i
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán đã ra đời, tồn tại và phát triển rất hưng thịnh ở các
nước Tây Âu và các nước có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên mãi đến năm 2000 thị
trường chứng khoán mới thực sự được xây dựng ở Việt Nam và trở thành một công cụ
tài chính đắc lực cho thị trường tài chính Việt Nam.
Sau khi thị trường Chứng Khoán ra đời nó nhanh chóng trở thành trung điểm
chú ý của nhiều đối tượng, đặc biệt là các Doanh nghiệp và nhà đầu tư. Tất cả các
Doanh nghiệp đều cố gắng đưa cổ phiếu của mình ra thị trường, đều cố gắng trở thành
công ty đại chúng. Các nhà đầu tư thì thông qua thị trường chứng khoán để đạt được
những mục tiêu của mình. Tính tới thời điểm hiện nay thị trường Chứng Khoán đã thực
sự bùng nổ tại Việt Nam và trở thành thị trường tài chính nóng nhất trong nền kinh tế.
Thuật ngữ về chứng khoán, đầu tư chứng khoán đã trở nên gần gũi và quen thuộc,
thậm chí đầu tư chứng khoán đã trở thành nghề chính của nhiều người dân Việt Nam.
Tuy nhiên do đây vẫn còn là một lĩnh vực còn hết sức mới mẻ do vậy phần lớn các
Doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư am hiểu về nó còn hạn chế . Do vậy một yêu
cầu đặt ra là phải nhanh chóng cập nhập những kiến thức về chứng khoán cũng như
liên quan đến chứng khoán cho các Doanh nghiệp, nhà đầu tư để tránh tình trạng bị
thua lỗ do thiếu hiểu biết về chứng khoán.
Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian
qua thì những thuật ngữ như cổ tức, chính sách chi trả cổ tức…không còn mới với
nhiều người. Tuy nhiên để thực sự hiểu rõ vấn đề này thì không phải là dễ thậm chí đối
với nhiều Doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường. Khi thực hiện niêm yết trên thị
trường chứng khoán hay thực hiện giao dịch trên thị trường phi tập trung, ngoài tình
hình hoạt động của Doanh nghiệp, tỷ lệ chi trả cổ tức, hình thức chi trả cổ tức luôn là
vấn đề nhà đầu tư quan tâm đến để lựa chọn đánh giá và quyết định đầu tư. Vì thế các
công ty cần xây dựng chính sách cổ tức hợp lý, thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư.
Ngược lại các cổ đông cần hiểu rõ về chính sách cổ tức và những dấu hiệu của chính
sách này để ra quyết định đầu tư đúng đắn.
ii
1.1.1 Lợi nhuận và cổ tức của doanh nghiệp 1
1.1.2 Các phương thức trả cổ tức 1
1.1.2.1 Cổ tức trả bằng tiền mặt 2
1.1.2.2 Cổ tức trả bằng cổ phiếu 2
1.1.2.3 Cổ tức trả bằng tài sản 3
1.1.2.4 Mua lại cổ phần 3
1.1.3 Tỷ suất cổ tức 4
1.1.4 Tỷ lệ bảo chứng cổ tức 5
1.2 Chính sách cổ tức 5
1.2.1 Chính sách cổ tức và tầm quan trọng của chính sách cổ tức 5
1.2.2 Các yếu tố quyết định đến chính sách cổ tức 6
1.2.2.1 Đặc điểm của ngành và doanh nghiệp 6
1.2.2.2 Các hạn chế về pháp lý 7
1.2.2.3 Các ảnh hưởng của thuế 8
1.2.2.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh toán của doanh ngiệp 8
1.2.2.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn 8
1.2.2.6 Ổn định thu nhập 8
1.2.2.7 Triển vọng tăng trưởng 9
1.2.2.8 Lạm phát 9
1.2.2.9 Các ưu tiên của cổ đông 9
1.2.2.10 Bảo vệ chống loãng giá 9
1.2.2.11 Gía cổ phiếu trong những ngày đặc biệt 9
1.2.3 Các chính sách cổ tức 10
1.2.3.1 Hai lý thuyết cơ bản về chính sách cổ tức 11
1.2.3.2 Một số chính sách trả cổ tức phổ biến 13
1.3 Các lý thuyết về chính sách cổ tức 17
1.3.1 Chính sách cổ tức tác động không ảnh hưởng đến giá trị của DN 18
1.3.1.1 Các giả định của MM 18
iv
2.2.1.5 Tình hình nguồn vốn, cổ phiếu và cổ đông của STB 42
2.2.1.6 Tình hình tài chính 44
2.2.2 Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) 46
v
2.2.2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Á Châu 46
