TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TÁC ĐỘNG VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
GV phụ trách: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Học phần: Tài chính doanh nghiệp Đề tài nghiên cứu
TÁC ĐỘNG VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH
LỢI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Lớp TCDN Ngày – Khoá 22
Danh sách nhóm:
1) Nguyễn Công Tiến (ĐT: 0977 961 774)
2) Chương Minh Luân
3) Lâm Thúy Nhi
4) Phan Nguyễn Kim Ngân
5) Lương Minh Tú
Năm 2013
i

MỤC LỤC

CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1
1.1. Lý do chọn đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu 2

PHỤ LỤC

iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Thuật ngữ viết tắt
Tên đầy đủ
GOP
Tỷ suất lợi nhuận hoạt động gộp
ROA
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
RCP
Số ngày thu tiền bình quân
ICP
Số ngày tồn kho bình quân
PDP
Số ngày phải trả bình quân
CCC
Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
CR
Tỷ số thanh toán hiện hành
DR
Tỷ số nợ trên tổng tài sản

hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hoá
ngày càng cao và sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, nhu cầu vốn luân
chuyển cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu
tư phát triển ngày càng lớn. Trong khi nhu cầu về vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy
động vốn của doanh nghiệp lại bị hạn chế. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải
sử dụng vốn luân chuyển sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín
dụng và chấp hành pháp luật.
Mặc dù các quyết định tài chính ngắn hạn thì dễ dàng được đưa ra hơn là quyết định dài hạn.
Tuy nhiên, không phải vì lý do đó mà quyết định tài chính ngắn hạn trở nên kém phần quan
trọng. Một doanh nghiệp có thể xác định được các cơ hội đầu tư có giá trị, tìm được chính xác
tỷ lệ nợ tối ưu, theo đuổi một chính sách cổ tức hoàn hảo, nhưng vẫn thất bại nếu không quan
tâm đến việc quản trị các nguồn lực ngắn hạn. Việc quản trị vốn luân chuyển thì rất quan trọng
vì nó ảnh hưởng đến lợi nhuận, rủi ro của công ty và do đó ảnh hưởng đến giá trị của công ty.
Đó chính là lý do mà nhóm nghiên cứu chọn đề tài này.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chính của bài luân là nghiên cứu tác động của việc quản trị vốn luân chuyển đến khả
năng sinh lợi của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Việc phân
tích các mối quan hệ này dựa trên các mô hình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới. Bài nghiên
cứu sẽ kiểm định tác động của các yếu tố trong vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lợi
cứa các doanh nghiệp Việt Nam.

2

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu chọn mẫu quan sát là 146 doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực được niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007-2012. Toàn bộ dữ liệu về báo
cáo tài chính được lấy trên trang www.cophieu68.com và tất cả các doanh nghiệp được nhóm
nghiên cứu lựa chọn là những doanh nghiệp hiện vẫn còn hoạt động trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.

chi phí và duy trì mức tối ưu tiền mặt, nguyên vật liệu. Vốn luân chuyển là kết quả của độ trễ
giữa các chi phí để mua nguyên vật liệu và từ việc bán các hàng hóa thành phẩm.
Liên quan đến tiềm năng của quản trị vốn luân chuyển và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả hoạt
động của công ty là tâm điểm của một số lượng đáng kể các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
trong nhiều năm và trong những môi trường khác nhau.
Kamath (1989)[18] đã thực hiện nghiên cứu dựa trên các công bán lẻ và kết luận rằng sự liên
kết ngược chiều giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và hiệu quả hoạt động. Điều này có nghĩa là
hiệu quả hoạt động tăng lên bằng cách giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt.
Wang (2002) [35] đã kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu quả hoạt
động của công ty, và thấy rằng đầu tư ít hơn vào vốn luân chuyển sẽ dẫn đến tăng hiệu quả hoạt
động của công ty.
Shin và Soenen (1998)[32] [nghiên cứu dựa trên việc sử dụng 58.985 mẫu dữ liệu công ty –
năm trên COMPUSTAT trong suốt giai đoạn năm 1975 – 1994, họ tìm ra mối tương quan dương
mạnh giữa độ dài của chu kỳ kinh doanh – dùng để đo lường quản trị vốn luân chuyển – đối với
khả năng sinh lời. Ngoài ra, chu kỳ kinh doanh ngắn gắn liền với nguy cơ cao hơn cổ phiếu bị
điều chỉnh lợi nhuận. Dựa trên kết quả đó, họ kết luận rằng có một cách khả thi để tạo ra giá trị
của cổ đông chính là cắt giảm chu kỳ kinh doanh của công ty.
Deloof (2003)[7] thảo luận rằng phần lớn các công ty sử dụng một lượng lớn tiền mặt để đầu tư
vào vốn luân chuyển. Do đó, có thể kỳ vọng rằng cách quản trị vốn luân chuyển như vậy sẽ có
tác động đáng kể đến lợi nhuận của những công ty đó. Sử dụng một tập hợp mẫu gồm các công
ty phi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn 1992-1996, với các kiểm định tự tương quan và kiểm
định hồi quy, nghiên cứu đã kết luận một mối tương quan âm giữa lợi nhuận và số ngày các
4

