1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngày nay trong thời đại nhân loại đang bước vào nền văn minh hậu công
nghiệp, hơn bao giờ hết giáo dục càng trở nên quan trọng và đã được thừa nhận là
nhân tố quyết định chủ yếu đến sự phát triển KT-XH. Đất nước ta đang bước vào
thời kỳ mới, thời kỳ mà vấn đề đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN đã và
đang rất cấp thiết và nhất là trong tình hình hiện nay vấn đề hội nhập WTO đang
cần một nguồn nhân lực có năng lực, chuyên môn thực sự góp phần quan trọng và
làm nòng cốt mở cánh cửa hội nhập thế giới. Giáo dục đại học có nhiệm vụ đào tạo
con người và những thế hệ tri thức giỏi chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng được
nguồn nhân lực cho xã hội. “Giáo dục Đại học là khâu trực tiếp tạo ra nguồn nhân
lực phục vụ CNH-HĐH nước nhà, là đòn bẩy để đảm bảo thực hiện đầy đủ và chất
lượng chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010.”
Cùng với quá trình CNH-HĐH gắn với kinh tế tri thức. Vai trò của GD-ĐT
ngày càng được nâng cao, đặc biệt giáo dục đại học. Nói đến vai trò của giáo dục là
nói đến chất lượng đào tạo thể hiện ở cơ chế quản lý, cách thức đào tạo và khâu trực
tiếp nhất là quan hệ thầy - trò trong quá trình chuyển giao tri thức. Việc xây dựng
một đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị tốt và đặc biệt là
năng lực chuyên môn cao là yêu cầu cấp bách của giáo dục đại học Việt Nam.Vì thế
vấn đề đào tạo con người phục vụ quá trình phát triển đất nước cũng như bản thân
sự tự khẳng định và tồn tại của các trường ngoài công lập trước xu thế hội nhập là
vấn đề rất quan tâm.
Trường ĐH DLDT là trường Đại học Dân lập đầu tiên được mở ở miền Trung
và đặt ở thành phố Đà Nẵng, một thành phố trẻ, năng động có một vị trí chiến lược
quan trọng và đang khởi động mạnh mẽ để trở thành một trung tâm công nghiệp
lớn, một đầu mối giao thông lớn trong và ngoài nước. Từ đó vấn đề đặt ra cho cả
nước nói chung và miền Trung nói riêng một nhu cầu tất yếu đó là làm sao tạo ra
một nguồn nhân lực thực sự chất lượng đảm bảo nhu cầu phát triển KT-XH toàn
giảng viên còn non trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, chưa phát huy
3
hết được khả năng của mỗi GV và chưa thực sự là lực lượng nòng cốt của nhà
trường, đặt biệt là còn tâm lý phân biệt giữa trường công và trường tư, điều này dẫn
đến tư tưởng cũng như tâm lý của người dạy chưa thực sự gắn bó lâu dài với
Trường.
Qua những lý do trên, với tư cách là người đang tham gia công tác tổ chức cán
bộ của trường và theo học chương trình thạc sĩ tôi mạnh dạn làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cho mình: “Các biện pháp phát triển đội ngũ GVCH của trường đại học
dân lập Duy Tân (ĐHDLDT), Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” với
mong muốn nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phù hợp nhằm phát triển đội ngũ
giảng viên cơ hữu của trường ĐHDLDT ngày càng vững mạnh đảm bảo về chất
lượng đào tạo của trường, xứng đáng là lưc lượng nòng cốt của trường trong sứ
mạng giáo dục và đào tạo của nhà trường.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng đội ngũ GVCH
của trường ĐHDLDT để đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GVCH của trường ĐHDLDT.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
3.1/ Khách thể nghiên cứu :
Hoạt động quản lý đội ngũ giảng viên cơ hữu Trường ĐHDLDT.
3.2/ Đối tượng nghiên cứu :
Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường ĐHDLDT.
4. GIẢ THIẾT KHOA HỌC:
Nếu có hệ thống biện pháp phát triển đội ngũ GV phù hợp với bối cảnh phát
triển mới của địa phương và của Trường ĐHDLDT thì trong tương lai gần Nhà
trường sẽ có đội ngũ GVCH đáp ứng yêu cầu đào tạo của Trường.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
phân tích từ năm 2004 - 2007.
