Sự khác biệt và quá trình trở lại quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề
dân tộc và giai cấp từ 1930-1941
MỞ ĐẦU
Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề giai cấp và dân tộc trong tư tưởng
Hồ Chí Minh là mối quan hệ cơ bản và có tác động mạnh mẽ đối với công cuộc
giải phóng dân tộc cũng như sự phát triển của toàn xã hội. Nhìn lại lịch sử dân tộc
ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển mau lẹ và phức tạp của tình
hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và giai cấp. Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tế, cả
trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó khăn của hoà bình xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Nghiên cứu sự hình thành những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về
vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam, chúng ta thấy rõ đó là quá
trình Người tìm tòi con đường giải phóng dân tộc, đến với chủ nghĩa Mác- Lênin,
hoạt động ở nước ngoài với tư cách một cán bộ có uy tín của Quốc tế Cộng sản.
Đó cũng là quá trình Người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, đào tạo
cán bộ và phấn đấu cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng cộng sản
Việt Nam ra đời, các văn kiện như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt... do
Người khởi thảo và được Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) thông qua đánh dấu
việc Người và Đảng ta xác lập những tư tưởng, quan điểm đường lối cách mạng
Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ ra rằng khi nào và ở đâu, vấn đề
giai cấp và dân tộc không được kết hợp một cách đúng đắn; quan điểm giai cấp và
dân tộc được vận dụng một cách cứng nhắc, giáo điều hoặc bị coi nhẹ thì ở đó
cách mạng sẽ không chỉ gặp khó khăn mà thậm chí còn bị tổn thất nặng nề. Qua
đó, chúng ta có thể rút ra được bài học trong việc vận dụng xem xét vấn đề giải
cấp, đấu tranh giai cấp và mối quan hệ của chúng với vấn đề dân tộc trong tình
hình hiện nay và trong giai đoạn sắp tới của thời kì quá độ khi mà nền kinh tế nước
nhà phát triển mạnh mẽ theo hướng thị trường và hội nhập quốc tế, sự phát triển
chắc chắn sẽ đem lại cho chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng kéo theo không ít
những nguy cơ, thách thức cũng như muôn vàn khó khăn.
Nam Á, Người trở lại Hồng Kông (khoảng cuối tháng 5-1930). Nguyễn Ái Quốc
tiếp tục theo dõi và chỉ đạo tình hình cách mạng Việt Nam. Trong tháng 4-1931,
Người hai lần gửi thư cho Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương và sau đó (6-6-1931) Người bị cảnh sát Anh bắt ở Hồng Kông. Sau hơn hai
năm bị giam cầm, quản thúc, Người được trả tự do và trở lại Liên Xô vào khoảng
đầu 1934.
Là một cán bộ có năng lực, vừa thoát khỏi
ngục tù đế quốc, trở lại quê
hương của Cách mạng tháng
Mười nhưng lại không được giao nhiệm vụ theo nguyện vọng của Người. Năm
1934, tháng 10, với bí danh Liu, Nguyễn Ái Quốc vào học Trường Quốc tế Lênin.