khoản phải thu, hàng tồn kho và khoản phải trả. Do đó nghiên cứu gợi ý rằng giá trị cổ đông có
thể được tăng lên bằng cách giảm số ngày của các khoản phải thu và hàng tồn kho tới một mức
thấp nhất hợp lý. Tương quan âm giữa khoản phải trả và khả năng sinh lời phù hợp với nhận
định rằng các công ty có lợi nhuận thấp hơn sẽ cần thời gian lâu hơn để trả đủ các các khoản
thanh toán.
Eljelly (2004)[9] and Jose (1996) [17] khuyến nghị các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị bằng

giả công bố rằng có mối quan hệ nghịch giữa ROA và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Tác giả cho
rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng sẽ gia tăng lợi nhuận khi rút ngắn chu kỳ chuyển đổi
tiền mặt
Samiloglo và Demirgunes (2008) [29] tiến hành nghiên cứu để kiểm định mối quan hệ giữa
quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lơi. Áp dụng mô hình hồi quy đa biến trên những
doanh nghiệp sản xuất được niêm yết thị trường chứng khoán Istanbul trong giai đoạn từ 1996-
2002, các tác giả nhận thấy rằng chu kỳ khoản phải thu và kỳ tồn kho bình quân có tác động tiêu
tiêu cực đến lợi nhuận của công ty. Điều này có nghĩa là chu kỳ chuyển đổi tiền càng ngắn thì
lợi nhuận của công ty càng gia tăng.
Zariyawati et al. (2009) [36] cũng kiểm tra mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ( đại
diện cho vốn luân chuyển) và ROA ( đai diên cho chỉ số khả năng sinh lời) dựa trên dự liệu bảng
cho 1628 quan sát công ty – năm cho giai đoạn 1996 – 2006 từ 6 khu vực kinh tế khác nhau
được niêm yết trên Sàn chứng khoán Bursa Malaysia. Kết quả hệ số trong phân tích hồi quy
Pooled OLS đưa ra một mối tương quan âm mạnh giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng
sinh lời của công ty. Điều này hàm ý rằng việc cắt giảm thời gian chuyển đổi tiền mặt sẽ giúp
tăng lợi nhuận cho công ty. Do đó, các nhà quản trị của công ty nên thực hiện cắt giảm thời gian
chuyển đổi tiền mặt đến khi đạt được một giá trị tối ưu.
Nobanee và AlHajjar (2009b) [25] phân tích một mẫu gồm 2123 công ty phi tài chính ở Nhật,
được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo trong suốt giai đoạn 1990 – 2004 và kết
luận rằng các nhà quản trị công ty có thể tăng lợi nhuận bằng việc giảm chu kỳ chuyển đổi tiền
mặt, kỳ thu tiền bình quân và thời gian tồn kho bình quân. Các kết quả cũng gợi ý rằng việc mở
rộng kỳ phải trả bình quân cũng giúp tăng lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên, các nhà quản trị
nên cân nhắc vì mở rộng kỳ phải trả bình quân có thể gây tổn thất cho mức độ tín nhiệm của
công ty và tổn hại đến lợi nhuận của công ty trong dài hạn.
Mathuva (2009) [21] nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần cấu thành nên quản trị vốn luân
chuyển đối với lợi nhuận công ty dựa trên mẫu dữ liệu của 30 công ty niêm yết trên Sàn chứng
6

khoán Nairobi từ năm 1993 đến năm 2008. Ông dùng tương quan Pearson và Spearman, hồi quy
Pooled OLS, và mô hình tác động cố định để khai thác dữ liệu phân tích. Kết quả nghiên cứu