8.2/ Phạm vi đối tượng khảo sát: Đội ngũ giảng viên giảng dạy và cán bộ
quản lý từ tổ trưởng bộ môn trở lên của trường ĐHDLDT trong diện cơ hữu có thời
hạn hợp đồng từ 2 năm trở lên.
5
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Luận văn gồm 03 phần chính:
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung (gồm 03 chương)
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ GVCH Trường ĐHDLDT
Chương 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ GVCH Trường ĐHDLDT
Phần III:
Kết luận và khuyến nghị
Ngoài ra còn có phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.
***
6
CH Ư ƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1/ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Theo Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết "Con tàu Việt Nam đã bắt đầu ra
khơi xa". Như vậy, điều đó đã thể hiện rằng điều kiện KT-XH của đất nước đang
của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các "lý thuyết" quản lý.
Quản lý ra đời gắn liền với hoạt động chung của nhiều người trong xã hội.
Như Các Mác đã đề cập đến thời đại công nghiệp cơ khí rằng :"như người lao động
trực tiếp trong xã hội hoặc lao động chung thực hiện trên quy mô tương đối lớn, ở
mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý ". Cùng với sự phát triển của hợp tác và
phân công lao động từ thấp đến cao, xã hội loài người đã trãi qua cuộc cách mạng
gắn liền với các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội. Trong mỗi tổ chức đó, quản lý có
vai trò kết hợp sự nỗ lực chung của mỗi người trong tổ chức và sử dụng tất cả các
nguồn lực vật chất có được để đạt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng của từng
thành viên trong tổ chức. Như vậy, nguồn gốc của quản lý là sự cần thiết kết hợp và
phối hợp hoạt động giữa các cá nhân trong xã hội, giữa con người với tự nhiên để
mang lại lợi ích mong muốn cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
+ Phnêđric Uynslau Taylo (1856 - 1915) được coi là cha để của thuyết quản lý
khoa học đã định nghĩa :"Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác
làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ
nhất".
+ Harold Koontz trong cuốn "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" cho rằng :
"Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nổ lực cá nhân
nhằm đạt được các mục đích của nhóm".
+ Theo PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc :"Hoạt động quản lý là tác động có định
hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong tổ chức nhằm
cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức".
8
Do quản lý gắn liền với mọi quá trình kinh tế - xã hội một cách chặt chẽ, gắn
với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, nên các tác giả khai thác ở từng góc độ khác nhau.
Nhưng các quan niệm này đều có điểm chung là: "Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được mục tiêu định trước".
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang "Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành
theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà
trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục
thế hệ trẻ đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất".
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc "Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp
ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày một cao".
Như vậy, quản lý giáo dục là quản lý các quá trình đào tạo, mục tiêu đào tạo,
nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo và quản lý sự phối hợp giữa các nhân tố đó
một cách có tổ chức, kế hoạch, chiến lược. Để huy động một cách tốt nhất đến tiềm
năng của giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội phát triển. Mà đối tượng quản lý ở
đây không phải đơn thuần là quản lý trong ngành giáo dục mà là sự phối hợp của
toàn xã hội đối với sự pháp phát triển con người.
1.2.1.3 - Quản lý nguồn nhân lực:
Trong tất cả các nguồn lực thì nguồn lực con người là quan trọng nhất vì nó
tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển kinh tế - văn hóa
- xã hội. Bởi vì chính thông qua hoạt động của con người các nguồn lực khác mới
có thể phát huy được tác dụng, mới có thể biến tiềm năng con người trở thành hiện
thực. Nói đến nguồn lực con người tức là nói đến những gì cấu thành khả năng,
năng lực, sức mạnh sáng tạo của con người. Nhưng điều quan trọng là chất lượng
nguồn nhân lực chứ không phải số lượng. Theo quan điểm của Đảng thì "Nguồn lực
con người là nguồn lực của mọi nguồn lực". Nguồn lực con người có trí tuệ là
nguồn lực quý giá nhất. Muốn thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thì
trước hết phải phát triển toàn diện con người. Trong nguồn lực con người là sự kết
hợp hài hoà giữa trí lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống trong các hoạt
10
động của con người. Nói cách khác "Nguồn lực con người là một tập hợp các chỉ số
12
kiện vật chất và tinh thần,v.v.... cho đội ngũ giảng viên. Do đó, giảng viên phải
không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực, tinh thông về nghề nghiệp.