Đến cuối 1936, Người trở thanh nghiên cứu sinh của Viện nghiên cứu các vấn đề
dân tộc và thuộc địa. Tình hình đó kéo dài cho tới tháng 6-1938 khi Người viết lá
thư trên đây, nói rõ tâm trạng, nguyện vọng của mình và đề nghị được hoạt động,
được trở về Tổ quốc. Tại sao Người lại có bức thư với nội dung không bình thường
gửi Quốc tế Cộng sản và tại sao Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương đã đề nghị Người là đại biểu, nhưng lại không được chính thức tham dự
Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản? Điều đó bắt nguồn từ những quan điểm “tả”
khuynh “biệt phái” của Quốc tế Cộng sản đối với phong trào công nhân và trong
những vấn đề chiến lược và sách lược, quan điểm về mối quan hệ dân tộc và giai
cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
mạng tháng Mười Nga thành công mở ra thời đại mới và cục diện cách
Cách
mạng mới, đòi hỏi phải có một tổ
Quốc tế Lênin, Viện Nghiên cứu vấn đề dân tộc và thuộc địa, v.v... đã đào tạo cho
các đảng cộng sản nhiều cán bộ có năng lực, có cống hiến xuất sắc. Nhiều đồng chí
đã trở thành lãnh tụ của các đảng cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên
công lao và cống hiến của Quốc tế Cộng sản sẽ to lớn hơn nhiều nếu như không có
tệ giáo điều, biệt phái trong phương pháp tiếp cận tình hình nhiệm vụ và các bước
phát triển của cuộc cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc bài học về
sự phản bội của những người cực hữu trong Quốc dân Đảng Trung Quốc (4-1927),
đường lối, chủ trương “Quốc - Cộng hợp tác” của Đảng Cộng sản Trung Quốc
(và của Quốc tế Cộng sản) v ớ i chính phủ T ôn Dật Tiên thất bại đã gây
một sức ép tâm lý rất lớn đối với Ban lãnh đạo Quốc tế Cộng sản. Thêm vào đó, sự
phát triển và ảnh hưởng của việc tuyên truyền học thuyết bất bạo động của Găng đi
và Đảng Quốc đại Ấn Độ đã gây nên cách nhìn và sự đánh giá phiến diện đối với
vai trò của giai cấp tư sản dân tộc trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa.
Cũng phải kể tới một thực tế là do Quốc tế Cộng sản không đánh giá đúng
tình hình thực tiễn của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc,
đề cao khẩu hiệu “giai cấp chống giai cấp”, giành bá quyền lãnh đạo lập tức cho
giai cấp vô sản, thực hiện trực tiếp các nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa,... là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những sai lầm và hạn chế trong
chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa
và phụ thuộc.
Trong khi đòi hỏi các đảng cộng sản phải có sự chủ ý đến những điều kiện cụ
thể, đặc thù về kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm dân tộc và tình hình phân hoá
giai cấp ở các quốc gia khác nhau để đề ra những biện pháp thích hợp thì với
phương châm nhất thể hoá, Quốc tế Cộng sản lại thường đòi hỏi các đảng cộng sản
cộng sản ở các nước thuộc địa phải tùy theo từng trường hợp cụ thể
mà nghiên cứu cẩn thận ảnh hưởng đặc biệt của yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định
phần lớn tính chất độc đáo của cách mạng, phải hết sức chú ý tới điểm ấy trong
sách lược của các đảng cộng sản, thì Quốc tế Cộng sản lại cường điệu mặt hạn
chế, tính tiêu cực của các giai tần g không phải vô sản, nhất là đối
với tư sản dân tộc. Phân tích thành ph ần các lực lượng cách
mạng ở các nước thuộc địa, Đại hội VI Quốc tế Cộng sản cho
rằng ở các nước đó giai cấp tư sản dân tộc không có ý nghĩa là một l ực lượng đấu
tranh chống chủ nghĩa đế quốc, nhưng lập trường đối lập mang tính chất cải lương
tư sản lại có ý nghĩa thực tế hơn nữa lại có ý nghĩa tiêu cực.
Lạc quan với tình hình phát triển ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, Đại hội
VI Quốc tế Cộng sản đưa ra chủ trương: ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa phải
“tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ phản đế và phản phong”, phải chuẩn bị việc
thành lập chính quyền công nông theo mô hình Xô Viết, triệt để giải quyết chính
sách ruộng đất. Trong khi nhấn mạnh vai trò chủ lực cách mạng là công nông,
Quốc tế Cộng sản (Đại hội VI) nêu ra chủ trương không sát hợp với sự phân hoá
giai cấp mang tính đặc thù ở từng nước, không thấy hết khả năng lực lượng của các
giai cấp, tầng lớp không vô sản. Đối với tư sản dân tộc, phú nông, Quốc tế Cộng
sản quán triệt “không bao giờ được liên minh với họ”; đối với tiểu tư sản, Quốc tế
Cộng sản cho rằng không nên cường điệu khuynh hướng cách mạng của giai cấp
tiểu tư sản thành thị, lại càng không nên xem những phần tử ít cách mạng nhất tầng lớp tiểu thương như là động lực cách mạng, Có thể nói Đại hội VI Quốc tế
Cộng sản (1928) là đại hội phong phú những giá trị lý luận về chính sách phương
Đông, nhưng cũng chứa đựng những sai lầm “tả” khuynh biệt phải tai hại, một đại
hội chi phối tới cách mạng của nhiều dân tộc phương Đông.
