BÁO CÁO THẢO LUẬN
NHÓM 3
Câu hỏi thảo luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến thị trường
bảo hiểm Việt Nam. Chứng minh bằng một hiện tượng kinh tế.
Bài làm:
I.
Khủng hoảng kinh tế và ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến nền kinh tế
Việt Nam:
Khủng hoảng kinh tế, là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm
trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế. Khi khủng hoảng kinh tế bị suy thoái,
khủng hoảng sản xuất thừa sẽ làm gia tăng nhu cầu sử dụng tiền cho mục đích tiêu
dùng hàng hoá đến đỉnh điểm của nó tất yếu dẫn đến khủng hoảng tài chính.
Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung của xã hội gây
sức ép cho hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính khiến cho các ngân hàng và các
tổ chức tài chính có thể đổ vở.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2008-2009) bắt đầu từ khủng hoảng các hợp
đồng cho vay bất động sản thế chấp, tổng số khoảng 12 ngàn tỷ USD trong đó có 3
đến 4 ngàn tỷ USD là dưới chuẩn, khó đòi. Những hợp đồng đó được các chuyên
gia tài chính phố Wall gom lại và phát hành chứng khoán phát sinh được bảo đảm
bởi những hợp đồng cho vay thế chấp này để bán ra trên khắp thị trường quốc tế.
Khi các chứng khoán này mất giá thảm hại, thị trường không có người mua nên các
ngân hàng, công ty bảo hiểm các tổ chức tài chính nắm hàng ngàn tỷ USD chứng
khoán đó không bán được, mất khả năng thanh khoản và mất cả khả năng thanh
toán dẫn tới gục ngã hoặc phá sản.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu này bắt đầu từ nước Mỹ mà nguyên nhân là do
tỷ lệ tiết kiệm cá nhân thấp, nợ nước ngoài khổng lồ, khủng hoảng nợ dưới chuẩn
quá lớn và khủng hoảng bất động sản. Cuộc khủng hoảng tài chính này đưa nước
Mỹ rơi vào suy thoái, Nhật Bản, Tây Âu tăng trưởng âm, các nước công nghiệp rơi
vào tình trạng của Nhật Bản những năm 90 là lãi suất 0% và giá cả giảm xuống
không có tăng trưởng. Các nền kinh tế có mức tăng trưởng âm đứng đầu là Anh (1,3%), Đức (-0,8%), Mỹ và Tây Ban Nha (-0,7%), một số nước như Nga cũng chỉ
Tổng quan về thị trường bảo hiểm Việt Nam trước khủng hoảng kinh tế năm
2008:
Tính đến cuối năm 2008, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có:
- 22 DNBH phi nhân thọ
- 9 DNBH nhân thọ
- 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm
- 9 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động.
Trên thị trường hiện có hơn 100 loại sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, khoảng
60 sản phẩm BHNT đang được chào bán. Nếu như năm 2003, doanh thu phí bảo
hiểm toàn thị trường đạt mức 10.390 tỷ đồng thì đến năm 2008, con số này ước đạt
19.600 tỷ đồng (gấp 1,87 lần so với năm 2003). Cùng với sự tăng trưởng cao và
liên tục qua các năm về doanh thu phí bảo hiểm, doanh thu từ hoạt động đầu tư
của các DNBH cũng tăng lên tương ứng. Năm 2003, doanh thu từ hoạt động đầu tư
của các DNBH mới chỉ đạt 1.046 tỷ đồng, đến năm 2008 ước đạt 6.014 tỷ đồng.
Ngoài ra, hoạt động tái bảo hiểm cũng có những chuyển biến rõ nét. Cơ cấu phí
nhận tái bảo hiểm từ thị trường nước ngoài đang có xu hướng tăng lên và cơ cấu
phí nhượng tái bảo hiểm ra nước ngoài lại có xu hướng giảm đi.
Những kết quả đạt được của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm
qua phải kể đến là:
- Đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước. Điều này được thể hiện ở bảng sau:
- Do số lượng DNBH tham gia thị trường ngày càng tăng, đã làm cho thị trường
luôn có sự cạnh tranh sôi động. Điều này đã buộc các DNBH phải tìm ra các giải
pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Những giải pháp mà các
DNBH thường áp dụng là nâng cao năng lực tài chính, đa dạng hóa sản phẩm, cải
tiến công nghệ quản lý, chú trọng phát triển thương hiệu… Quá trình này diễn ra
liên tục, vì vậy đã làm cho thị trường càng sôi động hơn và năng lực cạnh tranh của
từng DNBH cũng được cải thiện đáng kể.
- Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh đã và đang diễn ra khá phổ biến, hiện
tượng trục lợi bảo hiểm có xu hướng ngày càng tăng. Thực tế này diễn ra dưới
nhiều hình thức khác nhau, như: giảm phí bảo hiểm tới mức không được phép, mở
rộng điều khoản bảo hiểm không đúng quy tắc và trả hoa hồng trực tiếp cho khách
hàng. Thậm chí còn dùng các áp lực chính trị can thiệp để lôi kéo khách hàng, ép
khách hàng tham gia bảo hiểm bằng nhiều cách khác nhau. Mặc dù thị trường còn
non trẻ, song đã sớm xuất hiện các hiện tượng trục lợi bảo hiểm. Theo thống kê sơ
bộ của Prudential và Manulife năm 2007 trong tổng số 11.001 trường hợp yêu cầu
trả tiền Bảo hiểm mà các Công ty này nhận được, tỷ lệ số vụ xác minh có dấu hiệu
trục lợi và đã từ chối trả tiền bảo hiểm là 2%. Hình thức trục lợi phổ biến trên thị
trường bảo hiểm Việt Nam là khai báo sai sự thật, giả mạo hồ sơ, giấy tờ, thậm chí
tự gây thương tích để đòi tiền bảo hiểm.
- Quy mô thị trường bảo hiểm còn nhỏ bé, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát
triển kinh tế – xã hội. Hạn chế này thể hiện khá rõ ở tỷ trọng doanh thu phí bảo
hiểm trong GDP có tăng song vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực và
quốc tế (Singapo là 6,00%; Đài loan 6,9%; Thái Lan 4,7%; mức trung bình trên thế
giới là 7,8%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là khá cao, dân số đông
nhưng đến cuối năm 2008 các DNBH nhân thọ mới chỉ khai thác được hơn 9 triệu
hợp đồng. Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ cũng trong tình trạng tương tự.
Chính vì tỷ trọng tham gia bảo hiểm còn nhỏ bé, quy luật "Số đông bù số ít" trong
bảo hiểm bị hạn chế, cho nên khi rủi ro xảy ra, tỷ lệ khách hàng được hưởng quyền
lợi bảo hiểm thấp, hậu quả của rủi ro chưa thực sự được san sẻ.
Nguyên nhân của những hạn chế trên có rất nhiều, song những nguyên nhân
chính phải kể đến là hệ thống luật pháp còn thiếu và chưa đồng bộ. Công tác quản
lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm chưa theo kịp sự phát triển của thị trường.
Phương thức kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh đối với các DNBH còn nặng
về thủ tục hành chính. Về phía các DNBH, do chỉ chú trọng đến mục tiêu tăng
trưởng và chiếm lĩnh thị phần cho nên chính sách của họ chỉ tập trung vào khâu
khai thác những sản phẩm truyền thống. Những sản phẩm mới, những thị trường
mới chưa được quan tâm đúng mức. Trình độ quản lý, trình độ chuyên môn và đạo
Ngoài ra, do tình hình lạm phát bất ổn cho nên nhiều dự án đã bị hoãn lại hoặc
bị Chính phủ cắt bỏ (khoảng 1.700 dự án), thực trạng này đã ảnh hưởng khá nhiều
đến khả năng khai thác để tăng doanh thu phí của các DNBH phi nhân thọ. Các
nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu chịu sự tác động phải kể đến là: bảo hiểm xây dựng và
lắp đặt; bảo hiểm hoả hoạn; bảo hiểm thiết bị điện tử; bảo hiểm đóng tàu v.v…
3. Thu nhập thực tế của người dân giảm:
Hậu quả của khủng hoảng đã làm cho thu nhập thực tế của người dân trên thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng giảm đi cả về tương đối và tuyệt đối. Bởi
vậy, họ phải thắt chặt chi tiêu. Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách
du lịch là người Việt Nam cũng đang có xu hướng giảm đi tương đối. Thực trạng
này đã ảnh hưởng đáng kể đến thị trường bảo hiểm nhân thọ và các nghiệp vụ bảo
hiểm con người phi nhân thọ, như: nghiệp vụ bảo hiểm du lịch, bảo hiểm tai nạn;
bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật v.v…
Ngoài ra, trong lĩnh vực BHNT còn có một lượng đáng kể khách hàng tuy đã
tham gia bảo hiểm, song do tình hình lạm phát diễn biến phức tạp và đời sống gặp
nhiều khó khăn, đã xin huỷ bỏ hợp đồng. Từ đó đã làm cho doanh thu phí bảo hiểm
nhân thọ tăng chậm lại.
4. Hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng:
Khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống ngân hàng và thị
trường chứng khoán toàn cầu, cho dù sự ảnh hưởng này đối với Việt Nam là chưa
thực sự nghiêm trọng. Song hệ luỵ của nó là rất đáng kể, như ảnh hưởng đến tỷ giá
hối đoái và lãi suất, đến tình trạng nợ xấu đối với các ngân hàng của Việt Nam. Chỉ
số chứng khoán nước ta luôn có chiều hướng giảm sút. Đã có dấu hiệu nhiều nhà
đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường Việt Nam. Hiện tượng này đã ảnh hưởng
ít nhiều đến khả năng đầu tư quỹ nhàn rỗi của các DNBH. Bên cạnh đó, thị trường