1.2.2.2 -Phát triển nguồn nhân lực:
Nhân lực của xã hội bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trong mọi loại hình
công việc, theo nghĩa hẹp nhân lực là những người do các trường lớp thuộc hệ
thống giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp dạy nghề đào tạo ra.
Phát triển người gồm sự phát triển các hình thái của con người, phát triển loài
người, cá thể, cá nhân, nhân cách, nhân lực. Đó là sự phát triển chỉnh thể toàn vẹn
nhiều hình thái, nhiều giá trị, nhiều chức năng, làm gia tăng giá trị con người trên
các mặt tinh thần, thể chất, đạo đức, kinh tế, kỹ thuật, trí tuệ tình cảm, xã hội, pháp
lý,….
Quan điểm Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người phát triển toàn
diện, con người là cơ sở lý luận chủ yếu nhất. Sự tác động của nhân tố con người có
ý nghĩa qui định đến toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử, con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Phát triển người là phạm trù tâm lý – giáo dục – xã hội, phát triển nguồn nhân
lực là phạm trù kinh tế - chính trị - xã hội.
Theo quan điểm trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp
hóa - hiện đại hoá đất nước nhất mạnh các yếu tố sau:
- Cần coi trọng việc nâng cao dân trí, đẩy mạnh phương cách giáo dục nhằm
tạo nguồn cho việc đào tạo nhân lực thuộc mọi trình độ ở mọi vùng, miền.
- Kết hợp kế hoạch với chính sách và công tác giáo dục tư tưởng để đảm bảo
cung cấp nhân lực đầy đủ, kịp thời cả về số lượng và chất lượng cho mọI lĩnh vực,
mọi ngành hoạt động xã hội.
- Giáo dục và kinh tế gắn bó với nhau, tác động lẫn nhau nhằm tạo nguồn
nhân lực đáp ứng đúng và có hiệu quả các yêu cầu đa dạng của nền kinh tế trong
CNH – HĐH.
Khi nói đến “Phát triển” người ta có thể hiểu rằng đó chính là những diễn
biến, những thay đổi cơ chế về các mặt : kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị. Trong
được hết khả năng và đây chính là yếu tố cơ bản nhất giúp cho tổ chức thực hiện
được mục tiêu đã đề ra.
14
1.2.3/ Trường đại học, trường đại học dân lập.
1.2.3.1- Trường đại học:
Trong Tự điển tiếng Việt định nghĩa : đại học là “bậc học trên trung học trong
hệ thống giáo dục”.
Theo Luật Giáo dục, giáo dục đại học sẽ đào tạo hai trình độ là trình độ cao
đẳng và trình độ đại học, các cơ sở giáo dục gồm : trường cao đẳng, trường đại học.
Chính vì thế mà trường đại học là cơ sở giáo dục đạị học trong hệ thống giáo
dục quốc dân. Trong Điều 9, Điều lệ trường đại học cũng đã nêu rõ về nhiệm vụ
quan trọng nhất của trường đại học đó là “đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị,
đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình
độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc
làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan
hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
+ Về công tác quản lý các trường đại học đều có đối tượng giống nhau trong
hoạt động quản lý đó là: nhân lực, trí lực, tài lực, vật lực, sản phẩm được tiếp thị lưu
thông hay nói đúng hơn là sản phẩm làm ra được xã hội thừa nhận, sản phẩm của
trường đại học là đào tạo ra những thế hệ sinh viên ra trường được các cơ sở sản
xuất tiếp nhận sử dụng. Chính vì thế một trường đại học muốn cho sản phẩm của
mình đảm bảo chất lượng và hiệu quả sau quá trình đào tạo cần phải có cách quản
lý của mình ở từng nội dung cụ thể như :
- Quản lý đội ngũ giảng viên , cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên
của trường đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu
ngành nghề đào tạo và cơ cấu tuổi, giới tính.