có thể là nguyên nhân làm giảm uy tín tín dụng của công ty và là kết quả làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp trong dài hạn.
Tại Ấn Độ, Vijay Kumar (2011) [34] kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và
khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong thị trường di động. Mẫu quan sát bao gồm 20 công ty
trong giai đoạn 13 năm từ 1996 đến 2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ nghịch
giữa việc kéo dài chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lợi doanh nghiệp. Nghiên cứu
của tác giả ủng hộ quan điểm trong những nghiên cứu trước đó tại Ấn cho rằng tác động vào lợi
nhuận do hiệu quả quản trị vốn luân chuyển của các nhà quản trị.
Kết quả của các nghiên cứu kết luận rằng quản trị vốn lưu động có tác động đến lợi nhuận của
doanh nghiệp. Nghiên cứu tiến hành trong khoảng thời gian khác nhau và liên quan đến các
công ty của các nước và các ngành công nghiệp khác nhau đã chỉ ra các mối tương quan tương
tự nhau.
Tổng kết lại, toàn bộ các nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng khả năng quản trị vốn luân
chuyển có tác động lên khả năng sinh lời của công ty.
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp được tóm tắt trong bảng sau:

8

Bảng 1.1 – Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Nghiên cứu
Loại dữ liệu
Quốc gia và thời gian
nghiên cứu
Phương pháp
hồi quy
Kết quả
Kamath (1989)
Dữ liệu bảng
 Các công ty bán lẻ

Pooled OLS và
Fixed Effects
Model.
- Có mối tương quan âm đáng kể giữa lợi nhuận gộp
và số ngày phải thu, thời gian tồn kho với ngày phải
trả bình quân của các công ty Bỉ.
- Các nhà quản trị có thể tạo thêm giá trị cho các cổ
đông bằng cách cắt giảm số ngày phải thu và hàng
tồn kho đến một mức tối thiểu hợp lý.
9

Nghiên cứu
Loại dữ liệu
Quốc gia và thời gian
nghiên cứu
Phương pháp
hồi quy
Kết quả
Eljelly (2004)
Dữ liệu bảng
 27 công ty phi tài chính
ở Ả Rập Saudi.
 Giai đoạn 1996-2000
Phân tích tương
quan và hồi quy
- Các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị bằng cách giảm
hàng tồn kho và số ngày của các khoản phải trả và
rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt .
Khan, S.U, et al
(2006)

models.
- Có một mối tương quan âm rất mạnh giữa các biến
đại diện cho việc quản trị vốn lưu chuyển (chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt, kỳ thu tiền bình quân, kỳ tồn
kho bình quân) đối với lợi nhuận các công ty.
- Tính thanh khoản, đòn cân nợ có quan hệ ngược
chiều với lợi nhuận, trong khi đó quy mô có mối
tương quan dương.
10

Nghiên cứu
Loại dữ liệu
Quốc gia và thời gian
nghiên cứu
Phương pháp
hồi quy
Kết quả
Teruel và
Solano (2007)
Dữ liệu bảng
 8872 công ty ở Tây Ban
Nha.
 Giai đoạn 1996-2002
- Random Effect
Model.
- Fix Effect
Model
- Mối quan hệ nghịch giửa ROA và chu kỳ chuyển
đổi tiền. Cu thể, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng
sẽ gia tăng lợi nhuận khi rút ngắn chu kỳ chu kỳ

Nghiên cứu
Loại dữ liệu
Quốc gia và thời gian
nghiên cứu
Phương pháp
hồi quy
Kết quả
- Không có sự khác biệt đáng kể trong ảnh hưởng
của việc quản trị vốn luân chuyển giữa các công ty
lớn so với các công ty nhỏ.
Mathuva (2009)
Dữ liệu bảng
 30 công ty niêm yết trên
Sàn chứng khoán
Nairobi
 Giai đoạn: 1993 - 2008
Tương quan
Pearson và
Spearman.
Pooled OLS.
- Mối tương quan âm rất lớn và có ý nghĩa giữa kỳ
thu tiền bình quân so với khả năng sinh lời.
- Mối tương quan dương có ý nghĩa giữa biến lợi
nhuận đối với thời gian tồn kho bình quân hay kỳ
trả tiền bình quân.
Zariyawati et al.
(2009)
Dữ liệu bảng
 Các công ty Malaysia.
 Giai đoạn 1996-2006.

