một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường thpt hương sơn - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp phát triển đội ngũ
giáo viên trường THPT Hương Sơn”, đến nay em đã hoàn thành khóa luận.
Để có được sản phẩm nghiên cứu như ngày hôm nay, em xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến tập thể CB, GV trường THPT Hương Sơn ; các thầy, cô giáo,
giảng viên Học viện Quản lý giáo dục đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong
quá trình hoàn thành khóa luận.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. GVC. Trương Thị
Thúy Hằng – giảng viên khoa Quản lý, Học viện Quản lý giáo dục, người đã
hướng dẫn tận tình, giúp đỡ và góp ý cho em trong quá trình nghiên cứu để hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp đúng thời hạn.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do kinh nghiệm bản thân còn hạn chế cũng
như thời gian nghiên cứu chưa dài nên chắc rằng khóa luận vẫn còn nhiều thiếu
sót. Em rất mong nhận được sự cảm thông, góp ý của thầy cô và các bạn để
khóa luận thêm hoàn thiện.
Tác giả khóa luận
Sinh viên
Trần Long Vy
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Giải nghĩa
1 CNTT Công nghệ thông tin.
2 CSVC Cơ sở vật chất.
3 HS Học sinh
4 GV Giáo viên.
5 GD – ĐT Giáo dục và đào tạo.
6 NGCBQLGD Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
7 THPT Trung học phổ thông
8 TB Trung bình

chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó,
1
đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là
khâu then chốt”.
Công văn số C5516/BGDĐT- NGCBQLGD của Bộ Giáo dục và đào tạo về
việc hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2011 - 2012 về xây dựng và nâng cao chất
lượng đội ngũ NG&CBQLGD “Tăng cường công tác xây dựng quy hoạch, kế
hoạch; quản lí, đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý cơ sở giáo dục có phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm cao, chuẩn hóa,
đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục,
phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là điều vô cùng quan trọng
trong việc đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục.
2. Về mặt thực tiễn.
Đối với trường THPT Hương Sơn việc tìm kiếm biện pháp để xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên ổn định về số lượng, đảm bảo về chất lượng của nhà
trường trong giai đoạn hiện nay đang còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
Qua quá trình tìm hiểu thông tin về trường THPT Hương Sơn và sự quan
tâm về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ Giáo viên ở trường THPT nói chung,
trường THPT Hương Sơn nói riêng, chúng tôi quyết định chọn đề tài:
"Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Hương
Sơn- huyện Hương Sơn- tỉnh Hà Tĩnh".
II. Mục đích, ý nghĩa của đề tài.
Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu khảo sát thực tiễn nhằm đề xuất biện pháp
góp phần phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Hương Sơn – huyện Hương
Sơn – tỉnh Hà Tĩnh ổn định về số lượng và đảm bảo về chất lượng.
III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
1. Khách thể.
Công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT.
2. Đối tượng nghiên cứu.

3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT HƯƠNG SƠN
– HUYỆN HƯƠNG SƠN- TỈNH HÀ TĨNH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Giáo viên và đội ngũ giáo viên
Dân tộc Việt Nam từ xưa đã có truyền thống “tôn sư trọng đạo”, nó đã trở
thành đạo lý của con người Việt Nam. Trong xã hội, người thầy giáo luôn được
kính trọng, vai trò của người thầy giáo đã được xã hội đúc kết “Nhất tự vi sư, bán
tự vi sư”, “không Thầy đố mày làm nên”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:
“Nghề thầy giáo là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”; lao động sư
phạm của người giáo viên vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật nhân
đạo cao. Để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội, đồng thời góp phần hoàn thành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ hội nhập thì đội ngũ giáo viên
trong trường THPT phải là lực lượng chủ yếu quan trọng nhất, quyết định chất
lượng đào tạo, nhằm tạo ra những sản phẩm đặc biệt, đú là những nhân cách phát
triển toàn diện đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường, sản phẩm đó không
được quyền có phế phẩm: “Những con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể
- mỹ”.
Theo Luật Giáo dục 2005, sửa đổi 2009 nhà giáo là: “Người làm nhiệm vụ
giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” [13].
Đội ngũ giáo viên là tập thể người có cùng chức năng, nghề nghiệp “dạy
học” cấu thành trong một tổ chức và là nguồn nhân lực quan trọng của tổ chức đó.
1.1.2. Phát triển đội ngũ giáo viên
Phát triển đội ngũ làm cho đội ngũ trưởng thành đáp ứng đòi hỏi yêu cầu của
sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung, từng nhà trường nói riêng.
Phát triển đội ngũ giáo viên cũng phải thực hiện các nội dung như: Kế hoạch
hoá đội ngũ giáo viên, tuyển dụng, định hướng, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đề bạt,
4