2.2.2.2 Qúa trình hình thành và phát triển 47
2.2.2.3 Lĩnh vực hoạt động 49
2.2.2.4 Vị thế của ACB trong thị trường Ngân hàng tại Việt Nam. 49
2.2.2.5 Tình hình nguồn vốn, cổ phiếu và cổ đông của ACB 50
2.2.2.6 Tình hình tài chính 51
2.3 Chính sách cổ tức của ngân hàng niêm yết 53
2.3.1 Chính sách cổ tức các ngân hàng sử dụng 53
2.3.1.1 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (STB) 53
2.3.1.2 Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) 55
2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức và kế hoạch trả cổ tức 56
2.3.2.1 Đặc điểm của ngành và của Ngân hàng 56
2.3.2.2 Triển vọng tăng trưởng 56
2.3.2.3 Ảnh hưởng về khả năng thanh khoản của các Ngân hàng 57
2.3.2.4 Các ưu tiên cổ đông 58
2.3.2.5 Chính sách thuế 58
2.3.2.6 Tăng trưởng và lạm phát 59
2.3.2.7 Các chỉ số tài chính của các Ngân hàng ảnh hưởng 59
2.3.3 Thực tế quy trình trả cổ tức tại các Ngân hàng 62
2.3.3.1 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (STB) 64
2.3.3.2 Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) 64
2.4 Những ảnh hưởng của c/s cổ tức đến Ngân hàng và thị giá Ngân hàng 65
2.4.1 Chính sách cổ tức ảnh hưởng đến giá trị ngân hàng 65
2.4.1.1 Phương thức trả cổ tức 65
2.4.1.2 Tỷ lệ chi trả cổ tức 68
Chia lãi cho các đối tác góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh
Trích lập các quỹ dùng cho DN như quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát
triển, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…
Giữ lại để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chia cổ tức cho cổ đông.
Cổ tức được tính chủ yếu trên cơ sở lợi nhuận chưa sử dụng đến của doanh
nghiệp cũng như viễn cảnh kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm tiếp theo.
Sau khi đã được đề xuất bởi hội đồng quản trị và ban kiểm soát trước đại hội cổ đông
hàng năm, cổ tức sẽ được thông báo cho các cổ đông, là lượng tiền mặt họ nhận được
tính theo số cổ phiếu sở hữu hay phần trăm trong lợi nhuận của DN.
1.1.2 Các phương thức trả cổ tức
Bất cứ sự thanh toán trực tiếp nào của doanh nghiệp cho các cổ đông đều được
coi là chính sách cổ tức.
Thông thường trả cổ tức được hiểu là sự chi trả, phân phối từ phần vốn lợi nhuận
của Doanh nghiệp cổ phần cho các cổ đông. Cổ tức là phần lợi nhuận mà cổ đông được
2
nhận từ phần lợi nhuận có được từ hoạt hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp do cổ
đông góp vốn.
Những sự chi trả từ nguồn khác không phải từ lợi nhuận thì không phải là cổ tức.
Chỉ những sự chi trả từ vốn lợi nhuận làm thay đổi vốn lợi nhuận mà không làm thay
đổi vốn góp cổ phần mới được gọi là cổ tức.
Hình thức phổ biến nhất của trả cổ tức là bằng tiền mặt. Ngoài ra doanh nghiệp
còn có thể chi trả cổ tức thông qua trả bằng cổ phiếu hay tài sản.
1.1.2.1 Cổ tức trả bằng tiền mặt
Hầu hết cổ tức được trả dưới dạng tiền mặt. Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ
sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm mệnh giá. Mệnh giá là giá trị được ấn định
trong giấy chứng nhận cổ phiếu theo điều lệ hoạt động của công ty.
Ví dụ mệnh giá của cổ phiếu là 10.000 đồng. Tỷ lệ chi trả là 12%. Nghĩa là mỗi
cổ phiếu được nhận cổ tức là 10.000x 12%= 1.200 đồng. Cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu
1.1.2.3 Cổ tức trả bằng tài sản
Doanh nghiệp trả cổ tức bằng cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán , bất động
sản hay cổ phiếu của công ty khác do doanh nghiệp sở hữu. Hình thức này hiếm gặp
trong thực tế
1.1.2.4 Mua lại cổ phần
Doanh nghiệp tiến hành mua lại toàn bộ hay một phần số cổ phiếu do chính
doanh nghiệp phát hành hiện đang thuộc sở hữu cá nhân của cổ đông.
