những kinh nghiệm về kỹ năng giải quyết
những rắc rối trong đối nhân xử thế mà nhóm đưa ra rất quý với mỗi người; tôi đã
tặng cho nhóm những cuốn sổ tay với những chiếc thẻ giá trị sống ý nghĩa khiến
cho cả lớp đều háo hức học tập theo mô hình này. ( minh họa phần phụ lục)
*Chủ đề vệ tinh thứ hai: trách nhiệm đối với gia đình
BTDA 1:
Chúng ta có một tuần để trải nghiệm thêm những câu chuyện theo chủ đề “gia đình
của bạn”, sau đó tự chọn nhóm làm việc, mỗi nhóm sẽ sử dụng vốn sống, các kỹ
năng sưu tầm xử lý thông tin cần thiết để lập một bản đồ tư duy về chủ đề này.
Giáo viên sẽ cho nhóm tốt nhất thuyết trình trong tiết hội thảo và chuẩn hóa
thêm nội dung theo những câu hỏi sau: có thể kết hợp đưa ra một số câu hỏi dẫn dắt
hài hước:
+ Tại sao khi đi học về em luôn đi về nhà mình mà không đi về nhà bác hàng xóm?
Mỗi chúng ta đều có một gia đình của riêng mình được xác lập bởi cơ sở đầu tiên là
quan hệ hôn nhân? Vậy ngay từ khi yêu chúng ta cần phải làm gì để hướng tới việc
hạnh” để mai này hoàn thành tốt nhất vai trò trong tổ ấm của riêng mình…”.
*Chủ đề vệ tinh thứ 3: trách nhiệm của công dân với xã hội
BTDA1:
Hãy tự chọn nhóm của mình làm việc trong một tuần, mỗi nhóm sẽ sử dụng kiến
thức tương đồng ở môn Địa lý ( thông tin, số liệu, hình ảnh, bảng biểu…) để tạo
nên một bài luận về chủ đề: tương quan “dân số -tài nguyên – môi trường”- vấn đề
cấp thiết hôm nay.
Ngoài ra mỗi nhóm sẽ sử dụng rác thải quanh mình để tạo ra một sản phẩm hữu
dụng. Viết một bài luận ngắn khoảng ¼ trang giấy (khuyến khích bằng Tiếng Anh)
để thuyết trình về sản phẩm ở trên lớp, chia sẻ cảm xúc, sáng kiến bảo vệ môi
trường?
Trên thực tế một số lớp học sinh lớp 10 mặc dù rất nghịch ngộ nhưng các em lại
hoàn thành rất tốt BTDA này vì nó đang là những vấn đề nóng cả xã hội quan tâm.
Nhiều nhóm có sản phẩm hữu dụng từ rác, nhiều em thuyết trình tốt, tự tin chững
chạc lên nhiều khi đứng trước đám đông. Riêng BTDA này có thể sử dụng cho cả
lớp 11, khi dạy tích hợp các bài “Chính sách dân số và giải quyết việc làm” và
Giáo viên: Vũ Thị Nội - Trường THPT Xuân Trường- Nam Định
-24-
“Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường”, các em tiến hành hiệu quả hơn tôi
nghĩ rất nhiều. Có những em thuyết trình về sản phẩm hoàn toàn bằng Tiếng Anh
như một phiên dịch viện tài giỏi. Cụ thể trong vi deo minh họa kèm theo
Để khích lệ học sinh, giáo viên nên đánh giá bằng điểm số, khen ngợi khi các em
làm tốt, kết hợp với những phần quà nhỏ, đáng yêu cho nhóm có sản phẩm hữu
dụng nhất, nhóm thuyết trình tốt nhất.
Một số câu hỏi chuẩn hóa thêm cho học sinh sau khi các em thuyết trình:
+ Cảm xúc của em sau khi thực hiện BTDA này?