Từ đầu những năm 20, được V.I. Lênin trực tiếp lãnh đạo, Quốc tế Cộng sản
đã có những điều chỉnh quan điểm về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa
điều chỉnh không còn tác dụng khi Đảng Cộng sản (B) Liên Xô tiến hành
cuộc thanh trừng nội bộ rộng lớn, đã động chạm tới nhiều nhà lãnh đạo các đảng
cộng sản nước ngoài đang làm việc trong các cơ quan của Quốc tế Cộng sản. Chế
độ tập trung hoá một cách thái quá vào vai trò của những người lãnh đạo Quốc tế
Cộng sản trong những năm 30 đã chuyển quan hệ giữa Đảng Cộng sản Liên Xô
với các đảng chi bộ của Quốc tế Cộng sản thành quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo. Không ít
trường hợp một cán bộ được Quốc tế Cộng sản ủy nhiệm về các chi bộ thì coi như
mặc nhiên, họ được ban một quyền lực to lớn, thậm chí phủ quyết cả nghị quyết
của một đảng và trở thành những viên thanh tra đứng trên các chi bộ của Quốc tế
Cộng sản. Vì không thực sự am hiểu tình hình thực tế ở các nước, các khu vực mà
họ đến, trong nhiều trường hợp, họ không lắng nghe ý kiến, không nghiên cứu kỹ
các quan điểm chiến lược, sách lược của các nhà lãnh đạo các đảng ở các nước đó,
dẫn đến việc chỉ đạo dập khuôn, giáo điều trong việc thực hiện chỉ thị nghị quyết
của Quốc tế Cộng sản và do đó, sự tổn thất của phong trào cách mạng chung là
khó tránh khỏi.
1.2 Nội dung của sự khác biệt
Một thực tế lịch sử đã diễn ra là phong trào cách mạng Đông Dương được
chính V.I. Lênin quan tâm từ nhiều năm trước khi Quốc tế Cộng sản ra đời.
Trong khoảng từ năm 1908 đến năm 1916, V.I. Lênin đã ba lần đề cập đến tình
hình Đông Dương và cái tên “An Nam” xuất hiện trong Tuyên ngôn của Quốc tế
Cộng sản ngay từ khi mới thành lập rất có thể do ý định của Người. Nhờ các hoạt
động của Nguyễn Ái Quốc những năm 1923-1924, với bản tham luận của đồng chí
Nguyễn Văn Tạo tại Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, cùng sự chuyển biến tình hình
cách mạng Việt Nam khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập... Chiếc cầu nối
Quốc tế Cộng sản Đông Dương đã hình thành.
Từ tháng 10-1929, Ban Phương Đông trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế Cộng
sản đã có một cuộc họp để nghiên cứu về tình hình Đông Dương với sự tham gia
của các cán bộ có tên tuổi như P. Míp, B. Vaxiliêva... và đã gửi tới Ban chấp hành
mạng ruộng đất, nhất định nó s ẽ nhảy sang hàng ngũ
phe phản cách mạng. Song lẽ điều đó không gạt bỏ khả
năng một vài tầng lớp nào đó của giai cấp tư sản đang muốn đứng ra lãnh đạo
phong trào giải phóng dân tộc. Nhưng họ làm như th ế là để phá hoại
phong trào, phản bội cách mạng. Chính phải căn cứ vào nhân tố đó để quyết định
lập trường của chúng ta đối với giai cấp tư sản.