Khi bán lại CP cho chính doanh nghiệp, các cổ đông sẽ nhận được một khoản tiền
từ phía doanh nghiệp nhưng họ không còn nắm giữ quyền sở hữu số CP đó nữa.
Sau khi quá trình mua lại kết thúc, vốn cổ phần đang lưu hành của doanh nghiệp
bị giảm xuống. Hệ số lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE), hệ số thu nhập trên vốn cổ
phần (EPS) tăng lên.
4
Cũng giống như khi trả cổ tức, khi doanh nghiệp mua lại cổ phiếu đã phát hành
thì các cổ đông cũng được nhận một khoản tiền do chính doanh nghiệp trả. Vì vậy về
bản chất khi xét xem khía cạnh phân phối nguồn tiền cho cổ đông, việc mua lại cổ
phiếu cũng tuơng tự như trả cổ tức bằng tiền và hành động này được xem như một cơ
chế phân phối tiền cho cổ đông mà một doanh nghiệp có thể lựa chọn thay thế cho việc
trả cổ tức bằng tiền.
Khi doanh nghiệp tiến hành mua lại cổ phiếu, chỉ có những cổ đông bán lại toàn
bộ hoặc một phần số cổ phiếu đang nắm giữ mới nhận được số tiền phân phối.
Khi mua lại cổ phiếu phổ thông, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong năm
phương pháp sau đây :
Chào mua với giá cố định
Mua lại cổ phiếu trên thị trường mở
Mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá kiểu Hà Lan
Phân phối quyền bán lại có khả năng chuyển nhượng
Mua lại cổ phiếu mục tiêu
1.2.1 Chính sách cổ tức và tầm quan trọng của chính sách cổ tức
Chính sách tài trợ, chính sách đầu tư và chính sách cổ tức là ba chính sách tài
chính quan trọng của doanh nghiệp. Trong đó :
Chính sách cổ tức là chính sách liên quan tới việc xác định lượng tiền mặt dùng
để trả cổ tức cho các cổ đông thường của công ty, qui định việc dùng bao nhiêu lượng
tiền mặt để đầu tư vào sự phát triển của công ty.
Mặc dù được xếp ưu tiên thấp hơn so với chính sách tài trợ và chính sách đầu tư,
nhưng các nhà quản lý tài chính thường tỏ ra thận trọng và có những xem xét đặc biệt
khi lựa chọn chính sách cổ tức cho công ty họ, vì những lý do chủ yếu sau :
6
Thứ nhất, chính sách phân chia cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ
đông. Bởi lẽ, thông thường đại bộ phận cổ đông đầu tư vào công ty đều mong đợi được
trả cổ tức cao. Vì thế việc tăng giảm hay cắt cổ tức của mỗi công ty sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến giá cổ phiếu của công ty trên thị trường.
Thứ hai, chính sách chia cổ tức ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của công
ty. Vì chính sách cổ tức sẽ quyết định tỷ lệ tái đầu tư để phát triển công ty và đây sẽ là
nguồn vốn quan trọng hơn phát hành cổ phần mới.
Vì những lý do trên những người lãnh đạo và quản lý công ty luôn cân nhắc, xem
xét chính sách phân chia cổ tức sao cho hợp lý và phù hợp với tình hình và xu thế phát
triển của công ty. Đối với Việt Nam, việc xem xét chính sách phân chia cổ tức của các
công ty cổ phần ở các nước đã có quá trình phát triển lâu dài là điều cần thiết để rút ra
kinh nghiệm cho sự phát triển của công ty cổ phần ở nước ta.
1.2.2 Các yếu tố quyết định đến chính sách cổ tức
1.2.2.1 Đặc điểm của ngành và doanh nghiệp
Chu kỳ sống của một ngành và DN có thể tạm chia thành bốn giai đoạn:
Giai đoạn phát triển: trong giai đọan này cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi nhuận
cao tất cao nên các doanh nghiệp thường không trả cổ tức bằng tiền mà dành
khoản lợi nhuận để tái đầu tư.