5
của mọi thời đại đều ca ngợi ý nghĩa cao cả và tính ưu việt của nghề dạy học.
Ở nước ta từ ngàn xưa người thầy giáo đã được nhân dân ta yêu mến, ca
ngợi: “muốn sang thì bắc cầu kiều/ muốn con hay chữ hãy yêu lấy thầy”, hay
“không thầy đố mày làm nên” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đảng
và Nhà nước ta đã coi đội ngũ giáo viên là lực lượng cốt cán của sự nghiệp giáo
dục và là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa - tư tưởng.
Luật giáo dục 2005 sửa đổi 2009 nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định
trong đảm bảo chất lượng giáo dục”.
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, vị trí, vai trò của người giáo viên phải
được nâng lên một tầm cao mới.
Thế kỷ XXI - thế kỷ của đỉnh cao trí tuệ, với những đặc điểm nổi bật: Sự
bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ; toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới;
trong xã hội con người là trung tâm của sự phát triển, một xã hội phát triển dựa vào
sức mạnh của tri thức, bắt nguồn từ khai thác tiềm năng của con người, lấy việc
phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và
bền vững. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Việc đặt
con người vào trung tâm của sự phát triển khiến cho giáo dục phải rà soát lại nhận
thức về mục tiêu: Từ chỗ “học để biết” sang nhấn mạnh “học để làm”, rồi “học để
cùng chung sống”, “học để tự khẳng định mình”, có nghĩa là “khuyến khích sự
phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người”. Vì lợi ích của bản
thân và tương lai của dân tộc, giáo dục phải là công cụ cho cá nhân, cho tập thể
nhằm xây dựng nguồn lực con người thành động lực cho sự phát triển bền vững.
Việc quan niệm “học sinh là trung tâm của hệ thống giáo dục” đã làm vai trò
của người thầy có nhiều thay đổi căn bản. Người thầy phải chuyển từ vai trò của
người đơn thuần truyền thụ kiến thức sang vai trò của người hướng dẫn, hỗ trợ và
cố vấn. Người thầy phải nắm bắt được nhu cầu của người học và tổ chức để họ
quản lý được thời gian vật chất của mình, có tính đến sự khác biệt cá thể, đồng thời
động viên họ tích cực tham gia vào quá trình nâng cao năng lực nhận thức và tư
duy, chỉ dẫn và giúp đỡ họ phát triển các kỹ năng học tập độc lập như tự quyết định