- Quản lý từ khâu đầu vào tuyển sinh đến quá trình học tập của người học,
ngoài ra còn tham gia vào quá trình quản lý đầu ra đó là sinh viên ra trường được
trường dân lập (nay gọi là trường ngoài công lập):
Căn cứ trên các cơ sở đã trình bày trên trường đại học dân lập là do dân lập ra,
tự đóng góp công sức, kinh phí và cơ sở vật chất, nên trường đại học dân lập có một
số đặc điểm khác với trường công lập, cụ thể như sau:
16
- Về bộ máy quản lý :Trường rất mềm dẻo trong việc cơ cấu bộ máy quản lý
đáp ứng với tình hình hiện tại của Trường. Hiệu Trưởng là người chịu trách nhiệm
trong công tác đào tạo chính của Trường, bên cạnh Hiệu Trưởng có HộI đồng Quản
trị là “tổ chức đại diện duy nhất quyền sở hữu tập thể nhà trường, có trách nhiệm và
quyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự và tài chính,
tài sản của Trường”.
- Về hoạt động quản lý: Trường đại học dân lập không bị ảnh hưởng nhiều của
cơ chế nhà nước, tập trung quan liêu bao cấp nên hoạt động quản lý tại trường đã
tận dụng và phát huy được những mặt tích cực của cơ chế quản lý mới, tạo ra được
sắc thái riêng khác với quản lý tại các trường đại học công lập. Cụ thể là:
1) Bộ máy tổ chức tinh gọn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
trường;
2) Khái niệm biên chế suốt đời như ở các trường công lập không tồn tại,
các trường đại học dân lập tự tuyển chọn những người thật sự có năng lực, tâm
huyết với nghề nghiệp, hợp đồng có thời hạn và trả lương theo thoả thuận hoặc khối
lượng công việc đảm trách, hạn chế tình trạng lao động dôi dư;
3) Bệnh quan liêu trong tổ chức và điều hành nhà trường hầu như được
loại bỏ, các quyết định được đề ra một cách kịp thời và trách nhiệm của mọi người
trong thực thi công việc, thực hiện chức trách được giao với chất lượng và hiệu quả
cao.
- Một điểm ưu việt đối với các trường đại học dân lập đó là có nhiều cơ hội
để phát huy được tính tự chủ và chịu trách nhiệm - một phương thức quản lý mới
trong giáo dục đại học hiện nay, nhằm tạo ra hiệu quả và chất lượng GD-ĐT.
nâng cao; nhân lực (đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên, cán bộ quản lý); tài lực,
vật lực (trường, lớp, phòng thực hành thí nghiệm, các trang thiết bị phục vụ giảng
dạy và học tập,..), sản phẩm được tiếp thị lưu thông (sinh viên); chỉ có chất lượng
mới làm cho các trường có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với các trường dân lập là phải có những biện
pháp quản lý phù hợp để có thể tồn tại và phát triển.
Một trong những vấn đề quan trọng và mang tính quyết định đó chính là đội
ngũ giảng viên của các trường đại học dân lập. Tuy ưu thế của các trường đại học
18
dân lập là có thể mời được các giảng viên, chuyên gia đầu ngành, có học hàm học vị
cao từ các trường đại học công lập, hoặc cơ quan Nhà nước; nhưng việc mời các
giảng viên thỉnh giảng luôn bị động, mang tính chất thời vụ, không lâu dài và
trường chỉ mời để mang tính giao lưu học hỏi kinh nghiệm và thu thập những thông
tin khoa học mới là chính. Mặt khác các giảng viên thỉnh giảng hầu hết là tham gia
giảng dạy nhiều giờ và ở nhiều trường khác nhau, gây khó khăn cho các trường
trong việc quản lý chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó sự gắn bó lâu dài giữa đội ngũ
giảng viên cơ hữu - đội ngũ được tuyển dụng chính thức với nhà trường khá lỏng
lẻo; trong số đó số lượng đội ngũ giảng viên có trình độ và uy tín khoa học còn
thiếu... Chính vì vậy, đòi hỏi các trường đại học dân lập phải có những biện pháp
quản lý đội ngũ giảng viên, đặc biệt là đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu, phải có sự
quan tâm và đầu tư nhiều hơn, để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên này
vững vàng, trở thành lực lượng nòng cốt của các trường đại học dân lập, góp phần
đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường đại học dân lập, đồng thời giúp cho các
trường đại học dân lập thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục đại học về đào
tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đất nước và đặc
biệt là đào tạo cung cấp cho khu vực miền trung một lực lượng lao động có trình độ
đại học đang là điều cấp thiết.