Với giai cấp địa chủ, không phân biệt, Quốc tế Cộng sản
nhận định là họ đã cấu kết chặt chẽ với chủ nghĩa đế quốc Pháp, không
những về kinh tế mà còn liên minh cả về chính trị. Vì vậy: Sức mạnh chủ yếu và
mũi dùi chủ yếu của cách mạng phải nhằm vào bọn đế quốc, bọn địa chủ và bè lũ
quan lại phong kiến... phải tịch thu không bồi thường ruộng đất của địa chủ.
Với tầng lớp phú nông; nhất là ở Nam kỳ, Quốc tế Cộng sản yêu cầu phải
“khai thác đầu óc chống đối” chủ nghĩa thực dân Pháp ở họ, nhưng "không bao
giờ được liên minh với họ. Từ những nhận định, đánh giá
trên đây, Quốc tế Cộng sản đã chỉ thị: nhiệm vụ của
những người cộng sản Đông Dương là chỉ có đồng thời đấu tranh
giành ruộng đất và giải phóng dân tộc mới có thể làm cho đông đảo quần chúng trở
nên cấp tiến, đẩy mạnh ý chí chiến đấu của họ và đưa họ đến thắng lợi. Về tính
chất của cách mạng Đông Dương, chỉ thị khẳng định: Cách mạng Đông Dương
phải là và sẽ là một cuộc cách mạng ruộng đất và phản đế và chính giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân mới là những động lực chủ yếu.
Từ sự phân tích những quan điểm trên đây của Quốc tế Cộng sản, đối chiếu
với những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc nêu trong các văn kiện của Hội nghị
thành lập Đảng, chúng ta thấy rõ ràng là có sự khác biệt.
Vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và Nghị quyết
của Quốc tế Cộng sản (Đai hội VI), khi dự thảo các văn kiện Chính cương vắn tắt
và bảo đảm quyền lãnh đạo của đảng của giai cấp công nhân.
Tuy nhiên sau Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc tế cộng
sản đã cho rằng những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc đã trái với tinh thần quan
điểm Nghị quyết Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản; là “dân tộc chủ nghĩa”, phạm
hữu khuynh. Nếu đặt trong hoàn cảnh Quốc tế Cộng sản khi đó với quan hệ thiếu
bình đẳng giữa các đảng cộng sản trong Quốc tế Cộng sản, với thái độ xử lý
những bất đồng quan điểm theo hình thức đối kháng, áp đặt và đôi khi
thô bạo của Xtalin, có những lãnh tụ cộng sản đã bị xử lý như thù dịch, có đảng
cộng sản bị giải tán (Đảng Cộng sản Ba Lan bị Quốc tế Cộng sản giải tán năm
1938), chúng ta có thể thấy khá rõ nguyên nhân của tình cảnh và tâm trạng của
Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1934-1938 mà Người đã mô tả trong bức thư
ngày 6-6-1938.
Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, khoảng tháng 3, tháng 4-1930, đồng chí
Trần Phú - đại biểu của những người cộng sản Đông Dương vừa dự Đại hội VI
Quốc tế Cộng sản và tốt nghiệp Đại học Phương Đông khẩn trương về nước tham
gia Ban chấp hành Trung ương Đảng. Trước khi rời Mátxcơva, Vaxilôva, Trưởng
phòng Đông Dương đã trao đổi với đồng chí Trần Phú về tài liệu của Đại hội I Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tuyên ngôn của Đông Dương cộng sản Đảng
vừa thành lập (6-1929) với bút tích ghi đậm những chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản.
Từ sự hướng dẫn ấy, đồng chí Trần Phú đã dự thảo Luận cương chính trị của
Đảng Cộng sản Đông Dương theo quan điểm Đại hội VI Quốc tế Cộng
sản và triệu tập Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Hội nghị được tiến hành tháng 10-1930 tại Hương Cảng do đồng chí Trần Phú chủ
trì và đã thông qua “Luận cương chính trị 1930” và “Án nghị quyết của
Trung ương toàn thể hội nghị nói về tình hình hiện tại ở Đông
Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 đã đi đến quyết nghị: Thủ t i ê u Chánh
cương, Sách lược và Điều lệ cũ, lấy kinh nghiệm trong thời kỳ vừa qua mà thực
hiện công việc cho đúng như Án nghị quvết và thư, chỉ thị c ủa Quốc tế
Cộng sản. B ỏ t ê n “Việt Nam Cộng sản Đảng” mà lấy tên “Đông Dương
Cộng sản Đảng”; Đem Án nghị quyết của Quốc tế, chánh sách và kế hoạch của
Đảng mà thảo luận cho khắp trong Đảng, lấy đó làm căn bản mà chỉnh đốn
nội bộ, làm c h o Đ ả n g B ô n s ê V í c h h o á . . . . Cho tới nay, với những
tài liệu hiện có, chúng ta được biết thêm sự phê phán những quan điểm của
Nguyễn Ái Quốc còn tiếp tục trong những năm sau đó.