7
cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và đòi hỏi có tinh thần tìm tòi sáng tạo cao.
- Chức năng của một nhà hoạt động xã hội:
Nghề dạy học là một nghề giàu tính nhân văn, là nghề khai sáng tâm hồn, trí
tuệ con người. Cho dù xã hội có phát triển đến mức độ nào đi nữa thì cũng không
thể thay thế được vai trò, vị trí của người giáo viên trong xã hội.
1.2.2. Đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên.
Lao động của người giáo viên là một dạng lao động có tính đặc thù, là một
dạng lao động sáng tạo, điều này thể hiện rõ ở mục đích, đối tượng, công cụ, sản
phẩm của hoạt động sư phạm.
a. Mục đích của lao động sư phạm:
Cũng như bất cứ loại hình lao động nào, lao động sư phạm cũng là hoạt động
có mục đích. Mục đích lao động sư phạm của nhà giáo là giáo dục thế hệ trẻ, hình
thành nhân cách cho người học theo yêu cầu xã hội, hay nói cách khác lao động sư
phạm là tái sản xuất sức lao động, chuẩn bị tri thức cho nguồn lao động trong tương
lai.
b. Đối tượng của lao động sư phạm.
Đối tượng quan hệ trực tiếp của hoạt động sư phạm là con người, là việc đào
tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của xã hội. Xã hội trong tương lai mạnh
hay suy tùy thuộc rất lớn vào những con người trẻ.
Để đạt được hiệu quả giáo dục cao, người giáo viên phải nghiên cứu và nắm
chắc đối tượng giáo dục của mình, phải thiết kế và thực hiện những tác động sư
phạm hợp quy luật và hợp lý, phải tôn trọng và phát huy vai trò chủ thể của giáo
viên và học sinh trên cơ sở nắm vai trò chủ đạo của mình.
c. Công cụ lao động sư phạm:
Công cụ lao động của nhà giáo không chỉ có hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
cần thiết để thực hiện chức năng của một nhà sư phạm, đó còn là đạo đức, nhân cách
của nhà giáo. Người dạy giáo dục người học không chỉ bằng trí tuệ mà còn cả tâm hồn,
tình cảm, đạo đức, nhân cách của mình. “Dựng nhân cách để giáo dục nhân cách”.
d. Sản phẩm của lao động sư phạm:

9
trong dạy học và giáo dục học sinh;
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
* Đối với giáo viên chủ nhiệm:
Ngoài các nhiệm vụ đối với giáo viên bộ môn còn có những nhiệm vụ sau đây:
Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ
chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên
bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ
Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục
học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị
khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng,
phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp,
hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng;
* Đối với giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:
Là giáo viên THPT được bồi dưỡng về công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động của Đoàn ở nhà trường và tham gia các
hoạt động với địa phương.
* Đối với giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí
Minh: Là giáo viên THCS được bồi dưỡng về công tác Đội Thiếu niên Tiền phong
Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động của Đội ở nhà trường và phối hợp
hoạt động với địa phương.
b. Quyền của giáo viên
Được nhà trường tạo điều kiện để giảng dạy và giáo dục học sinh;
Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ
sức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;
Được trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường;
10

11
chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học-giáo dục Người dạy phải có
hiểu biết sâu rộng, vững chắc những vấn đề của giáo dục.
*. Về tri thức khoa học:
Trước hết, giáo viên cần nắm vững, hiểu biết sâu sắc nội dung, chương trình,
sách giáo khoa của môn học mà mình đảm nhận. Điều đó giúp cho người giáo viên
có khả năng thuần thục nội dung chương trình môn học, sáng tạo trong việc sử
dụng các phương pháp để truyền đạt tri thức mới cho học sinh một cách rõ ràng
mạch lạc.
Ngoài những hiểu biết về chuyên môn nhà giáo cần có những hiểu biết rộng
rãi về các lĩnh vực chính trị - xã hội, khoa học, văn hóa nhờ có vốn hiểu biết rộng
mà khi tiến hành bài giảng, giáo viên có thể liên hệ, so sánh, đối chiếu với các tri
thức khác quan, gần gũi giúp học sinh tiếp thu thuận lợi dễ dàng.
Nắm vững tri thức khoa học là điều kiện giúp giáo viên tự tin, sáng tạo và
thành công trong các giờ lên lớp.
*. Về kĩ năng sư phạm :
Dạy học là nghề mà bất cứ ai muốn hành nghề đều cần được đào tạo một cách
bài bản qua trường lớp sư phạm. Muốn dạy học người giáo viên cần có các kĩ năng sau :
- Kĩ năng dạy học :
Kĩ năng này liên quan đến việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh,
các mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong giờ lên lớp. Đây là kĩ năng quan
trọng của người giáo viên, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hiệu quả bài dạy
Để có bài dạy tốt giáo viên phải có khả năng thiết kế bài giảng, đây là kĩ
năng quan trọng, là năng lực gia công sư phạm của người giáo viên đối với tài liệu
học tập, đảm bảo tính logic và đặc điểm nhận thức của học sinh. Để thực hiện tốt
công tác này người dạy phải:
Xác định rõ mục đích bài dạy.
Thiết kế bài dạy thể hiện được các bước lên lớp, các nội dung cơ bản của bài
dạy, các phương pháp, phương tiện dạy học.
Trên cơ sở kiến thức SGK giáo viên chế biến bổ sung bài giảng của mình