Giai đoạn tăng trưởng: Trong giai đoạn này doanh nghiệp vẫn có mức tăng
qua và hiện tại, hạn chế DN rút vốn đầu tư ban đầu để chi trả cổ tức.
Hạn chế mất khả năng thanh toán: không thể chi trả cổ tức khi doanh nghiệp mất
khả năng thanh toán.
Các điều khoản hạn chế nằm trong các giao kèo trái phiếu, điều khoản vay, thoả
thuận vay ngắn hạn, hợp đồng thuê tài sản, các thoả thuận cổ phần ưu đãi.
Các điều khoản hạn chế này có thể yêu cầu doanh nghiệp chỉ có thể trả cổ tức khi
lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được đến một mức nào đó.
8
1.2.2.3 Các ảnh hưởng của thuế
Thuế thu nhập cổ tức thông thường có ảnh hưởng đến quyết định về chính sách
chi trả cổ tức. Khi thuế thu nhập cá nhân đánh trên thu nhập cổ tức cao hơn thuế suất
đánh trên thu nhập lãi vốn dài hạn thì các doanh nghiệp có khuynh hướng giữ mức cổ
tức thấp để các cổ đông có thể nhận được một phần lớn hơn tỷ suất sinh lợi trước thuế
dưới hình thức lãi vốn nghĩa là làm tăng tỷ suất sinh lợi sau thuế của cổ đông.
1.2.2.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh toán của doanh ngiệp
Khả năng thanh khoản của doanh nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp có nhiều khả
năng chi trả cổ tức. Một doanh nghiệp có tỷ lệ tái đầu tư cao, số dư lợi nhuận ròng lớn
nhưng doanh nghiệp có thể không có khả năng chi trả cổ tức nếu tính thanh khoản của
tài sản thấp, nhất là không có tiền mặt.
Các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng thường khó duy trì sử dụng hết các
cơ hội đầu tư sinh lợi vừa duy trì tính thanh khoản để chi trả cổ tức.
1.2.2.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn
Các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài như vay
ngân hàng, phát hành trái phiếu, thương phiếu càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức vì
thu nhập giữ lại không phải là nguồn vốn duy nhất để mở rộng sản xuất.
Những doanh nghiệp ở giai đoạn đầu thường khó có thể huy động vốn từ bên
ngoài dù có nhu cầu lớn về vốn. Các doanh nghiệp có quy mô lớn và trung bình có thể
dễ dàng phát hành công cụ nợ hay phát hành cổ phiếu để chấp nhận trả cổ tức trong
đổi quyền sở hữu khi giao dịch xảy ra.
Ngày giao dịch mà khi đó người mua không được hưởng cổ tức mà người bán
vẫn được hưởng cổ tức gọi là ngày giao dịch không hưởng cổ tức.
10
Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng cổ tức được
tính bằng giá đóng cửa của cổ phiếu trong phiên trước đó trừ đi giá cổ tức:
P
tc
= P
t-1
– Div
Trong đó:
Ptc là giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền
Pt-1: giá chứng khoán của phiên giao dịch trước
Div: giá trị cổ tức
Giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không được hưởng quyền nhận
cổ tức bằng cổ phiếu được tính như sau
Thực chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu là đợt phát hành mới và bán cho cổ
đông hiện hữu. Quyền mua cổ phiếu tiềm ẩn trong hoạt động này và coi như
người có quyền dùng luôn cổ tức để mua cổ phiếu mới.
Giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền nhận cổ tức
bằng cổ phiếu là:
P
tc
= [P
t-1
+ (I*PR) – TTH ]/ 1+I
Trong đó:
Ptc : là giá tham chiếu CP trong ngày giao dịch không hưởng quyền
các khoản cổ tức cũng chỉ tăng lên một mức thấp hơn nhiều so với mức tăng lợi nhuận
của công ty. Các nhà quản lý có tâm lý chờ đợi xem việcc tăng lợi nhuận có tỏ ra bền
vững hay không trước khi điều chỉnh tăng cổ tức.
Những công ty theo đuổi các chính sách theo lý thuyết ổn định cổ tức thường vì
những lý do sau đây :
Thứ nhất, thực hiện ổn định cổ tức có thể làm tăng giá cổ phiếu của công ty trên
thị trường, bởi vì các nhà đầu tư có khuynh hướng đánh giá cao hơn số cổ tức mà họ
chắc chắn nhận được. Nếu cổ tức tăng giảm thất thường, các nhà đầu tư xem như sẽ có
12
nhiều rủi ro hơn. Điều này có nghĩa là với một mức cổ tức như nhau nhưng các nhà đầu
tư sẽ trả giá cao hơn cho cổ phiếu của công ty nào có mức trả cổ tức ổn định hơn.