Năm 1933 đồng chí Hà Huy Tập, người đã tốt nghiệp Đại học Phương Đông
của Quốc tế Cộng sản, với cương vị là một trong những người lãnh đạo chủ chốt
của Đảng Cộng sản Đông Dương (lấy bút danh Hồng Thế Kông) đã biên sọan
“Lược khảo l ị c h sử phong t r à o c ộ n g sản Đ ô n g D ư ơ n g ” . Tuy
vẫn ghi nhận công lao, cống hiến của Nguyễn Ái Quốc, song tài liệu này
cũng phê phán những quan điểm của Người và Hội nghị hợp nhất.
Nguyễn Ái Quốc vận dụng sáng tạo học thuyết của Lênin vào cách mạng giải
phóng dân tộc ở Việt Nam với những đặc điểm riêng về kinh tế, sự phân hoá giai
cấp, truyền thống lịch sử... Người đã thành công trong quá trình truyền bá chủ
nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng
và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và là người sáng lập
Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xây dựng và tổ chức cho
cách mạng Việt Nam, trên đất nước Việt Nam, vì vậy trước hết Đảng ấy phải
mang tính chất và đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam và đồng thời nó
cũng mang bản chất quốc tế trong sáng. Như Người đã nói: Cái từ Đông Dương rất
rộng và theo nguyên lý chủ nghĩa Lênin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm
túc, người ta không thể bắt buộc dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế
đế của tư sản dân tộc. Lịch sử đã cho chúng ta một độ lùi cần thiết để thấy rõ hơn
giá trị lý luận, thực tiễn và những hạn chế trong các văn kiện của Đảng trong
những năm 1930-1935.
2. Hội nghị Trung ương VI (11-1939), Hội nghị Trung ương VII (11-1940)
và sự trở lại với những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị thành lập
Đảng (2-1930).
2.1 Sự phấn đấu của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Đông Dương
trong những năm 1930-1938 nhằm từng bước trở lại với quan điểm của Hội
nghị thành lập Đảng
Khoảng giữa những năm 30, họa phát xít và nguy cơ chiến tranh đang đe doạ
loài người, phong trào chống chiến tranh, chống chủ nghĩa phát xít lên cao;
nguyện vọng của giai cấp công nhân nhiều nước là thống nhất hàng ngũ giai cấp
công nhân quốc tế, động viên và đoàn kết tất cả các lực lượng dân chủ, hoà bình và
tiến bộ vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hoà bình. Quốc tế
Cộng sản họp Đại hội lần thứ VII trong hoàn cảnh đó. Trên cơ sở tổng kết
những bài học kinh nghiệm cách mạng quốc tế, Đại hội nhận định: kẻ thù trước
mắt của nhân dân thế giới lúc này không phải là chủ
nghĩa tư bản hay chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là
chủ nghĩa phát xít; nhiệm vụ trước mắt của giai cấp
công nhân chưa phải là đánh đổ chủ nghĩa tư bản để thiết
lập chuyên chính vô sản, để xây dựng chủ nghĩa xã hội mà là đấu tranh chống chủ
nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và hoà bình. Như vậy là tinh
thần quyết nghị của Đại hội đã mặc nhiên công nhận sự đúng đắn của
những quan điểm mà Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam (2-1930) đã nêu lên. Nhà sử học Xô Viết Épghènhi Cabèlép nhận định: Đối
với Nguyễn Ái Quốc và các bạn chiến đấu của Người, Đại hội VII đặc biệt quan
trọng ở chỗ: Đại hội đã bác bỏ luận điểm tả khuynh trước đây cho rằng cần
thời có những ý kiến quý báu, xác thực và đúng đắn góp phần cùng Trung ương
Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. 18-2-1930, trong Báo cáo gửi
Quốc t ế C ộ n g s ả n , Người khẳng định, việc Người triệu tập
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là “với tư
cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề
liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương ”; “Cương lĩnh
và chiến lược” mà Hội nghị xác định là “theo dường lối của Quốc tế Cộng sản”.