1.2.3.3- Giảng viên, giảng viên cơ hữu:
nội dung liên kết kinh tế, hội nhập quốc tế đa dạng, phong phú.
- Nền kinh tế toàn cầu đang trải qua sự thay đổi, cạnh tranh và hội nhập chưa
từng có tiền lệ. Đông Nam Á - một điểm tăng trưởng nổi bật của khu vực và thế giới
sẽ ngày càng đối mặt với thách thức đuổi kịp sự phát triển của thị trường thương
mại toàn cầu và tìm ra những giải pháp đổi mới để tận dụng lợi thế qua việc trao đổi
thông tin trên trang WEB - cái đang hình thành thị trường thương mại của thế kỷ
21. Trong thay đổi nhanh chóng đó, vai trò của trường đại học (ĐH) trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội phải được đánh giá lại. Trường ĐH nơi có truyền thống
cung cấp tri thức cho xã hội, bây giờ phải vượt ra khỏi truyền thống đó để tăng
cường mức độ hợp tác với khu vực sản xuất. Bốn xu thế toàn cầu chủ yếu trong
20
giáo dục đại học sẽ tác động tới quá trình này : Đại chúng hoá, Tự do hóa, Quốc tế
hoá, Hiện đại hóa
- Trên thế giới hiện nay đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
đang trên đà phát triển mạnh mẽ và không ngừng với những bước nhảy vọt về tốc
độ, quy mô, thành tựu. Các phát minh ngày càng được áp dụng rộng rãi vào đời
sống con người. Thông tin và tri thức trở thành nguồn lực chủ yếu và không thể
thiếu được cho sự phát triển của mỗi quốc gia và lợi thế cạnh tranh của tất cả các
nước trên thế giới.
- Đặc biệt là sự phát triển xã hội thông tin trong cuộc cách mạng thông tin đòi
hỏi trình độ của nguồn nhân lực phải cao hơn và năng động hơn. CNTT đã và đang
làm thay đổi bản chất của lao động, biến đổi tổ chức sản xuất và quá trình sản xuất.
Cách thay đổi này đang làm thay đổi xã hội, là thay đổi cả lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất và điều kiện làm việc của người lao động. Trong xã hội thông tin người
lao động có được tính độc lập cá nhân trong tổ chức làm việc, nhưng lại cần một lực
lượng tri thức lớn để hội nhập vào thị trường lao động thế giới.
- Trước yêu cầu phát triển KT-XH và văn hoá trong phát triển giáo dục càng
chứng tỏ là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để phát triển. Đối với giáo
phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động. Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục; thực hiện
phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo
dục. Nhà nước cần phải tăng cường đầu tư tập trung cho các mục cần ưu tiên, các
chương trình quốc gia phát triển giáo dục cần phải được đẩy mạnh.
- Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta tiến hành trong điều kiện
có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Các nguồn đầu tư và phát triển loại hình sản
xuất trở nên đa dạng, thị trường lao động được mở rộng với yêu cầu mới. Do vậy cơ
cấu lao động càng đa dạng, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cũng đòi hỏi cao và
đa dạng hơn, dần dần nhu cầu đào tạo thay đổi tác động đến ngành giáo dục phải
thay đổi, hệ thống, mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo.
- Xã hội ta phát triển không ngừng về mọi mặt đã thúc đẩy và tạo điều kiện
cho giáo dục ngày một đổi mới, vừa phục vụ có hiệu quả cho quá trình phát triển
kinh tế, văn hóa theo kịp xu thế chung của Trường. Ngược lại xã hội cũng đòi hỏi
giáo dục phải khẩn trương và mạnh mẽ hơn nữa trong việc quán triệt các định
22
hướng và thực hiện tốt hơn nữa các mục tiêu giáo dục. Đặc biệt phải tập trung vào
việc tiếp tục tìm kiếm và thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trên cơ
sở phát triển hợp lý quy mô giáo dục, đồng thời khắc phục được về cơ bản những
biểu hiện tiêu cực kéo dài.
Trong bối cảnh trong nước và thế giới như vậy, thì chúng ta đang có những cơ
hội và thách thức nhất định.
