Một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học đồng nai - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



PHÍ HỮU HÀO

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



PHÍ HỮU HÀO

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

Viết tắt
BGH
CNH-HĐH
ĐHĐN
ĐNGV
GD-ĐT
GV
KHCN
KT-XH
NCKH
NNL
PGS.TS
QLGD
TCN

Bảng 8. Bảng thống kê tuổi đời giảng viên theo từng khoa- tổ trực thuộc
(năm học 2013- 2014).
Bảng 9. Tổng hợp trình độ chuyên môn của giảng viên toàn trường (tính
đến năm học 2013- 2014).
Bảng 10. Thống kê số lượng cán bộ giảng viên được đào tạo hàng năm.
Bảng 11. Thống kê số lượng cán bộ giảng viên tham gia bồi dưỡng hàng
năm.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................. 4
3.1. Khách thể nghiên cứu ................................................................................ 4
3.2. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 4
4. Giả thuyết khoa học ....................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 4
7. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 5
8. Ý nghĩa của đề tài........................................................................................... 5
9. Cấu trúc của luận văn ................................................................................... 5
NỘI DUNG:........................................................................................................ 6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC....................................................................... 6
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu của đề tài....................................................... 6
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài……………………………...……... 9
1.2.1. Khái niệm về quản lý………………………………………..………….. 9
1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục............................................................... 11
1.2.3. Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục............................ 12

2.3.4. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường ...... 61
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................... 68
Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI. ........................................................ 69


3.1. Nguyên tắc đề ra các biện pháp ................................................................ 69
3.2. Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Đồng Nai…….. 71
3.2.1. Biện pháp 1: Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên .. 71
3.2.2. Biện pháp 2: Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho ĐNGV ......................................................................................... 77
3.2.3. Biện pháp 3: Sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên hiện có …………..... 82
3.2.4. Biện pháp 4: Xây dựng và hoàn thiện chế độ chính sách đối với giảng
viên ......................................................................................................... 85
3.2.5. Biện pháp 5: Tăng cường các điều kiện bảo đảm cho giảng viên thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy và NCKH ............................................................... 87
3.2.6. Mối quan hệ giữa các biện pháp ........................................................... 92
3.4. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ........................ 93
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................... 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................................... 96
1. Kết luận ....................................................................................................... 96
2. Kiến nghị .................................................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 100
PHỤ LỤC....................................................................................................... 103


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.
Yếu tố con người không phải là nguyên nhân duy nhất của sự hưng thịnh,

mở cửa vào tương lai. Có thể nói, thế giới chúng ta đang đổi thay mỗi ngày,
phát triển và cạnh tranh quyết liệt trong mọi lĩnh vực, tận dụng thời cơ và những
thách đố của thời đại, mà quan trọng nhất là chiến lược cho công cuộc phát triển
nguồn nhân lực (NNL)… không phải là công việc của riêng quốc gia nào. Thực
tiễn lịch sử, nhất là trong thời đại ngày nay, đã chứng minh rằng, trong tất cả
các yếu tố tạo nên sự thành công của các nước, không có yếu tố nào quan trọng
hơn giáo dục - đào tạo.
Sự phát triển của kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra
mạnh mẽ, làm thay đổi căn bản tư duy kinh tế, chính trị - xã hội trên phạm vi
toàn thế giới theo xu hướng hội nhập cùng phát triển. Để có thể thích ứng với xu
thế của toàn cầu hóa, sự phát triển của KH&CN và nền kinh tế tri thức, các
trường ĐH Việt Nam phải không ngừng đổi mới theo một chiến lược nhất quán
với tầm nhìn xa, rộng; đồng thời, tập trung xây dựng và phát triển năng lực cốt
lõi và những năng lực chuyên biệt của ĐNGV, yếu tố quyết định chất lượng đào
tạo để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, lâu dài, đáp ứng yêu cầu phát triển GDĐT trong nước, khu vực và quốc tế. Việc phát triển đội ngũ GV trong các trường
đại học chính là thực hiện mục tiêu phát triển con người, phát triển nguồn nhân
lực cao phục vụ cho lĩnh vực Giáo dục và đào tạo, phục vụ cho một chiến lược có
tầm vĩ mô cho tương lai của các thế hệ sau và cho đất nước Việt Nam, điều này
đòi hỏi chúng ta phấn đấu vượt qua lạc hậu, đuổi bắt kịp trình độ phát triển kinh
tế- xã hội của các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc đào tạo đội ngũ
nguồn nhân lực có chất lượng cao là điều kiện tiên quyết, là trọng trách của

2


ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, vấn đề cốt lõi mang tính đột phá cần
ưu tiên đó là xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên.
Trường Đại học Đồng Nai được thành lập vào năm 1976, đến nay đã gần
40 năm. Là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học của tỉnh Đồng Nai và khu
vực Đông Nam Bộ. Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất

- Đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đồng Nai, bao gồm giảng viên trong
biên chế và hợp đồng lao động.
8. Ý nghĩa của đề tài
8.1. Về mặt lý luận
Xác định những cơ sở có tính khoa học về việc cần thiết phải phát triển đội
ngũ giảng viên của Trường Đại học Đồng Nai đối với việc đào tạo nguồn nhân
lực có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước của khu vực
Đông Nam Bộ và cả nước.
8.2. Về mặt thực tiễn
Nêu ra một số biện pháp cơ bản mang tính hiện thực và khả thi nhằm phát
triển đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đồng Nai nói riêng và các trường Đại
học thuộc khu vực Đông Nam Bộ nói chung.
9. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1:Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên trường
đại học.
Chương 2: Thực trạng và công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại
học Đồng Nai
Chương 3: Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường
Đại học Đồng Nai.
Kết luận và kiến nghị
5


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1.Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi xuất hiện, hình thành và phát triển của xã hội loài người, con người

triển kinh tế- xã hội và sự lớn mạnh của đất nước.
Giáo dục và đào tạo ngày nay có tầm quan trọng đặc biệt, đã được Đảng và
Nhà nước xem như là nhân tố quyết định cho tương lai của dân tộc. Khi nghiên
cứu về công tác quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nói chung và
đội ngũ giảng viên trường Đại học Đồng Nai nói riêng là một nội dung quan
trọng, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, hướng tới đạt mục tiêu:
“...đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [33].
Đội ngũ giáo viên là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của
Đảng và Nhà nước ta. Việc phát triển đội ngũ giáo viên đã trở thành nhiệm vụ
trọng tâm, cấp thiết vì: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo
dục đào tạo là phải đặc biệt chăm lo đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên
cũng như đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ”.
Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nêu rõ: “Phát
triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều
7


kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn
dân trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là động lực nòng cốt, có vai
trò quan trọng... Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức
và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngay càng được nâng
cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi vào sự nghiệp cách mạng của

Frederick Winslow Taylor (1856-1915) và Max Weber (1864-1920) đều có chung
quan điểm: “Quản lý vừa là một khoa học đồng thời lại là một nghệ thuật”.
- F. W. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác các điều bạn
muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt nhất và rẻ nhất”.
- Còn Mary Parker Follett (1868-1933) lại khẳng định: “Quản lý là một
quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại”.
* Theo quan điểm của một số tác giả ở Việt Nam:
- Theo Trần Kiểm thì: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người,
sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội. Quản
lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết
hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực)
trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu, nhằm đạt mục đích
của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [28].
- Hai tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí có đồng quan
điểm: “Hoạt động quản lý là các hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6].

9


- Xét về góc độ chức năng thì quản lý được hiểu: “Quản lý là quá trình đạt
đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [6].
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì khẳng định: “Quản lý là những tác động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động
là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [32].
Mặc dù các tác giả trong và ngoài nước đều có cách tiếp cận khác nhau về
khái niệm quản lý, nhưng tất cả đều thống nhất quản lý được cấu thành do ba

tượng quản lý nhằm điều khiển, tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch để đạt
được mục đích, mục tiêu đề ra.
- Kiểm tra giám sát: Là việc kiểm tra, theo dõi, giám sát các thành quả hoạt
động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn sai sót trong quá trình
thực hiện kế hoạch.
Bốn chức năng nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau,
tạo thành một quy trình quản lý thống nhất.
Tóm lại: Quản lý là quá trình tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý thông qua các cơ chế quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả tốt nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong điều kiện môi
trường luôn có biến động không ngừng để hệ thống ổn định, vận động theo
hướng phát triển tích cực để đạt được các mục tiêu đã định.
1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục:
Theo P.V.Khudominxki thì: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau
đến tất cả các khâu của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng
sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ.
Trên cơ sở nhận thức và sử dụng những quy luật khách quan của quá trình dạy
học, giáo dục, của sự phát triển về phẩm chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên
cũng như là thanh niên”.

11


Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất” [32].

Ngành giáo dục với bề dày lịch sử của mình đã mang lại cho chúng ta cơ
sở dữ liệu phong phú để tiếp cận khái niệm về nhà giáo.
Ở thời cận đại của Khổng Tử (551- 479 TCN): nhà giáo được gọi bằng
“Sư” để chỉ người có học vấn uyên thâm và mang nó chuyền thụ cho người
khác. Do tính chất công việc cao quý, “Sư” được người đầu tiên sáng lập chế độ
giáo dục tư thục ở Trung Quốc đặt ở vị trí tôn kính “Quân- Sư- Phụ” trong thứ
bậc xã hội. Chính Khổng Tử với nhân cách và đóng góp của mình đã được
người đời tôn là “Vạn thể sư biến”, tức là “Người thầy của muôn đời”.
Đến thời Hán Vũ Đế (140- 87 TCN): người làm công việc giảng dạy ở
Thái học được gọi là “Ngũ kinh bác sĩ”. Theo cách gọi này, nhà giáo được coi
là một bộ phận tri thức có học vấn uyên bác làm công việc giảng dạy “ngũ
kinh” (kinh điển của Nho giáo) trong nhà trường phong kiến.
Khi tiếp thu văn minh phương Tây, “thầy giáo” được nhân dân ta gọi để
“chỉ người làm nghề dạy học nói chung”. Có thể “thầy giáo” là phiên âm Tiếng
Việt của thuật ngữ “giáo sư” vốn có nguồn gốc từ danh tư “professor” của
người châu Âu. Sau này, “thầy giáo” đôi khi chỉ được theo nghĩa hẹp chỉ người
dạy học là nam giới, còn nữ giới nghề này được gọi là “cô giáo”.
Ngày nay, chúng ta gọi thống nhất những người làm nghề dạy học là “nhà
giáo”. Theo Điều 70 của Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường hoặc cơ sở giáo dục khác”. “Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục
13


mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở
giáo dục đại học, cao đẳng gọi là giảng viên”.
1.2.5. Khái niệm về đội ngũ nhà giáo:
* Đội ngũ:
Theo từ điển tiếng Việt, đội ngũ là “khối đông người cùng chức năng nghề
nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng” [39].

như không để lại ảnh hưởng.
Thời Ngô- Đinh- Tiền Lê (939- 1009): ở thời kỳ này phần lớn nhà giáo là
nhà sư, trường học là chùa chiền. Với lòng yêu nước, thương dân, các nhà sưnhà giáo đương thời đã mang kiến thức của mình ra giúp triều đình xây dựng
nền độc lập, tự chủ, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chính họ đã
vận dụng sự am hiểu về chữ Hán để tạo ra chữ Nôm, góp phần làm phong phú
thêm tiếng Việt. Một số thiền sư nổi tiếng thời này như: Sư Đỗ Pháp Thuận
bằng tài ứng đối, xướng họa đã góp phần làm tăng vị thế của nước ta trong bang
giao với nhà Tống (Trung Quốc); Thiền sư Đa Bảo và Vạn Hạnh vừa là thầy
dậy, vừa là người có công trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, thiết lập triều
Lý, mở đầu thời ký hưng thịnh trong lịch sư phong kiến Việt Nam.
Thời Lý- Trần- Hồ (1010- 1497): nhà giáo đóng vai trò chủ yếu trong đào
tạo quan lại cho chính quyền. Chu Văn An là nhà giáo tiêu biểu nhất của thời ký
này, Ông là người nêu gương mẫu mực về tư cách nhà giáo, trở thành tôn sư
của nền giáo dục Việt Nam. Mặc dù không trực tiếp giảng dạy, nhưng tư tưởng
cải cách giáo dục của Hồ Quý Ly cũng có giá trị to lớn không chỉ cho nền giáo
dục đương thời mà còn cho cả chúng ta ngày nay.
Thời Lê sơ (1428- 1527): đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quan trọng trong
xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền đủ mạnh để giữ vững nền độc lập của đất
nước. Nhiều hiền tài được đào tạo ra trong thời kỳ này như Lê Văn Hưu, Mạc
Đĩnh Chi, Nguyễn An, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,
15


Trần Nguyên Đán, Lương Thế Vinh….. góp phần thúc đẩy sự phát triển vượt
bậc nền văn hóa dân tộc, khoa học- kỹ thuật và tạo nên những chiến công hiển
hách trên mặt trận chống ngoại xâm. Nguyễn Trãi là nhà giáo tiêu biểu nhất
trong giai đoạn này. Ông đóng góp vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
dẫn đến sự ra đời của nhà Hậu Lê và đề ra nhiều kế sách để trị nước, an dân.
Nguyễn Trãi cũng là vì sao sáng trong văn học giao đoạn này với nhiều tác
phẩm có giá trị, tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo vốn được xem là bản tuyên ngôn

hơn cả giặc ngoại xâm. Họ cũng đóng góp vai trò là người chiễn sĩ trên mặt trận
tư tưởng để truyền bá quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng cũng như thực
hiện nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết là bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho giai đoạn sau. Mặt khác, nhà giáo còn có vai trò quan trọng trong việc tổ
chức và phát động phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trên mặt trận
đấu tranh chính trị chống ngụy quyền tay sai và thực dân đê quốc. Đánh giá
những đóng góp to lớn của đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn này, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khẳng định “nhà giáo là những anh hùng vô danh”.
Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định đào tạo ra
con người xã hội chủ nghĩa vốn được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem là điều kiện
tiên quyết và then chốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi mà giáo dục đào tạo
và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu của đất nước thì vai trò của đội
ngũ nhà giáo càng trở nên đặc biệt quan trọng. Nhà giáo trở thành người quyết
định tương lai của dân tộc vì sản phẩm của họ tạo ra sẽ là chủ nhân tương lai
của đất nước, của cả dân tộc.
1.2.6. Khái niệm về xây dựng và phát triển
Theo Từ điển tiếng Việt thì “xây dựng” được hiểu theo các nghĩa sau:
+ Xây dựng là làm nên một công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhát
định.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status