TÁC ĐỘNG CỦA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ ĐẾN THỊ TRƯỜNG
LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1. Khái niệm
Thị trường lao động là sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là
những người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao
động đó.
Di chuyển lao động quốc tế về cơ bản là sự phản ứng trước những thay đổi
về phân bổ nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, trật tự thế giới, sự biến đổi của môi
trường, sự phát triển của kinh tế và công nghệ Con người di chuyển từ nơi này đến
nơi khác nhằm tận dụng lợi thế về điều kiện khí hậu, nguồn tài nguyên thiên nhiên
để có được nguồn thu nhập cao hơn, có nhiều việc làm hơn hoặc để thoát khỏi sự
phân biệt đối xử.
2. Các dòng di chuyển lao động quốc tế
- Xuất nhập khẩu lao động
- Di dân
- Di chuyển thể nhân
3. Tác động của di chuyển lao động quốc tế đến thị trường lao động Việt Nam
3.1 Xuất nhập khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một hình thức di chuyển lao động từ nước có nhân lực
dồi dào, chủ yếu là các nước đang phát triển, sang các nước thiếu lao động, chủ
yếu là các nước có nền kinh tế phát triển. Trong thời gian làm việc ở nước ngoài,
người lao động vẫn giữ quốc tịch của nước xuất khẩu.
Về xu hướng xuất khẩu lao động thì hiện nay có hai xu hướng chính. Thứ
nhất là từ các nước đông dân với nền kinh tế đang phát triển hay kém phát triển
sang các nước có nền kinh tế phát triển, điều này sẽ giúp rất nhiều ích lợi cho nước
xuất khẩu lao động như giải quyết được việc làm, xóa đói giảm nghèo… Trong xu
hướng thứ nhất này, lao động xuất khẩu thường là lao động không có tay nghề
hoặc tay nghề thấp. Còn xu hướng thứ hai là việc trao đổi nguồn nhân lực giữa các
quốc gia phát triển với nhau, đối với các lao động có tay nghề cao hoặc có thể nói
khẩu lao động làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nước đồng thời giảm được lượng
cung lao động dư thừa.
Di chuyển lao động ra nước ngoài sẽ mở ra cơ hội sử dụng số lao động thất
nghiệp vào việc sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ tại nước khác, mang lại thu nhập
cho người lao động. Đồng thời, góp phần gia tăng thu nhập quốc gia (GNI), vì thu
nhập quốc gia (GNI) là tổng đại số giữa thu nhập quốc nội và thu nhập yếu tố
thuần, mà thu nhập yếu tố thuần lại chính là khoản chênh lệch giữa thu nhập
chuyển về nước và thu nhập của người nước ngoài chuyển ra khỏi Việt Nam. Nhờ
đó, góp phần làm tăng GNI/người, một cấu thành quan trọng trong HDI. Theo
thống kê của Ngân hàng thế giới, năm 2006, người Việt Nam ở nước ngoài gửi tiền
về nước bằng con đường chính thức là 4,8 tỷ USD, tương đương với 7,9% GDP
năm 20061 . Số lượng lao động dồi dào và trẻ, người lao động thông minh, cần cù,
chịu khó mới chỉ là tiềm năng cho việc di chuyển lao động ra nước ngoài nhằm tác
động lên thu nhập quốc gia. Còn mức độ và cường độ tác động do việc di chuyển
lao động ra nước ngoài làm việc lên thu nhập quốc gia phụ thuộc vào chính sách
của Chính phủ và chất lượng lao động Việt Nam.