Thứ hai, thực hiện ổn định cổ tức sẽ ổn định phần quản lý của công ty, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc quản lý công ty. Ở nhiều nước trên thế giới, một phần lớn các
cổ đông sống bằng thu nhập nhận được dưới hình thức cổ tức, do vậy nếu cổ tức của
công ty giao động bất thường thì nhiều cổ đông sẽ dễ dàng chuyển sang mua loại
chứng khoán có thu nhập cổ tức ổn định hơn.
Thứ ba, ổn định cổ tức là yếu tố quan trọng giúp cho công ty dễ dàng được niêm
yết trên sở giao dịch chứng khoán. Thông thường, một trong các tiêu chuẩn để cổ phiếu
của một công ty được niêm yết trên sở giao dịch là việc chi trả cổ tức của công ty liên
tục và không bị gián đoạn.
b. Lý thuyết thặng dư cổ tức
Mục tiêu của lý thuyết này là công ty chỉ tiến hành chi trả cổ tức sau khi đã đáp
ứng các nhu cầu về đầu tư và duy trì tỷ lệ cơ cấu vốn mục tiêu của công ty.
Xét từ góc độ của công ty, cơ sở của lý thuyết thặng dư cổ tức là nếu công ty có
nhiều cơ hội đầu tư có lãi và không muốn phải huy động vốn từ việc phát hành cổ
phần mới hay trái phiếu có chi phí cao, công ty sẽ sử dụng nguồn vốn từ lợi nhuận giữ
lại để tái đầu tư. Phần còn lại mới được dùng để chi trả cổ tức. Nếu xét từ góc độ của
nhà đầu tư, họ thường ưa thích công ty giữ lại lợi nhuận để đầu tư hơn là chi trả cổ tức
nếu như mức doanh lợi mà công ty đạt được cao hơn mức doanh lợi mà các nhà đầu tư
với tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi các cổ đông đòi hỏi. Doanh nghiệp theo
chính sách này sẽ có mức độ chi trả cổ tức thay đổi từ năm này sang năm khác tuỳ
thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn.
Trong thực tiễn, các doanh nghiệp thường cố gắng duy trì mức độ chi trả cổ tức
tương đối ổn định qua các năm. Các doanh nghiệp sẽ giữ lại lợi nhuận để lại với tỷ lệ
khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao. Khi doanh nghiệp tiếp tục tăng trưởng,
doanh nghiệp có thể theo đuổi tiếp chính sách này.
14 Chính sách áp dụng cho các doanh nghiệp tăng trưởng có tỷ lệ chi trả thấp hơn
các doanh nghiệp trong giai đoạn sung mãn.
Ví dụ : các cổ đông của một doanh nghiệp có thể đầu tư cổ tức của họ vào các cổ phần
có rủi ro tương tự với một tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng là 18%, con số này sẽ tạo thành tỷ
suất lợi nhuận đòi hỏi từ lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp.
Nếu như doanh nghiệp có thể đầu tư lợi nhuận của mình để đạt được tỷ suất sinh
lời cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông kỳ vọng thì doanh nghiệp không
nên chi trả cổ tức (theo chính sách giữ lại thụ động) bởi lẽ việc chi trả cổ tức sẽ dẫn đến
kết cuộc hoặc là doanh nghiệp hy sinh các cơ hội đầu tư có thể chấp nhận được hoặc
phải huy động thêm vốn cổ phần cần thiết từ các thị trường vốn bên ngoài tốn kém hơn
nhiều so với lợi nhuận giữ lại.
rằng nhà đầu tư sẽ trả giá cao hơn cho cổ phiếu có cổ tức ổn định.
Những lợi ích khi sử dụng chính sách cổ tức tiền mặt ổn định
Đối với công ty:
Thực hiện ổn định cổ tức có thể sẽ làm tăng giá cổ phiếu của công ty trên thị
trường bởi vì các nhà đầu tư thường có khuynh hướng đánh giá cao hơn số cổ tức mà
họ chắc chắn sẽ nhận được. Nếu cổ tức tăng giảm thất thường, các nhà đầu tư xem như
sẽ có nhiều rủi ro. Điều đó có nghĩa với cùng mức độ cồ tức như nhau, các nhà đầu tư
16
sẽ trả giá cao hơn cho cổ phiếu của công ty nào có mức trả cổ tức ổn định hơn, do đó sẽ
làm giảm chi phí sử dụng vốn cổ phần của công ty.