- Về cơ hội: Chúng ta có thể nâng cao trình độ đào tạo nguồn nhân lực để đáp
ứng yêu cầu không chỉ trong nước mà có thể phát triển đội ngũ này trong thị trường
lao động thế giới. Với sự giao lưu quốc tế rộng rãi, đội ngũ nhân lực nước ta có cơ
hội học tập, tiếp thu thành tựu thế giới, được rèn luyện nâng cao tay nghề, tự chiếm
lĩnh một số công nghệ kỹ thuật mới, tạo bước nhảy về chất. Yêu cầu đào tạo một
đội ngũ nhân lực như vậy cũng tạo nên việc thu hút thêm vốn đầu tư cho giáo dục từ
nhiều nguồn, tất nhiên để thực hiện được điều đó thì phải bằng mọi cách nâng cao
1.3.2.1- Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của khoa học & công nghệ,
công nghệ cao đặc biệt là công nghệ thông tin và lưu thông, đã dẫn đến sự biến đổi
sâu sắc của lịch sử nhân loại. Nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, một xã
hội thông tin, một nền kinh tế tri thức đang hình thành.
Giáo dục là chìa khó để đưa nhân loại tiến lên. Giáo dục đại học mang tính
quốc tế hóa và phổ quát, tác động toàn diện và sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội.
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang tiến hành nhằm đưa
nước ta thành một nước công nghiệp vào khoảng 2 thập kỷ nữa.
Đường lối chung xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu "Dân giàu nước mạnh, xã
hội, công bằng, dân chủ, văn minh".
Giáo dục và khoa học công nghệ được xem là "quốc sách hàng đầu" đặc biệt là
giáo dục ở bậc đại học và sau đại học. Chính điều này đã đặt ra cho giáo dục một
trọng trách hết sức quan trọng. Chính bởi giáo dục đại học là một loại hình sản xuất
đặc biệt, sản xuất ra tri thức mới và nguồn nhân lực hàm chứa tri thức cao và phi lợi
nhuận - một nguồn lực rất cần thiết cho việc thực hiện thành công sự nghiệp "công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" và đưa đất nước ta hội nhập cùng với thế giới.
24
Giáo dục đại học sẽ là "đòn bảy nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu,
tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH- HĐH và nền kinh tế tri thức nước ta phát
triển ngang tầm các nước phát triển, đáp ứng xu thế toàn cầu hóa".
Do đó, cần phải phát triển giáo dục đại học nhằm mục đích:
1) Đào tạo những người tốt nghiệp có chuyên môn trình độ cao,đồng thời
cũng là những công dân có trách nhiệm, có khả năng thâm nhập được vào tất cả
những lĩnh vực hoạt động con người bằng sự thành thạo nghề nghiệp kết hợp với
những tri thức và năng lực trình độ cao;3 năng lực sau đây của người tốt nghiệp ĐH
là cần thiết cho một nền kinh tế hiện đại. Đó là những người có khả năng thường
xuyên cập nhật được kiến thức của mình, chiếm lĩnh được những trình độ thành
khai, mở rộng, liên kết với các viện nghiên cứu, cơ sở sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi mọi tổ
chức phải đảm bảo đạt bốn tiêu chí sau đây : chất hượng cao, hiệu quả cao, hiệu
suất cao, công bằng xã hội.
Tóm lại, vai trò của giáo dục ngày càng được nâng cao, nhu cầu học tập Đại
học của xã hội tăng nhanh; kinh tế thị trường được thúc đẩy và thành phần ngoài
Nhà nước được công nhận. Chính vì thế mà yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cho giáo
dục đại học là hết sức cấp thiết, đòi hỏi các trường đại học - trung tâm trí tuệ của xã
hội - cần phải có những biện pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục - đào
tạo. Một trong những biện pháp quan trọng và được đặt lên hàng đầu đối với các
trường đại học đó là xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, bởi "giảng viên là
nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh".
1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN:
1.4.1/ Vai trò, nhiệm vụ của giảng viên đại học.
1.4.1.1- Vai trò:
Điều 14 Luật giáo dục đã khẳng định rõ vai trò của nhà giáo như sau: "Nhà
giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải
không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học. Nhà nước tổ chức
đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật
chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình; giữ gìn và phát huy
truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học".