Hai là, di chuyển lao động ra làm việc ở nước ngoài làm tăng chi tiêu của
gia đình và tiết kiệm làm tăng đầu tư tư nhân trong dài hạn Như đã nói, khi lao
động ra nước ngoài làm việc, tất nhiên là họ có thu nhập, hơn nữa thu nhập cao
hơn làm việc trong nước. Thông thường, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
có thu nhập ròng cao hơn làm việc trong nước khoảng 3 lần 2 . Nhờ có thu nhập
ròng cao, người lao động gửi khoản tiền đó về gia đình làm khoản tiết kiệm. Theo
ước tính của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Lao động - Việt Nam, năm 2007, chỉ
riêng lao động Việt Nam ở nước ngoài chuyển về nước khoảng 2 tỷ USD3 . Khoản
tiền người lao động gửi về nhà được chia là hai phần: một phần gia đình chi tiêu
vào việc nâng cao mức sống, chăm sóc sức khoẻ của gia đình đặc biệt là chi tiêu
cho việc học tập của con cái góp phần nâng cao dân trí; một phần lớn dành để tiết
kiệm nhằm mục đích đầu tư trong tương lai. Theo Bộ Lao động - Thương binh và
không phải tất cả mọi lao động muốn ra nước ngoài làm việc đều có thể đạt được
các yêu cầu của nhà tuyển dụng. Vì vậy, phải tổ chức huấn luyện và đào tạo lại cho
người lao động. Để thực hiện việc này có hiệu quả, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở
vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác đảm bảo cho việc đào tạo và đào
tạo lại người lao động. Điều này sẽ làm tăng chi tiêu của Chính
Bốn là, di chuyển lao động ra làm việc ở nước ngoài tạo điều kiện cho
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngắn hạn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại trong dài hạn. Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp
hoá, việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tất yếu làm cho
một số lượng nhất định lao động nông nghiệp mất việc làm. Dưới tác động của
cạnh tranh, các nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn phương án đầu tư sử dụng nhiều
vốn. Cả hai khuynh hướng đó làm cho trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
thu hồi, số lao động được sử dụng sẽ giảm đi đáng kể. Đây là quy luật tất yếu của
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong ngắn hạn, di chuyển lao động ra
làm việc ở nước ngoài sẽ là một trong các con đường vừa giải quyết việc làm cho
số lao động thất nghiệp, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu,
nâng cao sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập. Trong dài hạn, trình độ người lao
động đi làm việc ở nước ngoài được nâng cao nhờ được đào tạo và đào tạo lại
trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Chính người lao động đi làm việc ở nước
ngoài sẽ là động lực của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì đây là nguồn lao
động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư theo chiều sâu.==> Làm
tăng cầu về lao động,đặc biệt là lao động chất lượng cao.
Năm là, di chuyển lao động ra làm việc ở nước ngoài góp phần trực tiếp
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đặc điểm của lao động là sáng tạo. Người lao
động với vốn kiến thức học vấn và ngoại ngữ cơ bản, nếu được làm việc trong môi
trường công nghiệp hiện đại, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, thì trình độ tay nghề
Việt Nam với người tiêu dùng của nước sở tại.==>Tăng cầu lao động cả về số
lượng và chất lượng.
Bảng số 1:Tình hình số lao động Việt Nam xuất khẩu lao động ở một số
nước châu á năm 2015
Nước
số lao động
Đài Loan
67121
Nhật Bản
27010
Malaysia
7354
Hàn Quốc
6019
Ả-rập-xê-út
3975
An-gie-ri
1963
(http://congtyxklduytin.com/115-980-lao-dong-viet-nam-di-xuat-khau-laodong-trong-nam-2015/)
Theo bảng trên cho thấy,đa số lao động Việt Nam xuất khẩu lao động tại thị
trường Nhật Bản (67121 lao động)và Đài Loan(27010 lao động).
3.1.3.Tác động của vịêc lao động nước ngoài đến Việt Nam ngoài làm việc
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang gặp nhiều khó
khăn, dòng lao động nước ngoài vào Việt Nam vẫn không ngừng gia tăng trong
những năm gần đây. Theo báo cáo của các Sở
Lao động-Thương binh và xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Ban
quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, số lượng lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam trong các năm 2010, 2011 và 2012, cụ thể như sau:
32,52
77.087
0
Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo của các Sở LĐTBXH tại thời điểm tháng 7
năm 2012
Thị trường lao động trong điều kiện nền kinh tế mở cửa đã tạo ra dòng di
chuyển lao động quốc tế ngày càng sôi động hơn, lao động nước ngoài vào Việt
Nam ngày một tăng. Theo báo cáo của các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Ban quản lý khu công nghiệp, khu
chế xuất và khu kinh tế, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam năm
2010 là 56.929 người tăng 2,7% so với năm 2009; Năm 2011 tăng lên đến 78.440
người tăng so với năm 2010 là 32,52% và trong 7 tháng đầu năm 2012 tỷ lệ này
giảm 1,7%. Lực lượng Lao động nước ngoài vào Việt Nam tập trung ở một số
thành phố lớn, TP. Hồ Chí Minh là nơi có số LĐNN đông nhất chiểm 23,43%, tiếp
đó là Hà Nội có khoảng 12,73%.