 204 công ty phi tài
chính.
 Giai đoạn 1998-2005
OLS
- Tỷ lệ gia tăng trong chính sách vốn luân chuyển và
quá trình tài trợ có tác động tiêu cưc đến tỷ số khả
năng sinh lợi đối với tài sản (ROA).
Zariyawati et al.
(2009)
Dữ liệu bảng
 Các công ty Malaysia.
 Giai đoạn 1996-2006
Pool OLS
- Mối quan nghịch biến của vốn luân chuyển và khả
năng sinh lợi. Điều này có nghĩa là nhà quản tri có
thể tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách
giảm độ dài của kỳ chuyển đổi tiền.
Sun và Oruc
(2009)
Dữ liệu bảng
 49 doanh nghiệp thuộc
các ngành điện, thưc
phẩm, hóa chất, xi măng
và dệt.
 Giai đoan 1993-2007
Hồi quy đa biến
tuyến tính OLS.
- Quản trị vốn luân chuyển hiệu quả ( rút ngắn kỳ
chuyển đổi tiền và hê số thanh toán hiện hành là
nguyên nhân dẫn đến gia tăng khả năng sinh lợi.

tiền mặt và hoạt dộng của doanh nghiệp, trong khi
đó có mối quan hệ tích cực giữa số ngày khoản phải
trả và hoạt động doanh nghiệp.
- Khuyến nghị các nhà quản lý có thể tăng lợi nhuận
bằng cách giảm số ngày khoản phải thu và hàng tồn
kho.
Nobanee,
Abdullatif và
AL hajjar
(2011)
Dữ liệu bảng
 2123 công ty trên thị
trường chứng khoán
Nhật Bản.
 Giai đoạn từ 1990-
2004
Pooled OLS.
- Các nhà quản trị nên cẩn trọng với việc kéo dài
khoản phải trả bởi lẽ đây có thể là nguyên nhân làm
giảm uy tín tín dụng của công ty và là kết quả làm
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp trong dài hạn.
Vijai Kumar
(2011)
Dữ liệu bảng
 20 cty trong thị trường
di động.
 Giai đoạn 1996-2009
Pooled OLS.
- Có mối quan hệ nghịch giữa viêc kéo dài chu kỳ
chuyển đổi tiền và khả năng sinh lợi doanh nghiệp.

GOP = β0 + β1 (PDPit) + β2 (DRit) + β3 (CRit)+ β4 (LnSit) + β5 (FARit) + ε.
GOP = β0 + β1 (CCCit) + β2 (DRit) + β3 (CRit)+ β4 (LnSit) + β5 (FARit) + ε.
Trong đó,
GOP(%) : tỷ suất lợi nhuận hoạt động gộp
CCC (ngày) : Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt.
RCP (ngày) : Kỳ phải thu bình quân.
ICP (ngày) : Kỳ tồn kho bình quân.
PDP (ngày) : Kỳ phải trả bình quân.
CR : Tỷ số thanh toán hiện hành.
DR : Đòn cân nợ trên tổng tài sản.
FAR : Tỷ số tài sản tài chính trên tổng tài sản.
Kết quả hồi quy thấy rằng có mối quan hệ tiêu cực giữa kỳ phải thu bình quân, kỳ tồn kho
bình quân, kỳ phải trả bình quân và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với khả năng sinh lợi.
2.2.2. Mô hình nghiên cứu trong công trình của hai tác giả Ebrahim Mansoori và Darin
Dr.Joriah Muhammad (2012) [23]
Nội dung nghiên cứu là vấn đề quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty
tại Singapore. Với việc sử dụng dữ liệu bảng cùng với việc phương pháp Pooled OLS và
phương pháp hồi quy mô hình ảnh hưởng cố định ( Fixed Effect model), khảo sát các công
16

`
ty tại Singapore trong khoảng thời gian 2004 đến 2011, các tác giả phát hiện ra rằng người
quản trị có thể tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng việc quản trị hiệu quả vốn luân
chuyển. Ngoài ra, người quản tri có thể tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách rút
ngắn lại kỳ phải thu bình quân và kỳ tồn kho bình quân.
Mô hình bài nghiên cứu:
ROA= β0 + β1 CCC + β2 SIZE + β3 LEV + β4 GROWTH +β5 GPD+ ε.
ROA= β0 + β1 RCP + β2 SIZE + β3 LEV + β4 GROWTH +β5 GPD+ ε.
ROA= β0 + β1 ICP + β2 SIZE + β3 LEV + β4 GROWTH +β5 GPD+ ε.
ROA= β0 + β1 PDP + β2 SIZE + β3 LEV + β4 GROWTH +β5 GPD+ ε