Điều cần phải khẳng định là chính hoàn cảnh phức tạp trong quan hệ như trên tinh
thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của Nguyễn Ái Quốc càng thể hiện rất cao.
Vào cuối những năm 20 đầu những năm 30, những diễn biến của tình hình quốc tế
như sự phát triển của phong trào công nhân châu Âu với sự ra đời của Xô viết
Hunggari, Xô viết Bavie (Đức); sự phản bội của Quốc dân Đảng Trung Hoa, hợp
tác Quốc Cộng lần thứ nhất tan vỡ và cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng Cộng sản
Trung Quốc xung quanh vấn đề đường lối đang diễn ra gay gắt; Đảng Quốc Đại
Ấn Độ đang rầm rộ với cuộc vận động “Bất bạo động”, Đại hội VI Quốc tế Cộng
sản... đã tác động tới tình hình chính trị ở nhiều nước. Nét đáng ghi nhận ở những
sự kiện lớn trên đây là ở chỗ, khi đó cuộc đấu tranh giai cấp đang diễn ra rất gay
gắt, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng
sản có khuynh hướng “tả” rõ nét; khi đó đường lối cách mạng cho các dân tộc bị
áp bức mới được hình thành về cơ bản, đang cần được bổ sung, hoàn chỉnh. Trong
quá trình bổ sung đó, nhiều tổ chức đảng ở các nước đã chịu tác động đáng kể và
không phải không có đảng mắc sai lầm. Nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc lại là
trường hợp khác. Ngay từ khi đào tạo ở tại Quảng Châu, với các văn kiện của Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên, cuốn “Đường cách mệnh” và sau này trong các
văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng, Người đã “không mắc
khuyết điểm”. Với hai luận điểm cực kỳ quan trọng là: yếu tố dân
đề dân tộc và giai cấp trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
mới dần từng bước trở lại với những quan điểm mà Nguyễn Ái Quốc và Hội
nghị thành lập Đảng đã xác định.
Như vậy những quan điểm và chỉ đạo thực tiễn của Đảng Cộng sản Đông
Dương về vấn đề dân tộc và giai cấp trong thời gian từ 10-1930-1938 được thể
hiện cơ bản như sau:
Từ tháng 10-1930 đến 1935: về cơ bản tư tưởng quan điểm chỉ đạo theo
tinh thần Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, vai trò của Nguyễn Ái Quốc có phần bị coi
nhẹ. Các văn kiện của Đảng cho thấy các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng
Cộng sản Đông Dương ở một chừng mực nhất định có bước thụt lùi và chừng nào
trái với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc và của Hội nghị thành lập Đảng thể hiện ở
những điểm chính sau:
- Đảng xác định cách mạng Việt Nam là cách mạng dân chủ tư sản kiểu
mới, do giai cấp vô sản lãnh đạo.
- Cuộc cách mạng ấy có hai nhiệm vụ là: đánh đuổi đế quốc thực dân
Pháp và tay sai giải phóng dân tộc; đánh đổ phong kiến, thực hiện người cày có
ruộng. Hai nhiệm vụ này tiến hành đồng thời và triệt để (tịch thu tất cả ruộng đất
của địa chủ không phân biệt); coi trọng đấu tranh giai cấp, chủ trương lập chính
quyền xô viết công nông binh, các tổ chức quần chúng lấy tên “đỏ” (Công Hội đỏ,
Nông Hội đỏ, Tự vệ đỏ).