13
Giúp cho mọi người nhận thức được đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình
đối với sự nghiệp giáo dục.
Cung cấp cho các bậc cha mẹ những hiểu biết cần thiết để giúp đỡ con cái
học tập ở nhà.
Vận động các tổ chức, đoàn thể xã hội tích cực tham gia giáo dục học sinh
trên địa bàn dân cư.
Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, có ảnh hưởng tích cực đến sự
hình thành và phát triển nhân cách của học sinh,…
- Kỹ năng tự học, tự nâng cao trình độ.
Bản thân lao động nghề nghiệp đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng tự
học, tự nâng cao trình độ. Khẩu hiệu: “Sống là học, học tập là công việc suốt đời”
có ý nghĩa rất thiết thực đối với người giáo viên. Kỹ năng này được đặc trưng bởi
các hành động sau:
Thường xuyên trang bị cho mình những kiến thức mới, những thông tin mới;
Tiếp cận nhanh chóng với các phương pháp và xu thế dạy học mới, phát huy
cao độ tính tích cực, độc lập của người học;
Mở rộng phạm vi hiểu biết các vấn đề xã hội, các vấn đề có ý nghĩa quốc
gia, quốc tế (hồ bình, dân số, môi trường, AIDS, ma tuý, nghèo đói, ).
- Kỹ năng nghiên cứu khoa học.
Gắn liền với kỹ năng tự học, tự nâng cao trình độ, người giáo viên còn cần
phải có kỹ năng nghiên cứu khoa học. Kỹ năng này giúp người giáo viên giải quyết
tốt các vấn đề thường xuyên nảy sinh trong thực tiễn công tác giảng dạy - giáo dục
của mình, biết vận dụng những kinh nghiệm thành công của đồng nghiệp.
1.2.5.Tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
a. Phát triển đội ngũ giáo viên là thực hiện nghị quyết và chỉ thị của Đảng,
Nhà nước về giáo dục
Phát triển đội ngũ là thực hiện quan điểm về “Giáo dục là quốc sách” và
thực hiện Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt
14

tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
c. Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển của từng trường
trung học phổ thông
Đội ngũ giáo viên là lực lượng trực tiếp thực hiện mục tiêu, kế hoạch giảng
dạy giáo dục của nhà trường, là người tạo nên uy tín, chất lượng hiệu quả của nhà
trường.
Mỗi trường THPT muốn phát triển, trước hết phải có một đội ngũ giáo viên
giỏi.
Yêu cầu về chất lượng đội ngũ là một trong những tiêu chuẩn để nhà trường
được xét công nhận những danh hiệu thi đua của nhà trường.
Đội ngũ là nguồn lực quý báu và có vai trò quyết định chất lượng giáo dục
trong nhà trường.
d. Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi cá nhân
giáo viên
Đặc điểm lao động sư phạm đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải thường xuyên
học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.
Nhu cầu phát triển là một trong những nhu cầu cơ bản của mỗi con người.
Phấn đấu để được xét công nhận giáo viên giỏi các cấp là những nhu cầu
chính đáng của mỗi giáo viên mà các nhà quản lý cần khuyến khích và tạo điều
kiện hỗ trợ họ.
e. Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu của người học:
Toàn xã hội, ngành giáo dục, các bậc cha mẹ đều đặt niềm tin, niềm hy vọng
vào các thầy cô giáo THPT trong việc giáo dục con em mình để hoàn thành học vấn
phổ thông, hoàn thiện nhân cách để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.
Học sinh luôn muốn được học tập những thầy cô giáo có tình thương yêu với
học trò, nhiệt tình và có năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao.
16
Tất cả những nội dung trên đều khẳng định tầm quan trọng của công tác xây
dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trong trường trung học phổ thông.
1.3. Cơ sở pháp lý của việc phát triển đội ngũ giáo viên THPT