Thực hiện ổn định cổ tức sẽ ổn định thành phần cổ đông của công ty, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc quản lý công ty. Nếu cổ tức của công ty bị dao động bất thường
thì cổ đông sẽ dễ dàng chuyển sang mua loại chứng khoán có thu nhập cổ tức ổn định.
Ổn định cổ tức là yếu tố quan trọng giúp cho công ty dễ dàng được niêm yết
chứng khoán trên SGDCK.
Cổ tức ổn định là một đòi hỏi pháp lý. Nhiều định chế tài chính như các phòng uỷ
thác của ngân hàng , quỹ hưu bổng, các công ty bảo hiểmthường bị giới hạn về loại cổ
phần thường mà họ sở hữu. Để đủ tiêu chuẩn liệt kê trong “ danh sách hợp pháp” này ,
doanh nghiệp phải có thành tích cổ tức liên tục và cố định.
Đối với nhà đầu tư:
Nhiều nhà đầu tư cho rằng một sự cắt giảm cổ tức nghĩa là tiềm năng lợi nhuận về
dài hạn của doanh nghiệp đã giảm; ngược lại, một gia tăng trong lợi nhuận nghĩa là lợi
nhuận của doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng.
Một phần lớn cổ đông sống bằng thu nhập nhận được dưới hình thức cổ tức, do
đó nếu cổ tức của công ty bị dao động sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của họ. Mặt khác, dù
có thể bán bớt một số cổ phần như một nguồn thu nhập hiện tại khác nhưng do các chi
phí giao dịch và các lần bán với lô lẻ cho nên phương án này không thể thay thế một
cách hoàn hảo cho lợi nhuận cổ tức đều đặn.
Các khoản cổ tức định kỳ ở mức thấp và các khoản bổ sung cuối năm
trị doanh nghiệp
Myron Gordon, David Durand và John Lintner cho rằng chính sách cổ tức có ảnh
hưởng đến giá trị doanh nghiệp. 18 1.3.1 Chính sách cổ tức tác động không ảnh hưởng đến giá trị của DN
1.3.1.1 Các giả định của MM
Không có thuế: theo giả định này, các nhà đầu tư không quan tâm đến việc họ sẽ
nhận được thu nhập cổ tức hay lãi vốn.
Không có chi phí phát hành: khi DN phát hành cổ phần chứng khoán mới, DN sẽ
thụ đắc được vốn cổ phần cần thiết với cùng chi phí.
Không có chi phí giao dịch: các nhà đầu tư vào chứng khoán của các Doanh
nghiệp chi trả ít hoặc không chi trả cổ tức có thể bán lại bất cứ số cổ phần nào mà
họ muốn.
Chính sách đầu tư cố định và không thay đổi.
Thị trường vốn hoàn hảo đối với các nhà đầu tư. Thông tin có đầy đủ và tất cả
đều được miễn phí. Không có chi phí giao dịch, hoa hồng. Chứng khoán được
phân chia là vô hạn. Không có một nhà đầu tư nào có đủ khả năng gây ảnh hưởng
đến giá thị trường của chứng khoán.
1.3.1.2 Nội dung của lý thuyết của MM
MM là một hiện thân của trường phái trung dung khi công bố trong 1 công trình
nghiên cứu rằng trong một thế giới không có thuế, không có chi phí giao dịch và không
có các bất hoàn hảo của thị trường, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến tổng thu
nhập của cổ đông, hay nói cách khác, mọi chính sách cổ tức đều như nhau.
Trong mô hình của MM, các công ty, doanh nghiệp đều đã xây dựng một kế
hoạch đầu tư của mình và kế hoạch này không thay đổi trong tương lai. Kế hoạch này
cũng xác định rằng nhu cầu đầu tư này sẽ cần bao nhiêu vốn vay và cần bao nhiêu vốn
Toàn bộ giá trị
doanh nghiệp
Trước khi chia
c
ổ
t
ứ
c
Sau khi chia cổ
t
ứ
c
Cổ đông mới
Cổ đông cũ
Giá trị mỗi cổ
ph
ầ
n tr
ướ
c …
.
và
Sau khi
chia cổ
t