- Đảng đổi tên là Đảng C ộ n g sản Đông D ư ơ n g và chủ
trương “Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận dân tộc tự quyết;
nền độc lập trong khuôn khổ chung toàn Đông Dương.
- Về lực lượng cách mạng: công nông là gốc, là chủ lực; đánh giá thấp vai
trò tiểu tư sản, trung nông; chủ trương không liên minh với phú nông, địa chủ, tư
sản dân tộc.
hoà bình, chống chiến tranh, chống phát xít. Những bài báo đó đã có tác dụng
lớn đối với Đảng ta và với các tầng lớp nhân dân, nhất là lớp trí thức. Mặc dù
chưa về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Nguyễn Ái Quốc vẫn có những ý kiến
đóng góp vào việc bổ sung đường lối của Đảng lãnh đạo thời kỳ Mặt trận dân chủ.
“Những chỉ thị” mà Người nhớ lại và đã “truyền đạt” nói rõ : Lúc này, Đảng
không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện ... ). Như thế
sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật; Muốn đạt được mục đích trên phải ra sức
tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi. Mặt trận ấy không những chỉ có người
Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không
những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc. Đối với tư sản
dân tộc, Đảng phải có thái độ khéo léo mềm dẻo. Phải hết sức lôi kéo họ và giữ họ
ở trong mặt trận, thúc đẩy họ hành động nếu có thể, cô lập họ về chính trị nếu cần.
Tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận...; Đối với bọn tờrốtkít, không thể có một
thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào...; Mặt trận dân chủ Đông Dương phải có liên
hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp...; Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa
nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất,
hoạt động nhất và chân thực nhất...; Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng
chống tư tưởng bè phái và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác Lênin... Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp.
Nhờ những ý kiến khoa học, sáng tạo, đúng đắn, với sự kiên trì hoạt động
không mệt mỏi, tuy chưa về nước nhưng uy tín của Nguyễn Ái Quốc với các đồng
chí trong nước rất cao. Người được Hội nghị Trung ương Đảng (29- 30.3.1938)
bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng thời Ban Chấp hành Trung ương
Đảng còn đề nghị với Quốc tế Cộng sản giúp đỡ để Nguyễn Ái Quốc về Trung
Quốc “mở một ban huấn luyện công khai” như Người đã thực hiện những năm
1926-1927, Tại Đại hội II của Đảng (1951), một trong, những bài học lớn mà
Người rút ra trong thời kỳ Mặt trận dân chủ là: Việc gì đúng với nguyện vọng của
nhân dân thì được quần chúng nhân dân ủng hộ... Nó cũng dạy ta rằng: phải hết
của nó là mục đích tối cao của Đảng. Cội nguồn lịch sử, nguyên tắc tối cao và cơ
sở khoa học đó chính là những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, được
Nguyễn Ái Quốc vận dụng sáng tạo và khẳng định tại Hội nghị thành lập Đảng 21930.
Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940, tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh), Hội nghị
Trung ương Đảng đã được tiến hành dưới sự chủ trì của đồng chí Trường Chinh.
Hội nghị đã củng cố lại các cơ quan lãnh đạo và cử ra Ban chấp hành Trung ương
lâm thời, do đồng chí Trường Chinh là Quyền Tổng bí thư. Trên cơ sở nhận định
diễn biến của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và tình hình Đông Dương, Hội nghị
khẳng định mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Nhật Pháp ngày càng sâu sắc, “một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải
chuẩn bị gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức
Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”. Cùng với việc
khẳng định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng
dân tộc lên vị trí ưu tiên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu ruộng đất của Hội nghị
Trung ương Đảng tháng 11-1939 là đúng, những quan điểm mà Hội nghị đã
xác định như cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền tiến lên làm
cách mạng xã hội chủ nghĩa; ở giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ phản đế và phản
phong, Hội nghị nêu rõ: “Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời
tiến, không thể cái làm trước cái làm sau; việc thực hiện nhiệm vụ thổ địa (phản
phong kiến) phải có phân biệt, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa, của