Bảng số 2. Một số địa phương có số lượng lớn lao động nước ngoài
ST
Tỉnh/ TP
T
1
TP Hồ Chí
Minh
Tổng
số( người)
11,23
5
Đồng Nai
5.943
7,71
6
Quảng Ninh
2.301
2,98
7
Bắc Ninh
2
2,56
8
Hải Phòng
suất lao động xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh.
Hai là, tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam.
Ba là, tạo môi trường cạnh tranh giữa lao động Việt Nam với lao động nước
ngoài.
Bốn là, góp phần đào tạo nhân lực tại chỗ theo tương tác thẩm thấu.
•
Bên cạnh những cơ hội, lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam kéo theo
nhiều tác động tiêu cực, nhiều thách thức như:
Một là, làm giảm thu nhập yếu tố thuần (NX) trong tổng thu nhập quốc gia
(GNI). Người lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc họ có thu nhập và được
chuyển về nước phần thu nhập còn lại. Chính điều này làm giảm thu nhập yếu tố
thuần trong tổng thu nhập quốc gia; kết quả là làm giảm tổng thu nhập quốc gia.
Hai là, du nhập lối sống và văn hoá ngoại lai không phù hợp với thuần
phong, mỹ tục của người Việt, làm sai lệch các chuẩn mực đạo đức, văn hoá truyền
thống. Một số lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc, họ mang theo văn hoá
của dân tộc và đất nước họ. Cùng với những yếu tố văn minh, hiện đại; đồng thời
họ cũng mang theo lối sống, văn hoá độc hại không phù hợp với thuần phong, mỹ
tục và bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đến từ hơn 60 quốc gia, trong đó,
khoảng 58% mang quốc tịch châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Malaysia…), mang quốc tịch châu Âu chiếm khoảng 28,5% (Anh, Pháp…) và các
nước khác chiếm khoảng 13,5%.
Về trình độ học vấn phản ánh nhu cầu lao động nước ngoài trình độ cao để
bù đắp “khoảng trống” của thị trường lao động trong nước. Có 82,6% LĐNN trong
Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ
Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm
2015 có 2.558.678 người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Như vậy tính trung bình
trong 26 năm, mỗi năm có khoảng gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài.
Di dân cũng ảnh hưởng tới cung lao động hiện tại và cung lao động tiềm
năng. Di dân lập tức làm thay đổi cung lao động hiện tại của đất nước có luồng di
dân đi (làm giảm). Hoạt động di dân thường diễn ra do con người cảm thấy không
thể có điều kiện sống tốt ở nơi cũ nên có nhu cầu chuyển đến nơi mới, dễ tìm việc
làm hơn. Nên hoạt động di dân thường thường kéo theo nước có luồng di dân đến
sẽ tăng lượng cung lao động hiện tại.
Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp,
quy mô di cư ngày càng gia tăng.
Hầu hết người Việt Nam di cư đến các nước phát triển, trong đó tập trung
đông nhất là ở Mỹ (hơn 1,3 triệu người), Pháp (125,7 nghìn người), Đức (gần 113
nghìn người), Canada (182,8 nghìn người), Úc (227,3 nghìn người), Hàn Quốc
(114 nghìn người),...
Tại các nước Đông Âu, và một số nước châu Á như Lào, Campuchia,
Malaysia mỗi nước có khoảng trên 10.000 người Việt di cư đến đây. Cũng theo tổ
chức này, trong năm 2015, 2,67% công dân Việt Nam sinh sống tại nước ngoài.
Điều này cho thấy quy mô di cư ở Việt Nam ngày càng tăng, dẫn đến việc
cung lao động Việt Nam ngày càng giảm đi.
Xét về cung lao động tiềm năng, nước có luồng di dân đi sẽ bị giảm. Là do
cung lao động hiện tại cũng là cung lao động tiềm năng, nếu di dân cả một gia đình
hay cộng đồng vấn đề này càng được thể hiện rõ hơn. Ngược lại nước có luồng di
dân đến cung lao động tiềm năng sẽ tăng lên
Tính đến tháng 12-2014, cả nước có 76.309 lao động nước ngoài đang làm
việc. Trong đó, số lao động không thuộc diện cấp phép lao động là 5.610 người,
chiếm 7,35%. Lao động nước ngoài đến từ 74 quốc gia (người có quốc tịch châu Á