2
(rừng chiếm 4/5 diện tích); dân số 12 vạn người, không
cú dân tộc thiểu số. Kinh tế chủ yếu là Nông – Lâm nghiệp, dịch vụ chiếm rất nhỏ.
GDP năm 20111 là 1249 tỉ đồng. Giao thông vận tải có hai tuyến đường chính là
Quốc lộ 8A và đường Hồ Chí Minh; có cửa khẩu Quốc tế Cầu treo thông với nước
bạn Lào. Mặc dù là huyện có đường biên giới kéo dài, có cửa khẩu quốc tế nhưng
tình hình xã hội, an ninh tật tự được đảm bảo tốt.
Là vùng quê có truyền thống hiếu học, nhiều dòng họ hiếu học như Đinh
Nho, Nguyễn Khắc, Hà Huy…là quê hương của Đại danh y Lê Hữu Trác, của nhà
thơ Huy Cận.
2.2. Khái quát về trường THPT Hương Sơn.
Trường THPT Hương Sơn được thành lập năm 1961 là trường lớn nhất của
huyện Hương Sơn, trường đúng trên địa bàn khối 4 - thị trấn Phố Châu huyện
Hương Sơn – tỉnh Hà Tĩnh với diện tích 14460
Hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển nhà trường đã đào tạo ra nhiều thế hệ
học sinh có kiến thức văn hóa, đạo đức và lý tưởng tốt góp phần rất lớn cho sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
18
2.1.1. Tình hình phát triển trường THPT Hương sơn.
Trường THPT Hương Sơn có bề dày xây dựng và phát triển hơn 50 năm,
được sự quan tâm của ngành giáo dục Hà Tĩnh về mọi mặt, trong đó có xây dựng
và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Tỉ lệ giáo viên trên lớp cao
hơn quy định. Tuy nhiên, cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa hợp lý (Thừa giáo viên
Văn - Sử - GDCD – Thể dục; Thiếu giáo viên Lý – Hóa - Tin)
Đội ngũ giáo viên của nhà trường là một tập thể đoàn kết, thống nhất,
thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, nhiệt tình trong công tác, tâm huyết với nghề nghiệp,
có tính cộng đồng cao. Những thầy cô lớn tuổi có tay nghề vững, có nhiều kinh
nghiệm trong giảng dạy cũng như trong cuộc sống, mẫu mực và luôn sẵn sàng giúp
đỡ, dìu dắt thế hệ trẻ. Lực lượng giáo viên trẻ năng động, kiến thức chuyên môn
vững vàng, lao động hăng say và có chí tiến thủ.

6 Số máy vi tính 150
(Nguồn: trường THPT Hương Sơn cung cấp)
- Mặt mạnh:
Ngay từ đầu các năm học nhà trường đã làm tốt công tác tham mưu cho địa
phương huy động nguồn lực để tu bổ, cải tạo khuôn viên cảnh quan sư phạm, củng
cố sửa chữa các phòng học, mua sắm thiết bị dạy học.
Hiện nay nhà trường có 34 lớp học được trang bị bàn ghế đạt chuẩn, đảm bảo
cho việc dạy và học của thầy và trị, năm 2012 nhà trường đi vào sử dụng 03 phòng học
bộ môn đạt chuẩn, được xây dựng nhằm đáp ứng đổi mới phương pháp dạy học và phục
vụ tốt hơn cho việc giảng dạy. Nhà trường đã xây dựng được 3 phòng máy vi tính, mỗi
phòng 50 máy, có kết nối internet phục vụ nghiên cứu, truy cập thông tin, học tập và
giảng dạy. Máy chiếu quang học cũng bước đầu được đưa vào giảng dạy trong nhà
trường…phát huy hiệu quả trong việc dạy học theo phương pháp mới.
- Mặt hạn chế:
Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực đó nhà trường còn gặp
nhiều khó khăn về cơ sở vật chất. Nhà trường có quy hoạch chưa ổn định nên chưa
thể tiến hành xây dựng tổng thể để xây dựng trường chuẩn quốc gia, cơ sở vật chất
vẫn chưa đáp ứng được việc dạy và học trong thời đại mới, các thiết bị dạy học hầu
như đã cũ, chất lượng chưa cao, nhiều thiết bị dạy học để trong kho hàng năm mà
20

Trích đoạn Điều kiện thực hiện: Điều kiện thực hiện biện pháp: Từ sách báo, tạp chí: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status