ROA(%) : Tỷ suất sinh lợi trên tài sản.
CCC (ngày) : Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt.
RCP (ngày) : Kỳ phải thu bình quân.
ICP (ngày) : Kỳ tồn kho bình quân.
PDP (ngày) : Kỳ phải trả bình quân.
CR : Tỷ số thanh toán hiện hành.
DR : Đòn cân nợ trên tổng tài sản.
LnS : Quy mô của công ty ( logarit tự nhiên của doanh thu).
Kết quả bài nghiên cứu khẳng định lợi nhuận của công ty sẽ sẽ tích cực thông qua việc cải
thiện các thành phần của vốn luân chuyển.
2.2.4. Mô hình nghiên cứu trong công trình của Muhammad Safdar Sial (2012) [22]
Mục tiêu của bài nghiên cứu là đo lường mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu
quả của công ty trong lĩnh vực sản xuất của Pakistan. Mẫu gồm 100 công ty niêm yết trong
lĩnh vực sản xuất của Pakistan trên thị trường chứng khoán Karachi trong khoảng thời gian
10 năm từ 1999-2008. Dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu này có được từ thị trường chứng
khoán Karachi (K.S.E) và từ các phân tích bảng cân đối kế toán của các công ty cổ phần bởi
Ngân hàng Nhà Nước Pakistan. Chúng tôi đã nghiên cứu ảnh hưởng của các biến khác nhau
của quản trị vốn luân chuyển bao gồm kỳ thu tiền bình quân, kỳ tồn kho bình quân, kỳ phải
trả bình quân và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Tỷ lệ thanh toán hiện hành, quy mô và đòn cân
nợ được sử dụng như các biến điều khiển
Mô hình bài nghiên cứu:
ROAit= β0 + β1 (ACPit) + β2 (ITIDit) + β3 (APPit) + β4 (CCCit) + β5 ( SIZE it) + β6 (DRit)
+ β7 (CRit)+ ε.

18

`
Trong đó:
ROA(%) : Tỷ suất sinh lợi trên tài sản.
ACP (ngày) : Kỳ thu tiền bình quân.

thời là biến phụ thuộc. Riêng đối với bài nghiên cứu thứ hai, ngoài biến ROA các tác giả còn
sử dụng đồng thời biến GOP làm biến phụ thuộc. Thừa kế ý tưởng đó, nhóm nghiên cứu sử
dụng cả hai biến ROA và GOP làm biến phụ thuộc đại diện cho biến khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp. Ngoài ra, các biến chu kỳ chuyển đổi tiền (CCC), RCP (kỳ phải thu bình
quân), PDP (kỳ phải trả bình quân), ICP (kỳ tồn kho bình quân) lần lượt đai diện cho biến
vốn luân chuyển đồng thời là biến độc lập được thể hiện trong các mô hình. Ngoài ra, các
tác giả còn sử dụng biến tỷ số nợ, tỷ số thanh toán hiện hành, tốc độ tăng trưởng doanh thu
của doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng GDP làm biến kiểm soát. Có hai nguyên nhân để
các tác giả không đưa các biến như CCC, RCP, ICP, PDP vào cùng một mô hình. Thứ nhất,
việc tách các yếu tố của vốn luân chuyển ra riêng từng mô hình sẽ giúp các tác giả dễ dàng
nhận thấy tác động tích cực hoặc tiêu cực của từng nhân tố này đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Thứ hai, bản thân các yếu tố của vốn luân chuyển có liên hệ với nhau. Do đó, việc
đưa vào cùng một mô hình sẽ tạo ra đa cộng tuyến và kết quả mô hình cũng như các chỉ số
thống kê F và thống kê t sẽ không còn chính xác. Theo quan điểm đó, nhóm làm nghiên cứu
xây dựng tám mô hình để nghiên cứu tác động vốn luân chuyển đến lợi nhuận của các doanh
nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Các mô hình như sau:
Mô hình 1:
ROAit= β0 + β1 (CCCit) + β2 ( SIZE it) + β3 (DRit) + β4 (CRit)+ β5 (GROWTHit) + β6 (GPD)+ ε.
Mô hình 2:
ROAit= β0 + β1 (RCPit) + β2 ( SIZE it) + β3 (DRit) + β4 (CRit)+ β5 (GROWTHit) + β6 (GPD)+ ε.
Mô hình 3:
ROAit= β0 + β1 (ICPit) + β2 ( SIZE it) + β3 (DRit) + β4 (CRit)+ β5 (GROWTHit) + β6 (GPD)+ ε.
20

`
Mô hình 4:
ROAit= β0 + β1 (PDPit) + β2 ( SIZE it) + β3 (DRit) + β4 (CRit)+ β5 (GROWTHit) + β6 (GPD)+ ε.
Mô hình 5:
GOPit= β0 + β1 (CCCit) + β2 ( SIZE it) + β3 (DRit) + β4 (CRit)+ β5 (GROWTHit) + β6 (GPD)+ ε.
Mô hình 6:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status